MSD Manual

Hãy xác nhận rằng quý vị là chuyên gia chăm sóc sức khỏe

Đang tải

Tổng quan về hội chứng viêm cầu thận

Theo

Navin Jaipaul

, MD, MHS,

  • Loma Linda University School of Medicine
  • VA Loma Linda Healthcare System

Xem lại/Duyệt lại toàn bộ lần cuối Thg1 2018| Sửa đổi nội dung lần cuối cùng Thg1 2018
Nguồn chủ đề

Hội chứng viêm thận được chẩn đoán khi có đái máu, protein niệu các mức độ, thường là hồng cầu biến dạng và thường có trụ hồng cầu trong xét nghiệm tế bào cặn nước tiểu. Thường có 1 trong số các dấu hiệu sau: phù, tăng huyết áp, creatinin huyết thanh tăng và thiểu niệu. Nguyên nhân gồm nguyên nhân nguyên phát và thứ phát. Chẩn đoán dựa vào tiền sử, thăm khám lâm sàng và đôi khi cần sinh thiết thận. Điều trị và tiên lượng thay đổi theo nguyên nhân.

Hội chứng viêm thận là một biểu hiện của viêm cầu thận và xảy ra ở mọi lứa tuổi. Nguyên nhân khác nhau theo độ tuổi (xem Bảng: Các tổn thương cầu thận phân loại theo tuổi và triệu chứng) và cơ chế khác nhau theo nguyên nhân. Hội chứng có thể là

  • Cấp tính (creatinin huyết thanh tăng lên trong nhiều tuần hoặc ít hơn)

  • Mạn tính (suy giảm chức năng thận có thể tiến triển trong nhiều năm)

Hội chứng viêm thận cũng có thể là

  • Nguyên phát (tiên phát)

  • Thứ phát

Bảng
icon

Nguyên nhân của viêm cầu thận

Loại

Ví dụ

Nguyên phát

Tiên phát

Viêm cầu thận tơ huyết miễn dịch

Viêm cầu thận hình liềm tiên phát

Thứ phát

Vi khuẩn *

Nhiễm khuẩn MycoplasmaMycoplasmas

Nhiễm khuẩn Neisseria meningitidisBệnh Meningococcal ( não mô cầu)

Nhiễm khuẩn Salmonella typhiTổng quan về nhiễm trùng Salmonella

Nhiễm tụ cầu (đặc biệt là viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn)

Nhiễm khuẩn Streptococcus pneumoniaeNhiễm Phế Cầu Khuẩn (phế cầu)

Áp xe nội tạng (do Escherichia coli hoặc Pseudomonas, Proteus, Klebsiella hoặc Clostridium sp)

Ký sinh trùng *

Bệnh sốt rét (do Plasmodium falciparum hoặc P. malariae)

Nhiễm sán máng (do Schistosoma mansoni)

Virus *

Các nguyên nhân nhiễm trùng và sau nhiễm trùng khác

Nhiễm nấm (do Candida albicans [bệnh nấm candida] hoặc Coccidioides immitis [bệnh nấm sâu])

Bệnh mô liên kết

SLE

Các bất thường do thuốc gây ra

SLE (hiếm khi do hydralazine hoặc procainamit)

Hội chứng tan huyết ure máu cao (do quinin, cisplatin, gemcitabine hoặc mitomycin C)

Bệnh lý rối loạn tạo máu

Bệnh huyết thanh

Bệnh màng đáy cầu thận

Rối loạn di truyền

Các nguyên nhân nhiễm trùng và sau nhiễm trùng.

GN = viêm cầu thận.

Viêm cầu thận cấp

Viêm cầu thận sau nhiễm trùng là nhóm bệnh đầu tiên của viêm cầu thận cấp, nhưng viêm cầu thận cấp có thể do các bệnh lý cầu thận khác và bởi các bệnh hệ thống như bệnh mô liên kết và bệnh lý rối loạn tạo máu (xem Bảng: Nguyên nhân của viêm cầu thận).

Viêm cầu thận tiến triển nhanh (RPGN) là một viêm cầu thận cấp bắt nguồn từ tổn thương viêm cầu thận hình liềm do nhiều nguyên nhân. RPGN chẩn đoán dựa vào mô bệnh học.

Viêm cầu thận mạn

Viêm cầu thận mạn có các triệu chứng tương tự viêm cầu thận cấp nhưng tiến triển chậm và có thể gây ra protein niệu nhẹ hoặc trung bình. Ví dụ bao gồm

Cũng quan tâm

TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI

TRÊN CÙNG