MSD Manual

Hãy xác nhận rằng quý vị là chuyên gia chăm sóc sức khỏe

honeypot link

Xơ gan

Nguồn chủ đề

Xơ gan là quá trình lành tổn thương quá mức, kèm theo tích tụ quá nhiều mô liên kết trong gan. Chất nền ngoại bào sản xuất quá mức, giảm giáng hóa, hoặc cả hai. Nguyên nhân là tổn thương mạn tính, đặc biệt nếu có một tác nhân gây viêm. Bản thân quá trình xơ hóa không gây triệu chứng nhưng có thể dẫn tớităng áp lực tĩnh mạch cửa sẹo hóa làm ngăn cản dòng máu chảy qua gan hoặc xơ gan (sẹo hóa gây đảo lộn cấu trúc gan bình thường và suy giảm chức năng gan) Chẩn đoán dựa trên sinh thiết gan. Điều trị bằng điều chỉnh yếu tố nguy cơ gây xơ gan nếu có.

Trong quá trình xơ gan, mô liên kết tích tụ quá nhiều trong gan; mô này đại diện cho sẹo để đáp ứng với tổn thương tế bào gan mạn tính, lặp đi lặp lại. Thông thường, xơ hóa tiến triển, phá vỡ cấu trúc gan và cuối cùng là chức năng, là kết quả tái tạo của các tế bào gan trong việc thay thế và sửa chữa mô tổn thương. Khi sự phá hủy lan rộng xơ gan được chẩn đoán.

Nhiều loại tổn thương gan có thể gây xơ hóa (xem Bảng: Các rối loạn và thuốc có thể gây xơ hóa gan). Tự giới hạn, tổn thương gan cấp tính viêm gan vi rút A cấp tính), ngay cả khi bùng phát, không gây biến đổi cấu trúc và do đó không gây xơ hóa, mặc dù có hủy hoại tế bào gan. Trong giai đoạn ban đầu, xơ gan có thể thoái lui nếu nguyên nhân có thể tiêu diệt được ( ví dụ với sự thanh thải của virus) Sau vài tháng hoặc vài năm với tổn thương mạn tính hoặc lặp lại tổn thương, xơ hóa sẽ trở thành vĩnh viễn. Xơ hóa thậm chí phát triển nhanh hơn trong tắc nghẽn mật cơ học.

Bảng
icon

Các rối loạn và thuốc có thể gây xơ hóa gan

Bệnh do gan gây ra trực tiếp

Viêm gan tự miễn

Một số bệnh ứ đọng và sai sót bẩm sinh của sự trao đổi chất

  • Thiếu alpha-1 antitrypsin

  • Các bệnh ứ đọng đồng (ví dụ: bệnh Wilson)

  • Bất dung nạp fructose

  • Bất dung nạp galactose

  • Bệnh ứ đọng glycogen ( đặc biệt là các type III, IV, VI, IX, và X)

  • Hội chứng quá tải sắt ( hemochromatosis)

  • Các bất thường về lipid (ví dụ bệnh Gaucher)

  • Rối loạn peroxisome (ví dụ, hội chứng Zellweger)

  • Bệnh tyrosin máu

Xơ gan gan bẩm sinh

Nhiễm trùng

  • Vi khuẩn (ví dụ brucellosis)

  • Kí sinh trùng như echinococcosis

  • Viral (ví dụ viêm gan B mạn tính hoặc C *)

Viêm gan nhiễm mỡ không do rượu (NASH)

Xơ gan mật tiên phát

Xơ hóa ống mật tiên phát

Rối loạn ảnh hưởng đến dòng máu trong gan

Hội chứng Budd-Chiari

Suy tim

Bệnh tắc mạch do gan

Huyết khối tĩnh mạch cửa

Thuốc và hóa chất

Rượu*

Amiodarone

Chlorpromazine

Isoniazid

Methotrexate

Methyldopa

Oxyphenisatin

Tolbutamit

Tắc nghẽn cơ học

Sẹo do tiền sử phẫu thuật gan

Hẹp đường mật do sỏi.

* Nguyên nhân phổ biến nhất.

Đôi khi gây ra bởi alkaloid pyrrolizidine, có trong thảo dược như trà bụi.

Sinh lý bệnh

Kích hoạt các tế bào sao quanh gan (các tế bào Ito chứa chất béo) bắt đầu sự xơ hóa. Các tế bào này và các tế bào liền kề tăng sinh, các tế bào co lại, gọi là nguyên bào sợi cơ. Các tế bào này sản sinh dư thừa các chất bất thường ở gian bào (bao gồm collagen, các glycoprotein khác và glycans) và protein matricellular. Tế bào Kupffer (đại thực bào), tế bào gan bị tổn thương, tiểu cầu, bạch cầu tập hợp lại. Kết quả là phản ứng O2 các loại tế và các chât trung gian gây viêm (ví dụ, yếu tố tăng trưởng có nguồn gốc tiểu cầu, các yếu tố tăng trưởng chuyển đổi, yếu tố tăng trưởng mô liên kết) được giải phóng. Vì vậy, kết quả kích hoạt tế bào sao tao ra các chất nền ngoại bào bất thường cả về thành phần và chất lượng.

Nguyên bào sợi cơ, kích thích bởi endothelin-1, góp phần tăng kháng trở tĩnh mạch cửa và tăng số lượng chất nền bất thường. Các vùng sợi xen với các nhánh tính mạch cửa và tĩnh mạch gan, vượt qua các tế bào gan và làm hạn chế cấp máu cho chúng. Do đó, xơ hóa góp phần thiếu máu tế bào gan (gây ra rối loạn chức năng và tăng áp lực tĩnh mạch cửa) Mức độ thiếu máu cục bộ và tăng áp lực tĩnh mạch cửa sẽ xác định gan bị thiếu máu như thế nào. Ví dụ, xơ gan bẩm sinh ảnh hưởng đến các nhánh tĩnh mạch cửa, phần lớn không cấp máu cho nhu mô. Hậu quả là tăng áp lực tĩnh mạch cửa mà không gây suy giảm chức năng tế bào gan

Triệu chứng và Dấu hiệu

Gan tự xơ hóa không gây triệu chứng. Các triệu chứng có thể là kết quả của rối loạn gây ra bởi xơ hóa, hoặc quá trình xơ hóa tiến triển thành xơ gan, từ hậu quả của tăng áp lực tĩnh mạch cửa. Những triệu chứng này bao gồm chảy máu tĩnh mạch, cổ chướng, và bệnh não gan. Xơ gan có thể gây suy gan và có thể gây tử vong do gan.

Chẩn đoán

  • Đánh giá lâm sàng

  • Đôi khi xét nghiệm máu và / hoặc các chẩn đoán hình ảnh không xâm lấn

  • Đôi khi sinh thiết gan

Xơ gan được nghi ngờ nếu bệnh nhân có bệnh gan mạn tính (ví dụ:, viêm gan virut mạn tính viêm gan B và C [xem Bảng: Đặc điểm của Vi-rút Viêm Gan], bệnh gan do rượu) hoặc nếu kết quả của Xét nghiệm chức năng gan là bất thường; trong những trường hợp như vậy, các xét nghiệm được thực hiện để kiểm tra xơ hóa, và nếu có xơ hóa, để xác định mức độ nghiêm trọng của bệnh (giai đoạn). Biết được giai đoạn xơ hóa có thể hướng đến chỉ định y khoa Ví dụ, sàng lọc cho ung thư tế bào gan và cho giãn tĩnh mạch dạ dày thực quản được chỉ định nếu xơ gan được xác nhận, nhưng thường không được chỉ định cho xơ gan nhẹ hoặc trung bình. Còn nếu Sinh thiết gan không phát hiện xơ hóa tiến triển ở bệnh nhân viêm gan C, nhiều bác sĩ lâm sàng hoãn điều trị bằng interferon bởi vì họ dự đoán sẽ có thêm các thuốc có hiệu quả và ít độc hơn.

Các xét nghiệm được sử dụng để xác định giai đoạn xơ hóa bao gồm các xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh không xâm lấn, xét nghiệm máu, sinh thiết gan, và xét nghiệm mới đánh giá độ đàn hồi gan.

Xét nghiệm hình ảnh không xâm lấn bao gồm siêu âm thông thường, CT và MRI và nên dựa vào các hình ảnh cắt ngang. Những xét nghiệm này có thể phát hiện bằng chứng xơ gan và tăng áp lực tĩnh mạch cửa, chẳng hạn như lách to và giãn tĩnh mạch. Tuy nhiên, chúng không nhạy đối với xơ hóa trung bình hoặc xơ hóa tiến triển nếu không có lách to và giãn tĩnh mạch. Mặc dù xơ hóa có thể có đặc điểm làm thay đổi mức cản âm trên siêu âm hoặc không đồng nhất của tín hiệu trên CT, những phát hiện các đặc điểm này không đặc hiệu và có thể chỉ ra chỉ có mỡ trong nhu mô gan.

Các công nghệ mới có thể làm tăng độ chính xác của siêu âm và MRI để phát hiện xơ hóa hoặc xơ gan sớm; bao gồm siêu âm đo độ đàn hồi gan, cộng hưởng từ đàn hồi, và bức xạ xung lực âm thanh. Đối với các xét nghiệm này, sự rung động âm thanh được áp dụng cho vùng bụng với một đầu dò. Đo lường những rung động của nhu mô gan một cách nhanh chóng như thế nào - một dấu hiệu của cứng như thế nào (ví dụ, xơ gan) là gan.

Sinh thiết gan vẫn là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán và phân đoạn xơ gan và để chẩn đoán rối loạn gan tiềm ẩn gây xơ hóa. Tuy nhiên, sinh thiết gan là thủ thuật xâm lấn, dẫn đến 10 đến 20% nguy cơ biến chứng nhẹ (ví dụ đau sau phẫu thuật) và 0,5 đến 1% nguy cơ biến chứng nghiêm trọng (ví dụ chảy máu nặng). Ngoài ra, sinh thiết gan bị giới hạn bởi sai số khi lấy mẫu và chưa đồng thuận hoàn toàn trong việc giải thích các phát hiện của mô bệnh học. Vì vậy, sinh thiết gan có thể không phải lúc nào cũng được thực hiện.

Xét nghiệm máu bao gồm các dấu ấn có sẵn kết hợp dấu ấn gián tiếp (ví dụ, bilirubin huyết thanh) và các dấu ấn trực tiếp của chức năng gan. Các dấu ấn trực tiếp là các chất liên quan đến quá trình tổng hợp các chất lắng đọng ngoài gian bào hoặc các cytokin là các chất lắng đọng ngoài gian tế bào. Những dấu ấn này được sử dụng tốt nhất để phân biệt giữa 2 mức độ xơ hóa: vắng mặt đến mức tối thiểu và trung bình đến nặng; chúng không phân biệt chính xác giữa các mức độ xơ hóa từ trung bình đến nặng. Vì vậy, nếu nghi ngờ xơ hóa, một phương pháp tiếp cận là bắt đầu với một trong những dấu ấn này và sau đó làm sinh thiết gan khi các dấu ấn chỉ ra cho thấy xơ hóa mức độ từ vừa đến nặng.

Những xét nghiệm nào được thực hiện có thể phụ thuộc vào mức độ nghi ngờ trên lâm sàng, dựa trên thăm khám lâm sàng, bao gồm cả kết quả xét nghiệm chức năng gan. Ví dụ, các xét nghiệm máu không xâm lấn có thể được sử dụng để xác định liệu sinh thiết có được chỉ định; trong một số trường hợp, các chẩn đoán hình ảnh có thể không cần thiết.

Điều trị

  • Điều trị nguyên nhân

Vì xơ hóa là hậu quả phản ứng đối với tổn thương gan, nên điều trị ban đầu nên tập trung vào nguyên nhân (loại bỏ nguyên nhân gây tổn thương gan). Việc điều trị như vậy có thể bao gồm loại bỏ vi-rút viêm gan loại B hoặc vi rút viêm gan C trong bệnh viêm gan virus mạn tính, kiêng rượu trong bệnh gan do rượu, loại bỏ các kim loại nặng như sắt trong bệnh quá tải sắt hoặc đồng trong bệnh Wilson, và giải phóng ống mật trong tắc nghẽn đường mật. Các phương pháp điều trị như vậy có thể ngăn ngừa xơ hóa tiến triển và, ở một số bệnh nhân, cũng làm đảo ngược một số thay đổi do xơ hóa.

Các phương pháp điều trị nhằm làm đảo ngược sự xơ hóa thường là quá độc khi điều trị lâu dài (ví dụ, corticosteroid, penicillamine) hoặc không có hiệu quả đã được chứng minh (ví dụ colchicine). Các thuốc chống xơ hóa khác đang được nghiên cứu. Việc sử dụng đồng thời nhiều thuốc chống xơ hóa có thể sẽ mang lại nhiều lợi ích nhất. Silymarin, có trong cây kế sữa, là một loại thuốc thay thế phổ biến dùng để điều trị xơ gan. Dường như an toàn nhưng thiếu hiệu quả.

Những điểm chính

  • Tự hạn chế, tổn thương gan cấp tính (ví dụ, do viêm gan vi rút A cấp tính), ngay cả khi bùng phát, xu hướng không gây xơ hóa.

  • Nguyên nhân phổ biến nhất của xơ gan là viêm gan B và C và lạm dụng rượu.

  • Xơ hóa không gây triệu chứng trừ khi nó tiến triển đến xơ gan.

  • Sinh thiết gan, mặc dù không hoàn hảo nhưng nó vẫn là tiêu chuẩn vàng.

  • Xét nghiệm không xâm lấn, bao gồm chẩn đoán hình ảnh siêu âm và chẩn đoán hình ảnh cộng hưởng từ, ngày càng trở nên quan trọng.

  • Điều trị nguyên nhân xơ hóa.

Các chuyên gia đọc thêm

Cũng quan tâm

TRÊN CÙNG