honeypot link

MSD Manual

Hãy xác nhận rằng quý vị là chuyên gia chăm sóc sức khỏe

Các rối loạn trầm cảm

Theo

William Coryell

, MD, Carver College of Medicine at University of Iowa

Xem lại/Duyệt lại toàn bộ lần cuối Thg8 2016| Sửa đổi nội dung lần cuối cùng Thg8 2016
Nguồn chủ đề

Các rối loạn trầm cảm được đặc trưng bởi buồn trầm trọng hoặc dai dẳng đủ để ảnh hưởng vào hoạt động chức năng và thường là do giảm sự quan tâm hoặc thích thú trong các hoạt động. Nguyên nhân chính xác không rõ nhưng có thể liên quan đến việc di truyền, thay đổi nồng độ các chất dẫn truyền thần kinh, chức năng của hormon thần kinh bị thay đổi và các yếu tố tâm lý xã hội. Chẩn đoán dựa trên tiền sử. Điều trị thường bao gồm thuốc, trị liệu tâm lý, hoặc cả hai và đôi khi trị liệu shock điện.

Thuật ngữ trầm cảm thường được dùng để chỉ bất kỳ rối loạn trầm cảm nào. Một số được phân loại trong Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders, Ấn bản thứ năm (DSM-5) bởi các triệu chứng cụ thể:

Các loại khác được phân loại theo bệnh nguyên:

Các rối loạn trầm cảm xảy ra ở mọi lứa tuổi nhưng thường xảy ra ở giữa tuổi vị thành niên, 20 tuổi, hoặc 30 tuổi. Ở những cơ sở chăm sóc ban đầu, khoảng 30% bệnh nhân có triệu chứng trầm cảm, nhưng < 10% có trầm cảm chủ yếu.

Mất tinh thần và thương tiếc.

Thuật ngữ trầm cảm thường được sử dụng để miêu tả giảm khí sắc hoặc nản lòng do những thất vọng (ví dụ tai họa tài chính, thiên tai, bệnh nặng) hoặc những mất mát (ví dụ như cái chết của người thân). Tuy nhiên, các thuật ngữ chuẩn hơn cho những loại khí sắc như vậy là mất tinh thần và sự thương tiếc

Những cảm xúc tiêu cực về mất tinh thần và thương tiếc, không giống như những những cảm xúc của trầm cảm, xảy ra trong những đợt có xu hướng bị ràng buộc với những suy nghĩ hoặc việc nhắc lại về sự kiện gợi nhớ, được giải quyết khi các bối cảnh hoặc sự kiện cải thiện, có thể rải rác các giai đoạn cảm xúc tích cực và hài hước, và không đi cùng với việc bị xâm chiếm bởi cảm giác vô dụng và ghét bỏ bản thân. Giảm khí sắc thường kéo dài nhiều ngày hơn là hàng tuần hoặc hàng tháng, và suy nghĩ tự sát và mất chức năng kéo dài thì ít xảy ra hơn.

Tuy nhiên, các sự kiện và stress gây ra sự mất tinh thần và thương tiếc cũng có thể gây ra một giai đoạn trầm cảm chủ yếu, đặc biệt ở những người dễ bị tổn thương (ví dụ những người có tiền sử hoặc tiền sử gia đình trầm cảm).

Bệnh nguyên

Nguyên nhân chính xác gây các rối loạn trầm cảm là không rõ ràng, nhưng có sự đóng góp bởi yếu tố di truyền và môi trường.

Tính di truyền chiếm khoảng một nửa bệnh nguyên (ít hơn trong trầm cảm khởi phát muộn). Do đó, trầm cảm phổ biến hơn trong số các thân nhân bậc 1 của bệnh nhân trầm cảm, và phù hợp với các cặp song sinh cùng trứng. Cùng với đó, các yếu tố di truyền có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của phản ứng trầm cảm đối với các sự kiện bất lợi.

Các lý thuyết khác tập trung vào sự thay đổi nồng độ các chất dẫn truyền thần kinh, bao gồm sự điều hòa bất thường về dẫn truyền thần kinh hệ cholinergic, catecholaminergic (noradrenergic hoặc dopaminergic), và serotonergic (5-hydroxytryptamine). Rối loạn điều chỉnh các nội tiết tố thần kinh có thể là một yếu tố, đặc biệt nhấn mạnh đến 3 trục: dưới đồi-tuyến yên-tuyến thượng thận, dưới đồi-tuyến yên-tuyến giáp, và hormon tăng trưởng.

Các yếu tố tâm lý xã hội dường như cũng có liên quan. Những stress lớn trong cuộc sống, đặc biệt là sự chia rẽ và mất chủ yếu, thường đi trước những giai đoạn trầm cảm lớn; tuy nhiên, các sự kiện như vậy thường không gây trầm cảm kéo dài, trầm trọng trừ những người có xu hướng rối loạn khí sắc.

Những người có một giai đoạn trầm cảm lớn có nguy cơ cao hơn của các giai đoạn tiếp theo. Những người ít hồi phục và / hoặc những người có khuynh hướng lo lắng có thể sẽ có nguy cơ phát triển chứng rối loạn trầm cảm. Những người như vậy thường không phát triển các kỹ năng xã hội để thích nghi với áp lực cuộc sống. Trầm cảm cũng có thể phát triển ở những người có rối loạn tâm thần khác.

Phụ nữ có nguy cơ cao hơn, nhưng không có lý thuyết giải thích tại sao. Các yếu tố có thể bao gồm:

  • Phơi nhiễm nhiều hơn hoặc đáp ứng mạnh với stress hàng ngày

  • Nồng độ monoamine oxidase cao hơn (enzym có vai trò làm giảm các chất dẫn truyền thần kinh được coi là quan trọng đối với khí sắc)

  • Tỷ lệ rối loạn chức năng tuyến giáp cao hơn

  • Sự thay đổi nội tiết xảy ra với kinh nguyệt và mãn kinh

Trong trầm cảm khởi phát thời kì sinh nở, các triệu chứng phát triển trong lúc mang thai hoặc trong vòng 4 tuần sau khi sinh (trầm cảm sau sinh); những thay đổi nội tiết đã được chỉ ra là có liên quan, nhưng nguyên nhân cụ thể thì không rõ.

Trong rối loạn cảm xúc theo mùa, các triệu chứng phát triển theo mùa, điển hình là vào mùa thu hoặc mùa đông; rối loạn có xu hướng xảy ra trong khí hậu với mùa đông dài hoặc khắc nghiệt.

Triệu chứng hoặc rối loạn trầm cảm có thể đi kèm với các rối loạn cơ thể khác, bao gồm rối loạn về tuyến giáp, rối loạn về tuyến thượng thận, u não lành tính hoặc ác tính, đột quỵ, AIDS, bệnh Parkinson, và xơ cứng rải rác (xem Bảng: Một số nguyên nhân của triệu chứng trầm cảm và hưng cảm).

Một số loại thuốc, như corticosteroids, một số beta-blockers, interferon, và reserpin, cũng có thể dẫn đến rối loạn trầm cảm. Lạm dụng một số loại chất giải trí (ví dụ: rượu, amphetamin) có thể dẫn đến hoặc đi kèm với trầm cảm. Tác dụng độc hoặc cai thuốc có thể gây ra các triệu chứng trầm cảm tạm thời.

Bảng
icon

Một số nguyên nhân của triệu chứng trầm cảm và hưng cảm

Loại rối loạn

Trầm cảm

Hưng cảm

Mô liên kết

SLE

SLE

Nội tiết

Cường giáp

Nhiễm trùng

Liệt cơ nhẹ lan tỏa (Giang mai thần kinh nhu mô)

Lao

viêm gan virus

viêm phổi virus

AIDS

Liệt cơ nhẹ lan tỏa

Cúm

Viêm não St Louis

Thuộc về u

Ung thư biểu mô lan tỏa

Thuộc về thần kinh

Đột quỵ (Thùy thái dương trái)

Các cơn co giật cục bộ phức tạp (thùy thái dương)

U gian não

Chấn thương đầu

Bệnh xơ cứng rải rác

Đột quỵ

Dinh dưỡng

Khác *

Suy thận hoặc là suy gan

Thuốc

Amphotericin B

Thuốc trừ sâu kháng Cholinesterase

Barbiturat

Thuốc chẹn beta (một số, ví dụ, propranolol)

Cimetidin

Corticosteroid

Cycloserin

Liệu pháp Estrogen

Indomethacin

Interferon

thủy ngân

Methyldopa

Metoclopramid

Thuốc uống tránh thai

Phenothiazin

Reserpin

Thali

Vinblastin

Vincristin

Amphetamin

Một số thuốc chống trầm cảm

Bromocriptin

Cocain

Corticosteroid

Levodopa

Metylphenidat

Thuốc kích thích thần kinh giao cảm

Tâm thần

Rối loạn sa sút trong giai đoạn đầu

* Trầm cảm thường xảy ra trong những rối loạn này, nhưng không có mối quan hệ nhân quả nào được thiết lập.

Triệu chứng và Dấu hiệu

Trầm cảm gây ra các rối loạn nhận thức, tâm thần vận động và các dạng rối loạn chức năng khác (ví dụ như tập trung kém, mệt mỏi, mất ham muốn tình dục, mất hứng thú hoặc thích thú trong hầu hết các hoạt động trước đây, rối loạn giấc ngủ) cũng như tâm trạng chán nản. Những người bị rối loạn trầm cảm thường có những suy nghĩ tự sát và có thể nỗ lực tự sát Các triệu chứng hoặc rối loạn tâm thần khác (ví dụ như lo âu và các cơn hoảng sợ) thường tồn tại cùng nhau, đôi khi làm phức tạp chẩn đoán và điều trị.

Bệnh nhân có tất cả các hình thức trầm cảm thường có xu hướng lạm dụng rượu hoặc các loại thuốc giải trí khác để tự điều trị rối loạn giấc ngủ hoặc các triệu chứng lo lắng; tuy nhiên, trầm cảm là nguyên nhân ít phổ biến hơn của nghiện rượu và lạm dụng ma túy hơn mà trước đó đã từng được nghĩ. Bệnh nhân cũng có xu hướng trở thành những người hút thuốc nhiều và bỏ bê sức khoẻ, tăng nguy cơ phát triển hoặc tiến triển các rối loạn khác (ví dụ COPD).

Trầm cảm có thể làm giảm đáp ứng miễn dịch bảo vệ cơ thể. Trầm cảm làm tăng nguy cơ rối loạn tim mạch, nhồi máu cơ tim và đột quỵ, có thể bởi vì trầm cảm, cytokin và các yếu tố làm tăng đông máu tăng cao và sự biến đổi nhịp tim giảm - tất cả các yếu tố nguy cơ tiềm ẩn đối với rối loạn tim mạch.

Trầm cảm điển hình (rối loạn đơn cực)

Bệnh nhân có thể xuất hiện đau khổ, mắt rền rĩ, lông mày lằn rãnh, góc dưới của miệng hạ xuống, tư thế sụp, giao tiếp bằng mắt kém, thiếu biểu hiện trên khuôn mặt, cử động cơ thể ít và thay đổi giọng nói (ví dụ: giọng mềm, thiếu thân tình, sử dụng của từ đơn âm). Vẻ ngoài có thể bị nhầm lẫn với bệnh Parkinson. Ở một số bệnh nhân, khí sắc trầm đến mức nước mắt khô; họ báo cáo rằng họ không thể trải nghiệm cảm xúc thông thường và cảm thấy rằng thế giới đã trở nên thiếu màu săc và không có sự sống.

Dinh dưỡng có thể bị suy giảm nghiêm trọng, cần can thiệp ngay lập tức.

Một số bệnh nhân trầm cảm không chú ý đến vệ sinh cá nhân hoặc thậm chí con cái họ, những người thân yêu khác, hoặc vật nuôi.

Đối với chẩn đoán, ≥ 5 triệu chứng sau phải xuất hiện gần như mỗi ngày trong cùng thời kỳ 2 tuần, và một trong số đó phải là khí sắc trầm hoặc mất các quan tâm thích thú:

  • Khí sắc trầm hầu hết trong ngày

  • Giảm sự quan tâm hoặc thích thú trong tất cả hoặc gần như tất cả các hoạt động trong hầu hết thời gian trong ngày

  • Tăng cân đáng kể (> 5%) hoặc giảm cân hoặc tăng khẩu vị

  • Mất ngủ (thường mất ngủ kiểu tỉnh giấc giữa đêm ) hoặc chứng ngủ nhiều

  • Kích động hoặc chậm chạp tâm thần vận động được quan sát bởi người khác của người khác (không phải tự nhận xét)

  • Mệt mỏi hoặc mất năng lượng

  • Cảm giác vô dụng hoặc tội lỗi quá mức hoặc không thích hợp

  • Suy giảm khả năng suy nghĩ hoặc tập trung hoặc do dự thiếu quyết đính

  • Những suy nghĩ lặp lại về cái chết hoặc tự sát, toan tự sát, hoặc một kế hoạch cụ thể để tự sát

Rối loạn trầm cảm dai dẳng

Triệu chứng trầm cảm kéo dài 2 năm mà không thuyên giảm được phân loại là rối loạn trầm cảm dai dẳng (PDD), một thể loại hợp nhất các chứng rối loạn trước đây gọi là rối loạn trầm cảm điển hình mạn tính và loạn khí sắc

Triệu chứng thường bắt đầu một cách âm thần trong thời thanh niên và có thể tồn tại trong nhiều năm hoặc nhiều thập niên. Số lượng các triệu chứng thường dao động ở trên và dưới ngưỡng trầm cảm điển hình.

Những bệnh nhân bị ảnh hưởng có thể thường ảm đạm, bi quan, mất hài hước, thụ động, thờ ơ, sống nội tâm, tự phán xét bản thân hoặc người khác quá mức, và phàn nàn. Bệnh nhân PDD cũng có nhiều khả năng bị rối loạn lo âu bên dưới, sử dụng chất gây nghiện hoặc rối loạn nhân cách (ví dụ: rối loạn nhân cách ranh giới).

Để chẩn đoán, bệnh nhân phải có khí sắc trầm trong hầu hết các ngày trong thời gian ≥ 2 năm cộng với ≥ 2 trong số những triệu chứng sau:

  • Chán ăn hoặc ăn quá nhiều

  • Mất ngủ hoặc ngủ quá nhiều

  • Giảm năng lượng hoặc mệt mỏi

  • Lòng tự trọng thấp

  • Kém tập trung hoặc khó khăn trong việc đưa ra các quyết định

  • Cảm giác tuyệt vọng

Rối loạn khó chịu tiền kinh nguyệt

Rối loạn khó chịu tiền kinh nguyệt liên quan tới các triệu chứng khí sắc và lo âu mà có liên quan rõ ràng đến chu kỳ kinh nguyệt, khởi phát trong giai đoạn tiền kinh nguyệt và khoảng thời gian không triệu chứng sau khi có kinh nguyệt. Triệu chứng phải xuất hiện trong hầu hết các chu kỳ kinh nguyệt trong năm qua.

Các biểu hiện tương tự như các biểu hiện của hội chứng tiền kinh nguyệt nhưng nghiêm trọng hơn, gây ra tình trạng đau khổ đáng kể về mặt lâm sàng và / hoặc sự suy giảm đáng kể về chức năng xã hội hoặc nghề nghiệp. Rối loạn có thể bắt đầu bất cứ lúc nào sau khi bắt đầu lần đầu có kinh nguyệt; nó có thể tồi tệ hơn như khi mãn kinh nhưng sẽ chấm dứt sau khi mãn kinh. Tỷ lệ hiện mắc được ước đoán từ 2 đến 6% ở giai đoạn kinh nguyệt của phụ nữ trong khoảng thời gian 12 tháng.

Đối với chẩn đoán, bệnh nhân phải có ≥ 5 triệu chứng trong tuần trước khi có kinh nguyệt. Triệu chứng phải bắt đầu thuyên giảm trong vòng vài ngày sau khi bắt đầu kinh nguyệt và đến mức tối thiểu hoặc biến mất hoàn toàn trong tuần ngay sau khi có kinh nguyệt. Các triệu chứng phải bao gồm ≥ 1 trong số các triệu chứng sau:

  • Thay đổi khí sắc đáng kể (ví dụ, đột nhiên cảm thấy buồn hoặc khóc)

  • Bị kích thích hoặc tức giận hoặc xung đột với người khác đáng kể.

  • Khí sắc giảm đáng kể, cảm giác tuyệt vọng, hoặc những suy nghĩ tự hối lỗi

  • Lo âu, căng thẳng hoặc dễ cáu đáng kể

Ngoài ra, phải có ≥ 1 trong số những điều dưới đây:

  • Giảm sự quan tâm trong các hoạt động thông thường

  • Khó tập trung

  • Giảm năng lượng hoặc mệt mỏi

  • Sự thay đổi đáng kể trong cảm giác ngon miệng, ăn quá nhiều hoặc xung động thèm thức ăn cụ thể

  • Ngủ nhiều hoặc mất ngủ

  • Cảm thấy quá tải hoặc không kiểm soát

  • Các triệu chứng cơ thể như tức ngực hoặc sưng, đau khớp hoặc cơ, cảm giác bị phát phì và tăng cân

Rối loạn trầm cảm khác

Các nhóm triệu chứng có đặc điểm của một rối loạn trầm cảm mà không đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn cho các rối loạn trầm cảm khác nhưng gây ra tình trạng khó chịu và suy giảm chức năng đáng kể trên lâm sàng được phân loại như rối loạn trầm cảm khác (biệt định hoặc không biệt định).

Bao gồm những giai đoạn tái diễn với ≥ 4 triệu chứng trầm cảm kéo dài <2 tuần ở những người chưa bao giờ đạt được tiêu chuẩn cho rối loạn khí sắc khác (ví dụ như trầm cảm ngắn tái diễn) và giai đoạn trầm cảm kéo dài nhưng bao gồm các triệu chứng không đủ để chẩn đoán một rối loạn trầm cảm khác.

Các biệt định

Trầm cảm chủ yếu và rối loạn trầm cảm dai dẳng có thể bao gồm một hoặc nhiều biệt định mô tả các biểu hiện bổ sung trong giai đoạn trầm cảm:

  • Đau khổ lo lắng: Bệnh nhân cảm thấy căng thẳng và không thể nghỉ ngơi một cách bất thường; họ khó tập trung bởi vì họ lo lắng hoặc sợ rằng điều khủng khiếp có thể xảy ra, hoặc họ cảm thấy rằng họ có thể mất quyền kiểm soát bản thân họ.

  • Các đặc tính hỗn hợp: Bệnh nhân cũng có ≥ 3 triệu chứng hưng cảm hoặc hưng cảm nhẹ (ví dụ như tăng khí sắc, phóng đại, nói nhiều hơn bình thường, nhiều ý tưởng, ngủ ít).

  • U sầu: Bệnh nhân đã mất niềm vui trong hầu hết các hoạt động hoặc không đáp ứng với kích thích thường cảm thấy. Họ có thể chán nản và tuyệt vọng, cảm thấy tội lỗi quá mức hoặc không thích hợp, hoặc thức dậy sớm, chậm chạp tâm thần vận động đáng kể hoặc kích động tâm thần vận động, và chán ăn đáng kể hoặc giảm cân.

  • Không điển hình: Tâm trạng của bệnh nhân tạm thời sáng sủa lên khi phản ứng với các sự kiện tích cực (ví dụ như thăm trẻ em). Họ cũng có ≥ 2 trong số những triệu chứng sau đây: phản ứng thái quá đối với những lời phê bình hoặc từ chối, cảm giác nặng như chì (cảm giác nặng nề chủ yếu ở các chi), tăng cân hoặc tăng sự thèm ăn, và ngủ nhiều

  • Loạn thần: Bệnh nhân có những hoang tưởng và / hoặc ảo giác. Những hoang tưởng thường liên quan đến tội ác hoặc phạm tội không thể tha thứ, những rối loạn không thể chữa được hoặc đáng xấu hổ, hoặc đang bị bức hại. Ảo giác có thể là ảo thính (ví dụ, nghe những lời buộc tội hoặc chỉ trích) hoặc ảo thị. Nếu chỉ được có các giọng nói được mô tả, cần phải cân nhắc cẩn thận xem liệu tiếng nói có phải là ảo giác thực sự hay không.

  • Căng trương lực: Bệnh nhân bị chậm chạp tâm thần vận động mức độ nặng, tham gia vào các hoạt động không chủ đích và / hoặc cách biệt; một số bệnh nhân nhăn nhó và nhại lời (echolalia) hoặc nhại động tác (echopraxia).

  • Khởi phát quanh thời kì sinh nở: Khởi phát trong thời kỳ mang thai hoặc trong 4 tuần sau khi sinh. Các đặc điểm loạn thần có thể hiện diện; giết trẻ sơ sinh thường có liên quan đến các giai đoạn loạn thần liên quan đến ảo giác ra lệnh để giết trẻ sơ sinh hoặc hoang tưởng rằng trẻ sơ sinh bị xâm nhập.

  • Hình thái trầm cảm theo mùa: Các giai đoạn này xảy ra ở một thời điểm cụ thể trong năm, phần lớn thường là mùa thu hoặc mùa đông.

Chẩn đoán

  • Tiêu chuẩn lâm sàng (DSM-5)

  • CBC, chất điện giải, và TSH, vitamin B12, và folat cần được thực hiện để loại trừ các rối loạn thể chất mà có thể gây ra tình trạng trầm cảm.

Chẩn đoán rối loạn trầm cảm dựa trên việc xác định các triệu chứng và dấu hiệu và các tiêu chuẩn lâm sàng được mô tả ở trên. Để giúp phân biệt rối loạn trầm cảm với những biến đổi về khí sắc bình thường, phải có sự đau khổ hoặc suy giảm đáng kể trong các lĩnh vực xã hội, nghề nghiệp hoặc các lĩnh vực hoạt động quan trọng khác.

Có sẵn một số bảng câu hỏi ngắn để sàng lọc. Chúng giúp gợi ra một số triệu chứng trầm cảm nhưng không thể dùng đơn độc để chẩn đoán. Các câu hỏi đóng cụ thể giúp xác định bệnh nhân có các triệu chứng theo yêu cầu của tiêu chuẩn DSM-5 để chẩn đoán trầm cảm điển hình.

Mức độ nặng được xác định bởi mức độ đau và tàn tật (thể chất, xã hội, nghề nghiệp) và theo thời gian triệu chứng. Bác sĩ nên nhẹ nhàng nhưng trực tiếp hỏi bệnh nhân về bất kỳ suy nghĩ và kế hoạch nào với mục đích gây tổn hại cho bản thân hoặc người khác, bất cứ mối đe dọa và / tự sát, và các yếu tố nguy cơ khác. Loạn thần và căng trương lực gợi ý tình trạng trầm cảm nặng. Các đặc điểm u sầu gợi ý trầm cảm nặng hoặc vừa. Đồng diễn các vấn đề thể chất, rối loạn lạm dụng chất gây nghiện, và rối loạn lo âu có thể làm tăng mức độ nghiêm trọng.

Chẩn đoán phân biệt

Các rối loạn trầm cảm cần được phân biệt với sự mất tinh thần và tiếc thương. Các rối loạn tâm thần khác (ví dụ, rối loạn lo âu) có thể bắt chước hoặc che giấu chẩn đoán trầm cảm. Đôi khi có nhiều hơn một rối loạn cùng hiện diện. Trầm cảm điển hình (rối loạn đơn cực) phải được phân biệt với rối loạn lưỡng cực.

Ở bệnh nhân cao tuổi, trầm cảm có thể biểu hiện giống như sa sút (trước đây gọi là chứng giả sa sút), gây ra nhiều triệu chứng và dấu hiệu chứng mất trí chẳng hạn như chậm phát triển tâm thần và giảm tập trung. Tuy nhiên, chứng sa sút trí tuệ sớm có thể gây trầm cảm. Nói chung, khi chẩn đoán là không chắc chắn, nên điều trị rối loạn trầm cảm.

Việc phân biệt các rối loạn trầm cảm kéo dài với rối loạn do lạm dụng chất gây nghiện, như chứng loạn khí sắc, có thể rất khó khăn, đặc biệt bởi vì chúng có thể cùng tồn tại và có thể làm nặng thêm tình trạng của nhau.

Rối loạn thể chất cũng phải được loại trừ như là một nguyên nhân của các triệu chứng trầm cảm. Nhược giáp thường gây ra các triệu chứng trầm cảm và là phổ biến, đặc biệt là ở người cao tuổi. Cụ thể là, bệnh Parkinson, có thể biểu hiện với các triệu chứng giống triệu chứng trầm cảm (ví dụ mất năng lượng, thiếu biểu lộ, ít vận động). Khám thần kinh cần thực hiện kĩ càng để loại trừ rối loạn này

Test kiểm tra

Không có phát hiện trong phòng thí nghiệm là đặc trưng bệnh của rối loạn trầm cảm. Các đánh giá loạn chức năng hệ viền - gian não hiếm khi được chỉ định hoặc tỏ ra hữu ích. Tuy nhiên, xét nghiệm kiểm tra là cần thiết để loại trừ các tình trạng thể chất có thể gây ra trầm cảm. Các xét nghiệm bao gồm CBC, mức TSH, và chất điện giải thường, vitamin B12, và folat. Đôi khi việc kiểm tra việc sử dụng ma túy là cần thiết.

Điều trị

  • Nâng đỡ

  • Tâm lý trị liệu

  • Thuốc

Các triệu chứng có thể thuyên chuyển tự phát, đặc biệt khi các triệu chứng đo nhẹ hoặc có thời gian ngắn. Trầm cảm nhẹ có thể được điều trị bằng sự hỗ trợ chung và liệu pháp tâm lý. Trầm cảm vừa đến nặng được điều trị bằng thuốc, liệu pháp tâm lý, hoặc cả hai và đôi khi trị liệu bằng liệu pháp shock điện. Một số bệnh nhân cần điều trị kết hợp của thuốc. Cải thiện có thể không rõ ràng cho đến sau 1-4 tuần điều trị bằng thuốc.

Trầm cảm, đặc biệt ở những bệnh nhân đã có > 1 giai đoạn, có khả năng tái diễn; do đó, các trường hợp nặng thường đòi hỏi liệu pháp điều trị duy trì lâu dài.

Hầu hết những người bị trầm cảm được điều trị như bệnh nhân ngoại trú. Bệnh nhân có ý tưởng tự tử đáng kể, đặc biệt là khi thiếu hỗ trợ gia đình, cần phải nhập viện, cũng như những người có các triệu chứng tâm thần hoặc khiếm khuyết thể chất.

Ở bệnh nhân rối loạn lạm dụng chất gây nghiện, các triệu chứng trầm cảm thường có thể giải quyết trong vòng vài tháng ngừng sử dụng chất gây nghiện. Điều trị chống trầm cảm ít có hiệu quả hơn trong khi lạm dụng chất gây nghiện vẫn tiếp tục.

Nếu một rối loạn cơ thể hoặc là thuốc có độc tính có thể là nguyên nhân, trước tiên cần phải điều trị trực tiếp các rối loạn bên dưới. Tuy nhiên, nếu nghi ngờ chẩn đoán hoặc nếu triệu chứng không rõ ràng hoặc bao gồm ý tưởng tự sát hoặc cảm giác vô vọng, một thử nghiệm điều trị với một thuốc chống trầm cảm hoặc một thuốc chỉnh khí sắc có thể có ích.

Hỗ trợ ban đầu

Cho đến khi bắt đầu cải tiến rõ ràng, bác sĩ có thể cần phải xem bệnh nhân hàng tuần hoặc hai tuần một lần để hỗ trợ và giáo dục và theo dõi sự tiến triển. Việc gọi điện có thể hữu ích cho việc tái hẹn khám.

Bệnh nhân và người thân có thể lo lắng hoặc ngại ngần về việc có rối loạn tâm thần. Bác sĩ có thể giúp giải thích rằng trầm cảm là một rối loạn y học nghiêm trọng gây ra bởi rối loạn sinh học và cần điều trị đặc hiệu và tiên lượng điều trị là tốt. Bệnh nhân và người thân cần được trấn an rằng trầm cảm không phải phán ánh một tính cách xấu xa (ví dụ như lười biếng, yếu đuối). Nói với bệnh nhân rằng con đường phục hồi thường giao động, điều này giúp họ nhận ra vô vọng chỉ là quan điểm cá nhân và có thể giúp họ cải thiện sự tuân thủ điều trị.

Khuyến khích bệnh nhân tăng dần các hoạt động đơn giản (ví dụ như đi bộ, tập thể dục thường xuyên) và tương tác xã hội phải được cân bằng với sự thừa nhận mong muốn tránh các hoạt động. Bác sĩ có thể đề nghị bệnh nhân tránh tự đổ lỗi và giải thích rằng những tư tưởng đen tối là một phần của rối loạn và sẽ biến mất.

Tâm lý trị liệu

Nhiều thử nghiệm đối chứng cho thấy rằng liệu pháp tâm lý, đặc biệt là liệu pháp hành vi nhận thức và liệu pháp tương tác cá nhân, có hiệu quả ở những bệnh nhân rối loạn trầm cảm chủ yếu, cả về điều trị các triệu chứng cấp tính và để giảm khả năng tái phát. Bệnh nhân trầm cảm nhẹ có xu hướng có kết quả tốt hơn những bệnh nhân trầm cảm nặng hơn, nhưng phổ cải thiện sẽ cao hơn ở những người bị trầm cảm nặng hơn.

Liệu pháp điều trị bằng thuốc

Một số loại thuốc và thuốc có thể được sử dụng để điều trị trầm cảm:

Lựa chọn thuốc có thể được hướng dẫn bởi phản ứng trước đây đối với một thuốc chống trầm cảm cụ thể. Nếu không, SSRIs thường là thuốc ban đầu được lựa chọn. Mặc dù các SSRI khác nhau có hiệu quả tương đương với các trường hợp điển hình, một số tính chất của thuốc làm cho chúng ít nhiều thích hợp hơn đối với một số bệnh nhân (Thuốc chống trầm cảm).

Liệu pháp trị liệu bằng shock điện (ECT)

Những điều sau đây thường được điều trị bằng ECT nếu thuốc không có hiệu quả:

  • Trầm cảm nặng có tự sát

  • Trầm cảm với sự kích động hoặc chậm phát triển tâm thần

  • Trầm cảm có hoang tưởng

  • Trầm cảm trong thai kỳ

Bệnh nhân chống đối ăn có thể cần ECT để ngăn ngừa tử vong. ECT đặc biệt có hiệu quả đối với trầm cảm loạn thần.

Đáp ứng từ 6 đến 10 lần điều trị ECT thường tốt và có thể cải thiện cho bệnh nhân. Tái phát sau khi ECT là phổ biến, và liệu pháp dùng thuốc thường được duy trì sau khi ngừng ECT.

Liệu pháp ánh sáng

Liệu pháp ánh sáng được biết đến nhiều nhất cho trầm cảm theo mùa nhưng dường như có hiệu quả tương đương với chứng trầm cảm không theo mùa.

Điều trị có thể được thực hiện ở nhà với 2,500 đến 10,000 lux ở khoảng cách 30 đến 60 cm trong 30 đến 60 phút / ngày (lâu hơn với nguồn ánh sáng ít hơn).

Ở những bệnh nhân đi ngủ muộn vào ban đêm và dậy muộn vào buổi sáng, liệu pháp ánh sáng có hiệu quả nhất vào buổi sáng, đôi khi được bổ sung với 5 đến 10 phút phơi nhiễm giữa 3 PM và 7 PM. Đối với bệnh nhân ngủ và dậy sớm, trị liệu ánh sáng có hiệu quả nhất giữa 3 PM và 7 PM.

Các liệu pháp khác

Thuốc kích tâm thần (ví dụ, dextroamphetamin, methylphenidat) đôi khi được sử dụng, thường là cùng với thuốc chống trầm cảm; tuy nhiên, chúng chưa được nghiên cứu trong các thử nghiệm lâm sàng có đối chứng.

Thảo dược được sử dụng cho một số bệnh nhân. Cỏ St. John's có thể có hiệu quả đối với trầm cảm nhẹ, mặc dù dữ liệu là mâu thuẫn. Thảo dược St.John's có thể tương tác với các thuốc chống trầm cảm và các thuốc khác. Một số nghiên cứu đối chứng về sử dụng bổ sung omega-3, được sử dụng làm tăng hiệu quả của thuốc chính hoặc đơn trị, cho thấy rằng acid eicosapentaenoic 1 đến 2 g một lần / ngày có tác dụng hữu ích chống trầm cảm.

Kích thích thần kinh phế vị liên quan đến việc kích thích dây thần kinh phế vị từng nhịp thông qua một máy phát xung được cấy ghép. Nó có thể hữu ích cho trầm cảm kháng trị so với các phương pháp điều trị khác nhưng thường mất từ 3 đến 6 tháng để có hiệu quả.

Việc sử dụng kích thích từ xuyên sọ lặp lại (rTMS) để điều trị cấp chứng rối loạn trầm cảm chủ yếu nhận sự hỗ trợ đáng kể từ các thử nghiệm đối chứng. rTMS tần số thấp có thể được áp dụng cho vỏ não trước trán lưng bên bên phải (DLPC), và rTMS tần số cao có thể được áp dụng cho DLPC bên trái. Tác dụng phụ thường gặp nhất là nhức đầu và khó chịu ở da đầu; cả hai xảy ra thường xuyên hơn khi sử dụng tần số cao hơn tần số rTMS tần số thấp.

Kích thích não sâu hướng đến mục tiêu các hồi đai gối dưới hoặc bao trong bụng trước/bụng thể vân đã có kết quả đầy hứa hẹn trong chuỗi ca lâm sàng không đối chứng (1). Các thử nghiệm có đối chứng đang được thực hiện.

Tham khảo điều trị

  • 1. Bergfeld IO, Mantione M, Hoogendoorn MLC, et al: Deep brain stimulation of the ventral anterior limb of the internal capsule for treatment-resistant depression: A randomized clinical trial. JAMA Psychiatry 1:73(5):456–64, 2016. doi: 10.1001 / jamapsychiatry.2016.0152.

Những điểm chính

  • Trầm cảm là một rối loạn thường gặp liên quan đến khí sắc trầm và / hoặc gần như hoàn toàn mất quan tâm hoặc thích thú trong các hoạt động mà trước đây được thích; các biểu hiện cơ thể (ví dụ như thay đổi cân nặng, rối loạn giấc ngủ) và các biểu hiện nhận thức (ví dụ: khó tập trung) là phổ biến.

  • Trầm cảm có thể làm giảm đáng kể khả năng làm việc tại nơi làm việc và tương tác xã hội; nguy cơ tự sát là đáng kể.

  • Đôi khi các triệu chứng trầm cảm là do các rối loạn về thể chất (ví dụ: rối loạn tuyến giáp hoặc tuyến thượng thận, u não lành tính hoặc ác tính, đột quỵ, AIDS, bệnh Parkinson, xơ cứng rải rác) hoặc dụng một số thuốc nhất định (ví dụ như corticosteroid, một số thuốc chẹn beta, interferon, một số loại chất giải trí).

  • Chẩn đoán dựa trên tiêu chuẩn lâm sàng; rối loạn thể chất phải được loại trừ bằng cách đánh giá lâm sàng và xét nghiệm chọn lọc (ví dụ, CBC, chất điện giải, TSH, B12 và folat).

  • Điều trị liên quan đến liệu pháp tâm lý và thường là thuốc; SSRIs thường được thử đầu tiên, và nếu chúng không hiệu quả, các thuốc tác động đến serotonin và / hoặc norepinephrin khác có thể được thử.

Các chuyên gia đọc thêm

Cũng quan tâm

TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI

TRÊN CÙNG