MSD Manual

Hãy xác nhận rằng quý vị là chuyên gia chăm sóc sức khỏe

honeypot link

Tổng quan các dị tật tim mạch bẩm sinh

Nguồn chủ đề

Bệnh tim bẩm sinh (CHD) là dị tật bẩm sinh phổ biến nhất, xảy ra ở gần 1% số trẻ sinh ra sống. Trong số các dị tật bẩm sinh, bệnh tim mạch là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ nhỏ.

Nguyên nhân

Các yếu tố môi trường và di truyền góp phần vào sự phát triển của bệnh tim bẩm sinh.

Các yếu tố môi trường thường gặp bao gồm bệnh của người mẹ (ví dụ như tiểu đường, rubella, lupus ban đỏ hệ thống) hoặc các thuốc mẹ uống khi mang thai có khả năng gây ảnh hưởng đến thai nhi (như lithium, isotretinoin, thuốc chống co giật). Tuổi cha cũng có thể là một yếu tố nguy cơ.

Một số bất thường nhiễm sắc thể số, chẳng hạn như Hội chứng Down (trisomy 21), trisomy 18, trisomy 13, và Một nhiễm sấc thể X (Hội chứng Turner), có liên quan chặt chẽ với bệnh tim bẩm sinh. Tuy nhiên, những bất thường này chỉ chiếm khoảng 5% số bệnh nhân mắc bệnh tim mạch. Nhiều trường hợp khác liên quan những khiếm khuyết rất nhỏ trên nhiễm sắc thể hoặc đột biến gen đơn. Các khiếm khuyết và các đột biến nhỏ gây ra hội chứng bẩm sinh thường ảnh hưởng đến nhiều cơ quan ngoài tim. Ví dụ Hội chứng DiGeorge (mất đoạn ở 22q11.2) và hội chứng Williams-Beuren (mất đoạn nhỏ ở vị trí 7p.11.23). Các dị tật gen đơn gây các hội chứng liên quan đến CHD bao gồm đột biến ở fibrillin-1 (hội chứng Marfan), TXB5 (Hội chứng Holt-Oram), và có thể PTPN11 (Hội chứng Noonan). Các khiếm khuyết gen đơn cũng có thể không gây ra các dị tật bẩm sinh bẩm sinh

Nguy cơ tái phát của CHD trong gia đình thay đổi tùy theo nguyên nhân. Nguy cơ CHD không cao trong trường hợp đột biến mới xảy ra lần đầu tiên, từ 2 đến 5% đối với CHD do nhiều yếu tố tác động, và 50% khi CHD do đột biến gen trội trên nhiếm sắc thể thường. Điều quan trọng là xác định được các yếu tố di truyền bởi vì nhiều bệnh nhân bị bệnh tim bẩm sinh vẫn sống sót đến tuổi trưởng thành và lập gia đình.

Sinh lý bệnh

Các dị tật tim bẩm sinh được phân loại (xem Bảng: Phân loại các dị tật tim bẩm sinh *) gồm

  • tim bẩm sinh tím

  • Tim bẩm sinh không tím (shunt từ trái sang phải hoặc các tổn thương tắc nghẽn)

Hậu quả của các dị tật tim bẩm sinh rất khác nhau, từ tiếng thổi tại tim hoặc sự chênh lệch cường độ mạch ở đứa trẻ không có triệu chứng cho đến biểu hiện tím nặng, suy tim hoặc suy tuần hoàn.

Bảng
icon

Phân loại các dị tật tim bẩm sinh *

Phân loại

Ví dụ

Tim bẩm sinh tím

Tim bẩm sinh không tím

Shunt từ trái sang phải

Tổn thương tắc nghẽn

Hội chứng thiểu sản tim trái (thường biểu hiện tím, có thể mức độ tím nhẹ)

* Theo thứ tự giảm tần số.

Tim bẩm sinh shunt trái - phải

Máu có độ bão hòa oxy cao từ buồng tim trái (tâm nhĩ trái hoặc tâm thất trái) hoặc động mạch chủ đi sang buồng tim phải (tâm nhĩ phải hoặc tâm thất phải) hoặc động mạch phổi qua các lỗ thông. Ngay sau khi sinh, sức cản mạch máu phổi còn cao và dòng máu đi qua lỗ thông bị hạn chế hoặc đi 2 chiều. Tuy nhiên, trong vòng 24 đến 48 giờ đầu tiên, sức cản mạch phổi giảm dần và lượng máu đi qua lỗ thông theo chiều trái sang phải tăng lên. Lượng máu đi từ tim trái sang tim phải làm tăng lượng máu đi lên phổi và tăng áp lực động mạch phổi ở các mức độ khác nhau. Lượng máu từ trái sang phải càng nhiều thì các triệu chứng càng nghiêm trọng; nếu shunt từ trái sang phải nhỏ thường không gây ra triệu chứng.

Những dòng shunt áp lực cao (ở tầng thất hoặc tầng đại động mạch) biểu hiện rõ ràng vài ngày đến vài tuần sau sinh; dòng shunt áp lực thấp (thông liên nhĩ) biểu hiện muộn hơn. Nếu không điều trị, lưu lượng máu phổi tăng và áp lực động mạch phổi tăng có thể dẫn đến bệnh mạch máu phổi và cuối cùng Hội chứng Eisenmenger. Các shunts từ trái sang phải lớn (ví dụ, thông liên thất [VSD] lớn,còn ống động mạch [PDA] lớn làm ccho lượng máu lên phổi quá nhiều, máu trở về tim nhiều,dẫn đến dấu hiệu suy tim và chậm lớn. Shunt từ trái sang phải lớn cũng làm giảm sự giãn nở của phổi, dẫn đến thường xuyên nhiễm trùng đường hô hấp dưới.

Tổn thương tắc nghẽn

Dòng máu bị cản trở, gây ra áp lực cao khi đi qua chỗ tắc nghẽn. Kết quả của sự quá tải áp lực có thể là phì đại tâm thất và suy tim. Triệu chứng rõ nhất là nghe tim có tiếng thổi do dòng máu đi qua chỗ tắc nghẽn (hẹp). Ví dụ hẹp động mạch chủ bẩm sinh, chiếm từ 3 đến 6% các dị tật tim bẩm sinh, và hẹp động mạch phổi bẩm sinh, chiếm từ 8 đến 12%.

Tim bẩm sinh tím

Lượng máu có độ bão hòa oxy thấp được đi sang bên tim trái (qua shunt phải - trái) làm giảm bão hòa oxy trong máu động mạch hệ thống. Nếu lượng Hemogobin khử trong máu > 5 g / dl thì tím xuất hiện. Trẻ nhỏ có da tối màu thường được phát hiện tím muộn hơn. Hậu quả của tím mãn tính bao gồm đa hồng cầu, ngón tay dùi trống, huyết khối (có thể đột quỵ), rối loạn chảy máu, abces não, tăng acid uric máu. Cơn tím có thể xảy ra ở trẻ nhỏ bị tứ chứng Fallot mà chưa được sửa chữa.

Tùy thuộc vào tổn thương, lưu lượng máu phổi có thể giảm, bình thường hoặc tăng lên (thường dẫn đến suy tim hơn là tím), dẫn các mức độ khác nhau. Tiếng thổi tại tim có thể nghe được và không đặc hiệu.

Suy tim

Một số bất thường tim bẩm sinh (ví dụ, van động mạch chủ hai lá van, hẹp động mạch chủ nhẹ) không làm thay đổi đáng kể huyết động. Các bất thường khác gây quá tải áp lực hoặc khối lượng, đôi khi gây ra suy tim (HF). Suy tim xuất hiện khi cung lượng của tim không đủ đáp ứng nhu cầu trao đổi chất của cơ thể hoặc khi tim không đủ khả năng nhận lượng máu tĩnh mạch trở về, gây ứ huyết phổi (suy thất trái), phù vùng thấp hoặc các tạng trong ổ bụng (trong suy thất phải) hoặc cả hai . Suy tim ở trẻ nhũ nhi và trẻ em có nhiều nguyên nhân khác với dị tật tim bẩm sinh (xem Bảng: Nguyên nhân thường gặp của suy tim ở trẻ em).

Bảng
icon

Nguyên nhân thường gặp của suy tim ở trẻ em

Tuổi khi bắt đầu

Nguyên nhân

Trong bào thai

Thiếu máu mãn tính kéo theo suy tim tăng cung lượng

Dò động tĩnh mạch hệ thống lớn (ví dụ, dị dạng tĩnh mạch não Galen)

Nhồi máu cơ tim cấp tính sau viêm cơ tim

Nhịp tim nhanh trong thời kì bào thai

Sau sinh vài ngày

Bất kỳ ở trên

Bệnh Ebstein với hở van ba lá nặng hoặc hở phổi nặng

Cơn nhịp nhanh kịch phát trên thất ở thời kì bào thai hoặc sơ sinh

Rối loạn chuyển hóa (ví dụ, hạ đường huyết, hạ thân nhiệt, toan chuyển hóa nặng)

Tổn thương cơ tim do ngạt

thiếu máu nặng trong bào thai (phù thai)

Bất thường tĩnh mạch phổ trở về hoàn toàn với tắc nghẽn nặng (thường ở thể dưới tim)

Đến 1 tháng

Bất kỳ ở trên

Bất thường tĩnh mạch phổi trở về (với mức độ tắc nghẽn ít)

Hẹp eo động mạch chủ, có hoặc không kết hợp với bất thườngkhác.

Block nhĩ thất hoàn toàn kết hợp với các dị tật cấu trúc tim.

Tim bẩm sinh shunt trái - phải lớn ở trẻ sơ sinh non tháng (vd., còn ống động mạch)

Chuyển gốc động mạch với thông liên thất lớn

Trẻ bú mẹ (đặc biệt là 6-8 tuần)

Bất thường tĩnh mạch phổi trở về (không tắc nghẽn)

Loạn sản phế quản phổi (suy thất phải)

Rối loạn chuyển hóa hiếm (ví dụ, bệnh dự trữ glycogen)

Tim 1 thất

Nhịp tim nhanh trên thất

Trẻ nhỏ

Do bất thường ở đường hô hấp cấp tính (do tắc nghẽn đường thở trên như amidan lớn)

thấp tim cấp có viêm tim

Cao huyết áp nặng ( viêm thận cầu thận cấp)

viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn

Thiếu máu mãn tính (mức độ nặng)

bệnh cơ tim giãn

Sắt quá tải do bất thường chuyển hóa sắt (bệnh hemachromatosis) hoặc do truyền máu thường xuyên (ví dụ, thalassemia thể nặng)

Thiếu hụt dinh dưỡng

Bệnh van tim do bẩm sinh hoặc mắc phải (ví dụ, thấp tim)

Viêm cơ tim do virut

Quá tải dịch ở bệnh nhân không có bất thường tim mạch

Triệu chứng

Các biểu hiện của bệnh tim bẩm sinh rất đa dạng nhưng thường bao gồm

  • Tiếng thổi

  • TÍm

  • Suy tim

  • Mạch yếu hoặc không bắt được

Các biểu hiện lâm sàng khác có thể bao gồm suy tuần hoàn, tưới máu kém, bất thường tiếng thứ hai S2 (S2, tiếng thứ 2 tách đôi), click tống máu, nhịp ngựa phi hoặc nhịp tim không đều.

Tiếng thổi

Hầu hết bệnh tim bẩm sinh shunt trái-phải và các tổn thương tắc nghẽn gây ra tiếng thổi tâm thu. Tiếng thổi tâm thu và rung mưu rõ nhất gần bề mặt vị trí tổn thương rất hữu ích cho chẩn đoán vị trí tổn thương Sự gia tăng lưu lượng qua van phổi hoặc động mạch chủ gây ra tiếng thổi giữa tâm thu với âm ượng tăng dần sau đó giảm dần ( thổi tâm thu tống máu) Hở van nhĩ thất hoặc dòng máu đi qua thông liên thất gây tiếng thổi toàn thì tâm thu và khi cường độ mạnh thường che lấp các tiếng tim.

Còn ống động mạch thường gây ra tiếng thổi liên tục không gián đoạn bởi S2 vì máu chảy qua ống cả thì tâm thu và thì tâm trương. Tiếng thổi này gồm 2 phần, khác biệt trong thì tâm thu (khi máu chảy qua với áp lực cao) và thì tâm trương.

Tím

Tím trung ương được đặc trưng bởi tím của môi và lưỡi và / hoặc giường móng; nó có nghĩa là mức oxy trong máu thấp (thường bão hòa oxy <90%). Tím ngoại vi (tím bàn tay và bàn chân) và không có triệu chứng tím môi hoặc giường móng, thường do sự co thắt mạch máu ngoại biên, hiếm khi do thiếu oxy và là một biểu hiện có thể thấy ở trẻ sơ sinh bình thường. Trẻ lớn hơn với tím kéo dài thường gây ngón tay dùi trống.

Suy tim

Ở trẻ nhũ nhi, triệu chứng suy tim bao gồm:

  • Nhịp tim nhanh

  • Thở nhanh

  • Ăn uống khó khăn

  • Vã mồ hôi, đặc biệt khi ăn

  • Quấy khóc, cáu kỉnh

  • Gan to

Khó thở khi ăn gây ăn kém và tăng trưởng không tốt, điều này có thể nặng hơn do nhu cầu chuyển hóa tăng trong suy tim và thường xuyên nhiễm trùng đường hô hấp. Trái ngược với người lớn và trẻ lớn hơn, hầu hết trẻ nhũ nhi không có triệu chứng tĩnh mạch cổ nổi và phù vùng thấp; tuy nhiên, có thể có phù mi mắt. biểu hiện suy tim ở trẻ lớn tương tự như ở người trưởng thành.

Các biểu hiện khác

Ở trẻ sơ sinh, suy tuần hoàn có thể là biểu hiện đầu tiên của các dị tật nặng (ví dụ, hội chứng thiểu sản tim trái, hẹp động mạch chủ, gián đoạn động mạch chủ, hẹp eo động mạch chủ). Trẻ sơ sinh biểu hiện mệt nhiều, lạnh đầu chi, mạch yếu, huyết áp thấp, và giảm đáp ứng kích thích.

Đau ngực ở trẻ em thường không phải do nguyên nhân tim mạch. Ở trẻ nhũ nhi, đau ngực có thể biểu hiện bằng quấy khóc không giải thích được, đặc biệt là xuất phát bất thường của động mạch vành trái từ động mạch phổi. Ở trẻ lớn hơn và thanh thiếu niên, đau ngực do căn nguyên tim thường liên quan đến sự gắng sức và có thể là do bất thường mạch vành, viêm cơ tim, hoặc hẹp động mạch chủ nặng.

Ngất xỉu, thường không có triệu chứng cảnh báo và thường kèm theo sự gắng sức, có thể xảy ra với một số dị dạng nhất định bao gồm bệnh cơ tim, xuất phát bất thường của động mạch vành hoặc các hội chứng rối loạn nhịp tim di truyền (ví dụ:, hội chứng QT dài, Hội chứng Brugada). Trẻ em tuổi trung học tập luyện thể thao nhiều thường bị ảnh hưởng nhiều nhất.

Chẩn đoán

  • Sàng lọc bằng đo bão hòa oxy máu qua da

  • ECG và chụp X quang ngực

  • Siêu âm tim

  • Đôi khi cần chụp MRI hoặc CT tim, thông tim chụp mạch

Khi xuất hiện tiếng thổi, tím, bất thường mạch hoặc biểu hiện của suy tim gợi ý bệnh tim bẩm sinh. Ở những trẻ sơ sinh đó, siêu âm tim được thực hiện để khẳng định chẩn đoán bệnh tim bẩm sinh. Nếu chỉ có bất thường là tím, bệnh methemoglobinemia cũng cần được loại trừ.

Mặc dù siêu âm tim thường là tiêu chuẩn chẩn đoán, nhưng trong một số trường hợp, MRI tim hoặc chụp mạch bằng CT có thể làm rõ các chi tiết giải phẫu quan trọng. Đôi khi cần thông tim chụp mạch để chẩn bất thường; nó được thực hiện thường xuyên hơn cho các mục đích điều trị.

Kiểm tra trẻ sơ sinh

Các triệu chứng của bệnh tim bẩm sinh có thể là kín đáo hoặc vắng mặt ở trẻ sơ sinh, và việc phát hiện chậm chễ hoặc bỏ sót suy tim, đặc biệt là ở 10 đến 15% trẻ sơ sinh cần điều trị phẫu thuật hoặc điều trị thuốc trrong bệnh viện trong tháng đầu đời (gọi là bệnh tim bẩm sinh nặng [CCHD]), có thể dẫn đến tử vong sơ sinh hoặc bệnh nặng đáng kể. Do đó, việc sàng lọc đối với CCHD bằng cách đo độ bão hòa oxy được khuyến cáo cho tất cả trẻ sơ sinh trước khi xuất viện. Khám sàng lọc được thực hiện khi trẻ sơ sinh ≥ 24 giờ tuổi và được nghi ngờ nếu có ≥ 1 trong số các triệu chứng sau:

  • Có bất kì độ bão hòa oxy nào <90%.

  • Độ bão hòa oxy cả tay phải và chân dưới 95% ở 3 lần đo riêng biệt cách nhau 1 giờ

  • Có sự chêch lệch trên 3% giữa độ bão hòa oxy ở tay phải (trước ống động mạch) và chân (sau ống động mạch) ở 3 lần đo riêng biệt cách nhau 1 giờ.

Tất cả trẻ sơ sinh có nghi ngờ cần được đánh giá toàn diện về tim bẩm sinh và các nguyên nhân khác của tình trạng thiếu oxy (như rối loạn hô hấp, phù não, nhiễm khuẩn huyết) thường bao gồm chụp X quang ngực, điện tâm đồ, siêu âm tim và t xét nghiệm máu thường quy. Độ nhạy của đo độ bão hòa oxy qua da là khoảng> 75%; tổn thương tim bẩm sinh thường bị bỏ sót là tổn thương tắc nghẽn trái tim (ví dụ, hẹp eo động mạch chủ).

Điều trị

  • Điều trị nội khoa cho suy tim (ví dụ với oxy, thuốc lợi tiểu, thuốc ức chế ACE, digoxin, và hạn chế muối)

  • Phẫu thuật sửa chữa hoặc can thiệp qua thông tim.

Sau khi điều trị ổn định các triệu chứng suy tim cấp tính hoặc tím, hầu hết trẻ em cần được sửa chữa bằng phẫu thuật hoặc nhờ thông tim; ngoại lệ là một số thông liên thất có thể trở nên nhỏ hơn hoặc đóng với thời gian hoặc rối loạn chức năng van nhẹ. Các thủ thuật thông tim bao gồm

  • Nong bóng mở rộng vách liên nhĩ ở sơ sinh tím nặng với bệnh chuyển gốc động mạch.

  • Nong bóng để mở rộng van động mạch chủ hoặc van động mạch phổi hẹp nặng

  • Thông tim để đóng các shunts ở tim (thường thông liên nhĩ và còn ống động mạch)

Suy tim ở trẻ sơ sinh

Suy tim cấp tính, nặng hoặc tím trong tuần đầu tiên của cuộc đời là một trường hợp cấp cứu. Bảo đảm đường truyền tĩnh mạch, tốt nhất là thông qua tĩnh mạch rốn.

Khi bệnh tim bẩm sinh phức tạp (CCHD) được nghi ngờ hoặc xác định, truyền tĩnh mạch prostaglandin E1 nên bắt đầu với liều ban đầu là 0,01 mcg / kg / phút. Đôi khi, trẻ sơ sinh cần liều cao hơn, như 0,05 đến 0,1 mcg / kg / phút, để mở lại hoặc duy trì sự mở ống động mạch. Giữ ống dẫn mở là rất quan trọng vì hầu hết các tổn thương tim xuất hiện ở tuổi này là tuần hoàn hệ thống phụ thuộc vào ống động mạch ví dụ:, hội chứng thiểu sản tim trái, hẹp động mạch chủ, hẹp eo động mạch chủ) hoặc tuần hoàn phổi phụ thuộc ống động mạch (tím như teo phổi hoặc tứ chứng Fallot nặng).

Thông khí cơ học thường là cần thiết đối với trẻ sơ sinh bệnh nặng. Bổ sung oxy cần được đưa ra một cách thận trọng hoặc thậm chí là không bỏ sung vì oxy có thể làm giảm sức cản của mạch phổi, có hại cho trẻ sơ sinh có khuyết tật nhất định (ví dụ, hội chứng thiểu sản tim trái).

Các biện pháp khác điều trị suy tim bao gồm thuốc lợi tiểu, thuốc vận mạch, thuốc để giảm hậu gánh. Thuốc lợi tiểu furosemide được dùng với liều ban đầu của 1 mg / kg tiêm tĩnh mạch và được điều chỉnh dựa trên lượng nước tiểu. Tiêm truyền thuốc dopamine hoặc dobutamine có thể cải thiện huyết áp nhưng có bất lợi về tăng nhịp tim và tăng hậu gánh, do đó làm tăng tiêu thụ oxy cơ tim. Milrinone, thường được sử dụng trong các bệnh nhân sau phẫu thuật có bệnh tim bẩm sinh, vừa tăng co bóp cơ tim vừa gây giãn mạch Dopamine, Dobutamine, và Milrinone đều có khả năng làm tăng nguy cơ rối loạn nhịp tim. Nitroprusside, chất làm giãn mạch mạnh, thường được sử dụng điều trị tăng huyết áp sau mổ. Lượng thuốc bắt đầu từ 0,3 đến 0,5 mcg / kg / phút và có thể điều chỉnh theo mức độ mong muốn (liều duy trì thường là khoảng 3 mcg / kg / phút).

Suy tim ở trẻ nhỏ và trẻ nhỏ

Các liệu pháp thường bao gồm thuốc lợi tiểu (ví dụ, furosemide 0,5 đến 1,0 mg / kg tiêm tĩnh mạch hoặc 1 đến 3 mg / kg uống mỗi 8 giờ đến 24 giờ, tăng liều khi cần thiết) và chất ức chế men chuyển (ví dụ, captopril 0,1 đến 0,3 mg / kg uống 3 lần/ngày). Thuốc lợi tiểu giữ kali (ví dụ, spironolactone 1 mg / kg uống 1-2 lần / ngày, tăng liều lên đến 2 mg / kg / liều nếu cần) có thể hữu ích, đặc biệt khi cần furosemide liều cao. Các thuốc chẹn beta (như carvedilol, metoprolol) thường được bổ sung cho trẻ bị suy tim sung huyết mạn. Digoxin được sử dụng ít hơn so với trrước đây nhưng có thể vẫn có vai trò ở trẻ bị suy tim với shunt trái sang phải lớn, ở một số bệnh nhân sau phẫu thuật có bệnh tim bẩm sinh, và ở một số trẻ có nhịp tim nhanh trên thất (liều lượng thuốc khác nhau theo lứa tuổi; xem Bảng: Liều dùng Digoxin uống ở trẻ em *).

Bảng
icon

Liều dùng Digoxin uống ở trẻ em *

Tuổi

Tổng số Số lượng Số lượng (mcg / kg)

Liều duy trì (mcg / kg hai lần/ngày)

Trẻ sơ sinh non tháng

20

2.5

Trẻ sơ sinh đủ tháng

30

5

1 tháng - 2 tuổi

30–50

5–6

2-5 tuổi

30–40

4–5

6-10 tuổi

20–35

2.5–4

> 10 tuổi§

10–15

1.25–2.5

* Tất cả các liều được dựa trên trọng lượng cơ thể lý tưởng cho trẻ em có chức năng thận bình thường. Liều IV là 75% liều uống.

Liều tấn công thường chỉ cần thiết khi điều trị loạn nhịp tim hoặc suy tim sung huyết cấp. Tổng liều tấn công được đưa trong vòng 24 giờ với một nửa liều được cho trước, tiếp theo là một phần tư liều được cho hai lần sau, cách nhau khoảng 8 đến 12 giờ; Theo dõi điện tâm đồ là cần thiết.

Liều duy trì bằng 25% liều tấn công, chia thành 2 lần.

§Không vượt quá liều tấn công / duy trì dành cho người lớn 1-1.5 mg / 0.125-0.250 mg / ngày (liều dùng một lần / ngày được chấp nhận sau 10 tuổi).

Oxy bổ sung có thể làm giảm tình trạng thiếu oxy máu và giảm khó thở trong suy tim;nếu có thể, giữ nồng độ oxy khí thở vào (Fio2) < 40% để giảm thiểu nguy cơ tổn thương biểu mô phổi. Bổ sung oxy phải được sử dụng cẩn thận, ở bệnh nhân có tổn thương shunt trái sang phải hoặc bệnh tắc nghẽn tim trái vì nó có thể làm trầm trọng thêm quá tải tuần hoàn phổi.

Nói chung, chế độ ăn đủ chất, hạn chế muối được khuyến cáo, mặc dù thế vẫn cần phải điều chỉnh chế độ ăn uống tùy thuộc vào rối loạn riêng và biểu hiện cụ thể. Suy tim làm tăng nhu cầu chuyển hóa và khó thở liên quan làm cho ăn khó khăn hơn. Ở trẻ sơ sinh bị bệnh tim bẩm sinh nặng (CCHD), đặc biệt là những người có tổn thương tắc nghẽn tim trái, việc cho ăn đường miệng có thể cần tránh để giảm thiểu nguy cơ viêm ruột hoại tử. Ở trẻ sơ sinh bị suy tim do các shunt từ trái sang phải, khuyên dùng thức ăn giàu caloric; những thức ăn này làm tăng lượng calo được cung cấp và làm như vậy với ít nguy cơ quá tải khối lượng. Một số trẻ em bbỏ sung thức ăn bằng qua đặt ống thông để duy trì sự tăng trưởng. Nếu những biện pháp này không dẫn đến tăng cân, thì chỉ cần chỉ định phẫu thuật sửa chữa bất thường.

Dự phòng viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn

Các hướng dẫn hiện hành của Hiệp hội Tim Mạch Hoa Kỳ cho phòng ngừa viêm nội tâm mạc quy định rằng dự phòng kháng sinh là cần thiết cho trẻ em mắc bệnh tim mạch sau đây:

  • Bệnh tim bẩm sinh tím không được chữa khỏi (bao gồm trẻ với điều trị bắc cầu và ống dẫn)

  • CHD được sửa chữa hoàn toàn trong 6 tháng đầu sau phẫu thuật nếu sử dụng vật liệu giả hoặc dụng cụ

  • CHD đã phẫu thuật nhưng còn sót tổn thương ở vị trí hoặc bên cạnh vị trí của một miếng đệm giả hoặc dụng cụ giả

  • Van cơ học hoặc van sinh học

  • Viêm nội tâm mạc trước đó

Các chuyên gia đọc thêm

Cũng quan tâm

TRÊN CÙNG