MSD Manual

Hãy xác nhận rằng quý vị là chuyên gia chăm sóc sức khỏe

Đang tải

Mất trí nhớ

Theo

Michael C. Levin

, MD,

  • College of Medicine, University of Saskatchewan
  • University of Tennessee Health Science Center

Xem lại/Duyệt lại toàn bộ lần cuối Thg7 2016| Sửa đổi nội dung lần cuối cùng Thg7 2016
Nguồn chủ đề

Mất trí nhớ là một triệu chứng phổ biến trong các cơ sở chăm sóc ban đầu. Nó đặc biệt phổ biến trong số những người cao tuổi nhưng cũng có thể gặp ở những người trẻ tuổi. Đôi khi các thành viên trong gia đình chứ không phải bệnh nhân thông báo hiện tượng mất trí nhớ (thường là ở người cao tuổi, bị sa sút trí tuệ).

Thầy thuốc lâm sàng và bệnh nhân thường lo ngại rằng, mất trí nhớ là dấu hiệu báo trước của sa sút trí tuệ. Mối quan ngại này dựa trên kiến thức chung cho rằng, dấu hiệu đầu tiên của sa sút trí tuệ thường là mất trí nhớ. Tuy nhiên, hầu hết các trường hợp mất trí nhớ không đại diện cho sự khởi phát của sa sút trí tuệ.

Các triệu chứng phổ biến nhất và sớm nhất của mất trí nhớ thường bao gồm:

  • Khó nhớ tên và chỗ để chìa khóa xe, hoặc các vật dụng thông thường khác

Khi mất trí nhớ nặng hơn, người ta có thể không nhớ thanh toán hóa đơn hoặc giữ đúng hẹn. Những người bị mất trí nhớ trầm trọng có thể gặp nhiều tình huống nguy hiểm, chẳng hạn như quên tắt bếp lò, quên khóa cửa khi rời khỏi nhà, hoặc quên để mắt tới trẻ nhỏ hoặc trẻ sơ sinh họ phải trông. Các triệu chứng khác (như trầm cảm, lú lẫn, thay đổi nhân cách, khó khăn trong các hoạt động hàng ngày) có thể xuất hiện tùy thuộc vào nguyên nhân gây ra mất trí nhớ.

Nguyên nhân gây bệnh

Các nguyên nhân phổ biến nhất của mất trí nhớĐặc điểm của các nguyên nhân thường gặp gây mất trí nhớ) là

  • Sự suy giảm trí nhớ liên quan đến tuổi (phổ biến nhất)

  • Suy giảm nhận thức nhẹ

  • Sa sút trí tuệ

  • Trầm cảm

Sự suy giảm trí nhớ liên quan tuổi đề cập đến tình trạng giảm trí nhớ xảy ra khi lão hóa. Ở những người có tình trạng này, phải mất thời gian lâu hơn để tạo ra những ký ức mới (ví dụ như tên của một người hàng xóm mới, mật khẩu máy tính mới), để tìm hiểu các thông tin phức tạp và thao tác mới (quy trình làm việc, phần mềm máy tính). Sự suy giảm trí nhớ liên quan tuổi đôi khi dẫn đến tình trạng quên (ví dụ nhầm chìa khóa xe hơi) hoặc các tình huống khó xử. Tuy nhiên, không có tình trạng suy giảm nhận thức. Khi có đủ thời gian, bệnh nhân vẫn có thể tư duy và trả lời các câu hỏi, điều này cho thấy bộ nhớ và các chức năng nhận thức vẫn còn nguyên vẹn.

Bệnh nhân suy giảm nhận thức nhẹ bị mất trí nhớ thực sự, chứ không phải đôi khi hồi phục kí ức chậm từ bộ lưu trữ trí nhớ còn được duy trì tương đối như ở những người cùng độ tuổi . Suy giảm nhận thức nhẹ có xu hướng ảnh hưởng đầu tiên đến trí nhớ ngắn hạn (còn gọi là trí nhớ sự kiện hoặc hồi đoạn). Bệnh nhân gặp khó khăn trong việc ghi nhớ các cuộc hội thoại mới, vị trí của các vật dụng thông thường và các cuộc hẹn. Tuy nhiên, trí nhớ cho các sự kiện xa, cũng như sự chú ý (còn gọi là trí nhớ làm việc - bệnh nhân có thể nhắc lại danh sách các mục và tính toán đơn giản) thường không thay đổi . Định nghĩa suy giảm nhận thức nhẹ đang dần thay đổi, Hiện nay, suy giảm nhận thức nhẹ đôi khi được định nghĩa là suy giảm trí nhớ và/hoặc các chức năng nhận thức khác, nhưng các rối loạn này không đủ nặng để ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng ngày. Có đến 50% bệnh nhân suy giảm nhận thức nhẹ tiến triển thành sa sút trí tuệ trong vòng 3 năm.

Bệnh nhân sa sút trí tuệ có mất trí nhớ kèm theo các bằng chứng về rối loạn nhận thức và hành vi. Ví dụ, họ có thể gặp khó khăn trong việc tìm từ và/hoặc gọi tên đồ vật (thất ngôn), khi thực hiện các động tác đã biết (thất dụng), hoặc lên kế hoạch và tổ chức các công việc hàng ngày, như chuẩn bị bữa ăn, mua sắm và thanh toán hoá đơn (suy giảm chức năng điều hành). Tính cách của họ có thể thay đổi; ví dụ, họ có thể trở nên cáu kỉnh, lo lắng, kích động, và / hoặc không linh hoạt.

Trầm cảm là tình trạng phổ biến ở bệnh nhân sa sút trí tuệ. Tuy nhiên, bản thân trầm cảm có thể gây mất trí nhớ, tạo nên bệnh cảnh giống sa sút trí tuệ (giả sa sút trí tuệ). Những bệnh nhân này thường có những triệu chứng khác của trầm cảm.

Mê sảng là một trạng thái lú lẫn cấp tính, có thể do nhiễm trùng nặng, thuốc (tác dụng phụ) hoặc do cai thuốc. Các bệnh nhân bị mê sảng có suy giảm trí nhớ, nhưng biểu hiện chính thường là những thay đổi toàn bộ trạng thái tinh thần mức độ nặng và rối loạn nhận thức, chứ không phải mất trí nhớ.

Bảng
icon

Đặc điểm của các nguyên nhân thường gặp gây mất trí nhớ

Nguyên nhân

Những phát hiện gợi ý

Tiếp cận chẩn đoán

Suy giảm trí nhớ liên quan tuổi

Thỉnh thoảng quên (ví dụ, tên hoặc vị trí của chìa khóa xe) nhưng không có sự suy giảm khác của bộ nhớ

Chức năng nhận thức bình thường

Đánh giá lâm sàng

Suy giảm nhận thức nhẹ

Suy giảm tri nhớ

Chức năng hàng ngày không bị ảnh hưởng

Các khía cạnh khác của nhận thức nguyên vẹn

Đánh giá lâm sàng

Đôi khi cần tiến hành test thần kinh tâm thần

Sa sút trí tuệ

Suy giảm trí nhớ

Sinh hoạt hàng ngày bị ảnh hưởng (ví dụ, tìm đường xung quanh khu phố, hoặc làm các công việc thông thường tại nơi làm việc)

Sự suy giảm ít nhất 1 khía cạnh khác của nhận thức:

  • Suy giảm khả năng lập luận và xử lý các nhiệm vụ phức tạp (chức năng điều hành) và đánh giá kém (ví dụ như không thể quản lý tài khoản ngân hàng, đưa ra các quyết định về tài chính)

  • Thất ngôn (rối loạn ngôn ngữ), gặp khó khăn trong việc tìm từ và / hoặc gọi tên đồ vật

  • Rối loạn chức năng thị giác không gian (ví dụ, không có khả năng nhận dạng khuôn mặt hoặc các đồ vật thông thường)

  • Thay đổi nhân cách và hành vi (ví dụ, nghi ngờ, lo lắng, kích động)

Đánh giá lâm sàng

Đôi khi cần tiến hành test thần kinh tâm thần

Trầm cảm

Mất trí nhớ thường tương quan với độ nặng của rối loạn khí sắc

Đôi khi rối loạn giấc ngủ, ăn mất ngon, chậm chạp

Thường xuất hiện ở bệnh nhân mất trí nhớ, suy giảm nhận thức nhẹ, hoặc suy giảm trí nhớ liên quan đến tuổi tác

Đánh giá lâm sàng

Sử dụng thuốc (ví dụ như các thuốc kháng cholinergic, thuốc chống trầm cảm, opioid, thuốc hưng thần, hay thuốc an thần)

Sử dụng thuốc căn nguyên

Thường xuất hiện khi mới bắt đầu điều trị thuốc, tăng liều thuốc hoặc thanh thải thuốc châm (do suy giảm chức năng thận và gan)

Thường khi thử ngừng hoặc thay đổi loại thuốc nghi ngờ là nguyên nhân gây rối loạn

Đánh giá

Ưu tiên cao nhất là

  • Chẩn đoán xác định tình trạng mê sảng, đòi hỏi điều trị cấp cứu

Khi đó, việc đánh giá tập trung vào phân biệt vài trường hợp suy giảm nhận thức nhẹ và sa sút trí tuệ giai đoạn sớm với số lượng lớn hơn các trường hợp có suy giảm trí nhớ liên quan đến tuổi tác hoặc quên thông thường.

Đánh giá đầy đủ về sa sút trí tuệ thường đòi hỏi thời gian lâu hơn 20 đến 30 phút, khoảng thời gian dành cho một lần khám thông thường.

Bệnh sử

Nếu được, nên khai thác bệnh sử riêng rẽ từ bệnh nhân và các thành viên gia đình. Các bệnh nhân suy giảm nhận thức không có khả năng cung cấp bệnh sử chi tiết, chính xác, và các thành viên trong gia đình có thể không cảm thấy thoải mái khi kể bệnh sử một cách trung thực lúc có mặt bệnh nhân.

Bệnh sử nên mô tả các loại mất trí nhớ cụ thể (ví dụ như quên từ hoặc tên, bị lạc), khởi phát, mức độ và tiến triển của triệu chứng. Thầy thuốc lâm sàng nên xác định mức độ ảnh hưởng của các triệu chứng đến hoạt động chức năng hàng ngày tại nơi làm việc và ở nhà. Những triệu chứng quan trọng bao gồm các thay đổi trong việc sử dụng ngôn ngữ, ăn uống, nghỉ ngơi, và tâm trạng.

Đánh giá toàn diện nhằm xác định các triệu chứng thần kinh gợi ý một thể sa sút trí tuệ cụ thể, bao gồm:

Tiền sử nên bao gồm những bệnh lý đã biết, các loại thuốc được kê đơn và không kê đơn bệnh nhân từng sử dụng.

Tiền sử gia đình và xã hội nên bao gồm năng lực trí tuệ, học vấn, việc làm và chức năng xã hội của bệnh nhân. Cần lưu ý tình trạng lạm dụng chất gây nghiện hiện tại và trong quá khứ. Cần hỏi tiền sử gia đình về chứng sa sút trí tuệ hoặc suy giảm nhận thức nhẹ xuất hiện sớm .

Khám thực thể

Ngoài khám tổng quát, cần khám thần kinh đầy đủ và khảo sát chi tiết trạng thái tinh thần.

Việc khảo sát trạng thái tinh thần, thông qua yêu cầu bệnh nhân thực hiện một số nhiệm vụ nhất định, sẽ giúp đánh giá các yếu tố sau đây:

  • Định hướng (nêu tên, ngày, và địa điểm hiện tại)

  • Chú ý và tập trung (ví dụ, nhắc lại một danh sách các từ, tính toán đơn giản, đánh vần ngược từ "world")

  • Trí nhớ ngắn hạn (ví dụ Nhắc lại danh sách 3 hoặc 4 mục sau 5, 10, và 30 phút)

  • Ngôn ngữ (ví dụ, gọi tên một số đồ vật thông thường)

  • Khả năng sử dụng động tác và chức năng điều hành (ví dụ, làm theo một lệnh có nhiều giai đoạn)

  • Thực dụng xây dựng (ví dụ, sao chép một hình vẽ hoặc vẽ một mặt đồng hồ)

Các thang đánh giá khác nhau có thể được sử dụng để khảo sát các yếu tố này. Phương pháp phổ biến nhất để kiểm tra các thành phần này là trắc nghiệm Đánh giá Trạng thái Tâm thần tối thiểu, mất khoảng 7 phút để thực hiện.

Các dấu hiệu cảnh báo

Những phát hiện sau đây cần được quan tâm đặc biệt:

  • Suy giảm chức năng trong sinh hoạt hàng ngày

  • Mất chú ý hoặc thay đổi tri giác

  • Triệu chứng trầm cảm (ví dụ như, ăn mất ngon, chậm chạp tâm thần vận động, ý tưởng tự sát)

Phân tích triệu chứng

Sự hiện diện của mất trí nhớ thực sự, suy giảm chức năng trong sinh hoạt hàng ngày, và các chức năng nhận thức khác là các yếu tố giúp phân biệt giữa sự thay đổi trí nhớ liên quan đến tuổi tác với suy giảm nhận thức nhẹ và sa sút trí tuệ.

Rối loạn khí sắc xuất hiện ở các bệnh nhân trầm cảm nhưng cũng phổ biến ở những bệnh nhân sa sút trí tuệ hoặc suy giảm nhận thức nhẹ. Do đó, việc phân biệt trầm cảm với sa sút trí tuệ có thể tương đối khó khăn, trừ khi mất trí nhớ trở nên trầm trọng hơn, hoặc có các triệu chứng thần kinh rõ ràng khác (mất ngôn ngữ, mất nhận thức, mất khả năng sử dụng động tác).

Mất khả năng chú ý giúp phân biệt mê sảng với sa sút trí tuệ xuất hiện sớm. Ở hầu hết các bệnh nhân bị mê sảng, mất trí nhớ thường không biểu hiện. Tuy nhiên, cần loại trừ mê sảng trước khi chẩn đoán xác định sa sút trí tuệ.

Cách thức bệnh nhân tìm đến chăm sóc y tế là một gợi ý đặc biệt hữu ích. Nếu bệnh nhân đến khám vì lo lắng về hiện tượng quên, thì nguyên nhân có thể là sự suy giảm trí nhớ liên quan đến tuổi tác. Nếu bệnh nhân ít quan tâm về tình trạng mất trí nhớ hơn các thành viên khác trong gia đình, và gia đình yêu cầu cần có đánh giá y tế cho bệnh nhân, thì chẩn đoán nghiêng về hướng sa sút trí tuệ hơn.

Xét nghiệm

Chẩn đoán chủ yếu dựa trên lâm sàng. Tuy nhiên, bất kỳ biện pháp kiểm tra trạng thái tâm thần rút gọn nào cũng bị ảnh hưởng bởi năng lực trí tuệ và trình độ học vấn của bệnh nhân, đồng thời có độ chính xác hạn chế. Ví dụ, bệnh nhân có trình độ học vấn cao có thể đạt điểm cao giả tạo, và những người có trình độ thấp có thể đạt điểm thấp giả tạo.

Nếu chẩn đoán không rõ ràng, có thể thực hiện các trắc nghiệm thần kinh tâm lý chính xác và đầy đủ hơn; các kết quả sẽ có độ chẩn đoán chính xác hơn.

Nếu nghi ngờ một loại thuốc là nguyên nhân, có thể ngừng loại thuốc đó hoặc thay thế một loại thuốc khác để thử nghiệm chẩn đoán.

Điều trị các trường hợp trầm cảm rõ sẽ giúp tạo thuận lợi cho việc phân biệt giữa trầm cảm và suy giảm nhận thức nhẹ.

Nếu bệnh nhân có triệu chứng thần kinh (ví dụ, liệt, thay đổi dáng đi, động tác tự động), cần chụp CHT hoặc CLVT.

Đối với hầu hết bệnh nhân, cần đo nồng độ vitamin B12 trong huyết thanh và các xét nghiệm chức năng tuyến giáp để loại trừ chẩn đoán thiếu vitamin B12 và rối loạn tuyến giáp, vốn là những nguyên nhân gây suy giảm trí nhớ có thể điều trị được.

Nếu bệnh nhân bị mê sảng hoặc sa sút trí tuệ, cần phải làm thêm xét nghiệm để xác định nguyên nhân.

Điều trị

Nên trấn an các bệnh nhân bị suy giảm trí nhớ liên quan đến tuổi. Một số biện pháp chung thường được khuyến cáo để giúp duy trì chức năng và có thể làm giảm nguy cơ sa sút trí tuệ.

Bệnh nhân trầm cảm được điều trị bằng thuốc và / hoặc liệu pháp tâm lý.

Bệnh nhân bị mất trí nhớ và có dấu hiệu trầm cảm nên được điều trị bằng thuốc chống trầm cảm không chứa chất kháng cholinergic, thường dùng các thuốc thuộc nhóm SSRIs. Mất trí nhớ có xu hướng giảm đi khi đỡ trầm cảm.

Điều trị mê sảng bằng cách điều trị các bệnh lý căn nguyên.

Trong một số ít các trường hợp, có thể đảo ngược tình trạng sa sút trí tuệ bằng điều trị đặc hiệu (ví dụ, bổ sung vitamin B12, bổ sung hormone tuyến giáp, dẫn lưu trong trường hợp tràn dịch não thất áp lực bình thường).

Điều trị hỗ trợ là biện pháp được áp dụng với các bệnh nhân mất trí nhớ

Các biện pháp chung

Đây là những điểm được khuyến cáo cho những người lo lắng về mất trí nhớ:

  • Tập thể dục đều đặn

  • Thực hiện một chế độ ăn uống lành mạnh với nhiều trái cây và rau quả

  • Ngủ đủ giấc

  • Không hút thuốc

  • Sử dụng rượu điều độ

  • Tham gia vào các hoạt động xã hội và kích thích trí tuệ

  • Khám sức khoẻ định kỳ

  • Kiểm soát căng thẳng

  • Phòng ngừa thương tích ở đầu

Những biện pháp này, cùng với kiểm soát huyết áp, nồng độ cholesterol và glucose huyết tương, cũng làm giảm nguy cơ rối loạn tim mạch. Một số bằng chứng cho thấy các biện pháp này có thể làm giảm nguy cơ sa sút trí tuệ, nhưng tác dụng này chưa được chứng minh.

Một số chuyên gia khuyến cáo học những điều mới (ví dụ, một ngôn ngữ mới, một nhạc cụ mới), thực hiện các bài tập tinh thần (ví dụ, ghi nhớ danh sách, làm câu đố, chơi cờ, hoặc các trò chơi khác sử dụng chiến lược), đọc, làm máy tính, hoặc làm hàng thủ công (ví dụ, đan lát, khâu vá). Những hoạt động này có thể giúp duy trì hoặc cải thiện chức năng nhận thức, có thể bởi vì chúng tăng cường các kết nối thần kinh và thúc đẩy tạo ra các kết nối mới.

An toàn cho bệnh nhân

Các nhà vận động trị liệu và vật lý trị liệu có thể đánh giá độ an toàn trong ngôi nhà của những bệnh nhân bị khuyết tật với mục tiêu phòng ngừa ngã và các tai nạn khác. Có thể cần các biện pháp bảo vệ (ví dụ như cất dao, rút điện bếp lò, chuyển xe đi nơi khác, cất chìa khóa xe). Một số tiểu bang yêu cầu các bác sĩ thông báo cho Phòng Đăng ký xe về các trường hợp sa sút trí tuệ. Nếu bệnh nhân lang thang, có thể lắp đặt hệ thống giám sát tín hiệu, hoặc bệnh nhân có thể được đăng ký trong chương trình Safe Return. Thông tin có sẵn từ Hiệp hội Bệnh Alzheimer (Safe Return program).

Cuối cùng, có thể chỉ định sự hỗ trợ (ví dụ như người giúp việc gia đình, trợ lý chăm sóc sức khoẻ tại nhà) hoặc thay đổi môi trường (ví dụ như nhà ở không có bậc thang, cơ sở trợ giúp, cơ sở có điều dưỡng lành nghề).

Các biện pháp tác động môi trường

Các biện pháp tác động môi trường có thể giúp ích cho bệnh nhân sa sút trí tuệ.

Bệnh nhân bị sa sút trí tuệ thường hoạt động tốt nhất trong không gian quen thuộc, với sự củng cố định hướng thường xuyên(bằng cách sử dụng lịch và đồng hồ kích thước lớn), môi trường tươi sáng, vui vẻ và lịch sinh hoạt đều đặn. Phòng ở phải có các kích thích cảm giác (ví dụ, đài phát thanh, truyền hình, ánh sáng ban đêm).

Ở các bệnh viện, nhân viên có thể đeo thẻ tên lớn và thường xuyên tự giới thiệu mình. Nên có sự giải thích một cách đơn giản và chính xác về những thay đổi trong môi trường xung quanh, trong các thói quen, và bỏ qua các bước không cần thiết.

Các cuộc thăm viếng thường xuyên của nhân viên y tế và người thân sẽ khuyến khích bệnh nhân duy trì hoạt động xã hội. Tất cả các loại hoạt động đều có ích; các hoạt động này nên có tính chất cuốn hút và kích thích, nhưng không có quá nhiều sự lựa chọn hoặc gây nhiều trở ngại cho bệnh nhân. Các bài tập để cải thiện sự cân bằng và duy trì sức khỏe tim mạch cũng có thể giúp làm giảm bớt bồn chồn, cải thiện giấc ngủ và kiểm soát hành vi. Vận động và âm nhạc liệu pháp giúp duy trì sự kiểm soát các động tác tinh tế và cung cấp sự kích thích không lời. Liệu pháp nhóm (ví dụ, liệu pháp hồi tưởng, các hoạt động xã hội) có thể giúp duy trì kỹ năng hội thoại và các kỹ năng giao tiếp.

Thuốc

Loại bỏ hoặc hạn chế các thuốc có hoạt tính trên hệ thần kinh trung ương thường sẽ cải thiện hoạt động chức năng. Nên tránh các thuốc an thần và kháng cholinergic. Những loại này có xu hướng làm trầm trọng thêm sa sút trí tuệ.

Các chất ức chế men cholinesterase như donepezil, rivastigminegalantamine có hiệu quả trong việc cải thiện chức năng nhận thức ở bệnh nhân Alzheimer hoặc sa sút trí tuệ thể Lewy và có thể có ích trong các thể sa sút trí tuệ khác. Memantine, một chất đối kháng NMDA (N-metyl-d-partic), có thể được sử dụng trong sa sút trí tuệ vừa và nặng.

Donepezil có thể làm cải thiện tạm thời trí nhớ cho bệnh nhân suy giảm nhận thức nhẹ, nhưng lợi ích có vẻ khiêm tốn. Không có loại thuốc nào khác được khuyến cáo để tăng cường nhận thức hoặc trí nhớ ở những bệnh nhân suy giảm nhận thức nhẹ.

Bảng
icon

Các thuốc được sử dụng để điều trị bệnh Alzheimer và đôi khi, điều trị các thể sa sút trí tuệ khác

Tên thuốc

Liều khởi đầu

Liều tối đa

Bình luận

Donepezil

5 mg x 1 lần / ngày

23 mg một lần / ngày

Nói chung dung nạp tốt nhưng có thể gây buồn nôn hoặc tiêu chảy

Galantamine

4 mg hai lần/ngày

Loại phóng thích chậm: 8 mg, một lần / ngày, buổi sáng

12 mg hai lần/ngày

Loại phóng thích chậm: 24 mg x 1 lần / ngày buổi sáng

Có thể có lợi hơn cho các triệu chứng hành vi so với các loại thuốc khác

Điều hòa thụ thể nicotinic, kích thích sự giải phóng acetylcholine và tăng cường hiệu quả của nó

Memantine

5 mg hai lần/ngày

10 mg hai lần/ngày

Có vẻ làm chậm sự tiến triển của bệnh

Rivastigmine

Dạng chất lỏng hoặc viên nang: 1,5 mg hai lần/ngày

Miếng dán: 4,6 mg / 24 giờ

Dạng chất lỏng hoặc viên nang: 6 mg hai lần/ngày

Miếng dán: 13,3 mg / 24 giờ

Có dạng dung dịch lỏng

Những điểm thiết yếu ở đối tượng người già

Suy giảm nhận thức nhẹ phổ biến ở người cao tuổi. Tỷ lệ hiện mắc từ 14 đến 18% sau tuổi 70.

Sa sút trí tuệ là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất gây nhập viện, bệnh tật và tử vong ở người cao tuổi. Bản thân quá trình lão hóa gây ra hầu hết các nguy cơ của sa sút trí tuệ. Tỷ lệ mất trí nhớ

  • Khoảng 1% ở độ tuổi 60 đến 64

  • 30 đến 50% ở độ tuổi> 85

  • 60 đến 80% những người cao tuổi ở nhà dưỡng lão

Những điểm chính

  • Mất trí nhớ và sa sút trí tuệ rất phổ biến, và là nguyên nhân gây ra lo âu ở người cao tuổi.

  • Sự suy giảm trí nhớ liên quan đến tuổi rất phổ biến, gây ra sự chậm chạp trong trí nhớ và hoạt động nhân thức, nhưng chưa gây suy thoái các chức năng này.

  • Chẩn đoán chủ yếu dựa trên các tiêu chuẩn lâm sàng, đặc biệt là khí sắc, sự chú ý, mất trí nhớ thật sự và ảnh hưởng đến hoạt động chức năng hàng ngày.

  • Thông tin đầy đủ về các thuốc đã dùng có vai trò rất quan trọng, bởi vì các thuốc an thần và thuốc kháng cholinergic có thể gây ra mất trí nhớ, nhưng có thể điều trị được bằng cách dừng thuốc.

  • Hiện tượng mất trí nhớ do bệnh nhân tự kể thường không phải do sa sút trí tuệ.

  • Phải loại trừ mê sảng trước khi chẩn đoán sa sút trí tuệ.

Thêm thông tin

Cũng quan tâm

TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI

TRÊN CÙNG