MSD Manual

Hãy xác nhận rằng quý vị là chuyên gia chăm sóc sức khỏe

honeypot link

Viêm thận ống kẽ thận

Theo

Navin Jaipaul

, MD, MHS, Loma Linda University School of Medicine

Xem lại/Duyệt lại toàn bộ lần cuối Thg7 2017| Sửa đổi nội dung lần cuối cùng Thg7 2017
Nguồn chủ đề

Viêm thận ống kẽ thận là tổn thương ống thận và khoảng kẽ dẫn đến giảm chức năng thận. Thể cấp thường do phản ứng dị ứng thuốc hoặc do nhiễm trùng. Thể mạn tính xảy ra do nhiều nguyên nhân khác nhau bao gồm các rối loạn di truyền hoặc các rối loạn chuyển hóa, bệnh thận do tắc nghẽn và tiếp xúc mạn tính với các độc tố môi trường hoặc với một số thuốc và thảo mộc. Chẩn đoán được gợi ý dựa trên tiền sử và xét nghiệm nước tiểu và thường được xác định bằng sinh thiết thận. Điều trị và tiên lượng thay đổi theo nguyên nhân và khả năng hồi phục được các rối loạn tại thời điểm chẩn đoán.

Nguyên nhân

Viêm thận ống kẽ thận có thể là tiên phát nhưng cũng có thể do tổn thương cầu thận hoặc rối loạn mạch thận.

Viêm thận ống kẽ thận tiên phát có thể là

Viêm thận ống kẽ thận cấp tính

Viêm thận ống kẽ thận cấp tính (ATIN) là tình trạng xâm nhập viêm và phù khoảng kẽ của thận, tình trạng này thường phát triển trong nhiều ngày đến nhiều tháng. Trên 95% các trường hợp là do nhiễm trùng hoặc phản ứng dị ứng thuốc.

Viêm thận ống kẽ thận cấp tính gây tổn thương thận cấp; những trường hợp nặng mà chậm trễ điều trị hoặc tiếp tục các thuốc ảnh hưởng có thể dẫn đến tổn thương vĩnh viễn và bệnh thận mạn tính.

Hội chứng thận - mắt, viêm thận ống kẽ thận cấp tính kết hợp viêm màng bồ đào cũng có thể xảy ra và là tiên phát.

Viêm thận ống kẽ thận mạn tính

Viêm thận ống kẽ thận mạn tính (CTIN) xuất hiện khi các tổn thương ống thận mạn tính gây ra xâm nhập viêm và xơ hóa dần dần, teo ống thận, rối loạn chức năng ống thận và suy giảm chức năng thận dần dần, thường là qua nhiều năm. Tổn thương cầu thận kèm theo (xơ hóa cầu thận) phổ biến hơn ở thể mạn tính so với thể cấp tính.

Có nhiều nguyên nhân gây viêm thận ống kẽ thận mạn tính; chúng bao gồm các rối loạn qua trung gian miễn dịch, nhiễm trùng, bệnh thận do trào ngược hoặc tắc nghẽn, do thuốc và các rối loạn khác. Viêm thận ống kẽ thận mạn tính do các độc tố, rối loạn chuyển hóa, tăng huyết áp và các rối loạn di truyền thường đối xứng, ở cả hai bên; khi viêm thận ống kẽ thận mạn tính do các nguyên nhân khác, sẹo thận có thể không đối xứng và ảnh hưởng chỉ ở một bên thận. Một số thể đặc trưng của viêm thận ống kẽ thận mạn tính bao gồm

Bệnh thận do trào ngượcđa u tủy xương có thể gây ra tổn thương ống kẽ thận nhưng tổn thương mô bệnh học chủ yếu ở các trường hợp này là bệnh cầu thận.

Bệnh nang thận di truyền được thảo luận ở chương khác.

Bảng
icon

Các nguyên nhân của Viêm thận ống kẽ thận cấp tính

Nguyên nhân

Ví dụ

Thuốc *

Kháng sinh

Thuốc kháng sinh nhóm beta-lactam (nguyên nhân phổ biến nhất)

Ciprofloxacin

Ethambutol

Indinavir

Isoniazid

Macrolit

Minocycline

Rifampin

Tetracycline

Trimethoprim / sulfamethoxazole

Vancomycin

Thuốc chống co giật

Carbamazepine

Phenobarbital

Phenytoin

Valproate

Thuốc lợi tiểu

Bumetanide

Furosemide

Thiazides

Triamterene

NSAIDs

Diclofenac

Fenoprofen

Ibuprofen

Indomethacin

Naproxen

Các thuôc khác

Allopurinol

Axit aristolochic

Captopril

Cimetidin

Interferon alfa

Lansoprazole

Mesalamine

Omeprazole

Ranitidin

Các rối loạn chuyển hóa

Tăng oxalat niệu

Ngộ độc Ethylene glycol

Tăng acid uric niệu

Nhiễm trùng nhu mô thận

Vi khuẩn

Brucella sp (brucellosis)

Corynebacterium diphtheriae ( Vi khuẩn gây bệnh bạch hầu)

Legionella sp (Nhiễm khuẩn Legionella)

Leptospira sp (bệnh do leptospira)

Mycobacterium sp

Mycoplasma sp

Rickettsia sp

Salmonella sp

Staphylococci

Streptococci

Treponema pallidum (Bịnh giang mai)

Yersinia sp

Nấm

Candida sp

Ký sinh trùng

Toxoplasma gondii (toxoplasmosis)

Virus

Virus Epstein-Barr

Virus viêm gan C (cấpmạn tính)

HIV

Polyomavirus

Các tình trạng khác

Tiên phát không kèm hoặc kèm theo viêm màng bô đào

Miễn dịch học

Viêm thận kẽ giảm bổ thể máu tiên phát

Bệnh thận IgA

Viêm thận ống kẽ thận liên quan IgG4

Thải ghép thận

Lupus ban đỏ hệ thống(hiếm)

Khối u

U lympho

U tủy xương

* Các thuốc gây bệnh phổ biến nhất được liệt kê; > 120 loại thuốc có liên quan.

Có trong một số dược liệu được sử dụng trong y học cổ truyền Trung Quốc.

Yamaguchi Y, Kanetsuna Y, Honda K, et al: Characteristic tubulointerstitial nephritis in IgG4-related disease. Hum Pathol 43(4):536-549, 2012. doi: 10.1016 / j.humpath.2011.06.002.

Bảng
icon

Các nguyên nhân của viêm thận ống kẽ thận mạn tính

Nguyên nhân

Ví dụ

Bệnh thận vùng Balkan

Bệnh nang thận

Bệnh nang mắc phải

Thuốc

Thuốc giảm đau *

Thuốc điều trị u (cisplatin và nitrosourea)

Thảo dược Trung Quốc (do acid aristolochic)

Thuốc ức chế miễn dịch (cyclosporine * và tacrolimus)

Lithium *

U hạt

Bệnh viêm ruột

Lao

Huyết học

Lơ xê mi

U Lympho

Bệnh thận di truyền di truyền liên quan đến tăng acid uric máu và bệnh gout

Nguyên phát

Miễn dịch học

Thải ghép thận

Viêm thận ống kẽ thận liên quan IgG4

Nhiễm trùng

Nhu mô thận:

Hệ thống

Cơ học

Bệnh thận tắc nghẽn

Chuyển hóa

Hạ kali mạn tính

Bệnh thận do cystin

Tăng canxi máu, tăng canxi niệu

Tăng oxalat niệu

Tăng acid uric máu *, tăng acid uric niệu

Viêm thận do phóng xạ

Độc tố

Acid aristolochic

Kim loại nặng (ví dụ asen, bismut, cadmi, crôm, đồng, vàng, sắt, chì, thuỷ ngân, urani)

Mạch máu

Thuyên tắc động mạch

Tăng huyết áp

Huyết khối tĩnh mạch thận

*Các nguyên nhân phổ biến.

Có trong một số dược liệu được sử dụng trong y học cổ truyền Trung Quốc.

Yamaguchi Y, Kanetsuna Y, Honda K, et al: Characteristic tubulointerstitial nephritis in IgG4-related disease. Hum Pathol 43(4):536-549, 2012. doi: 10.1016 / j.humpath.2011.06.002.

Tài liệu tham khảo

Các triệu chứng cơ năng và thực thể

Viêm thận ống kẽ thận cấp tính

Các triệu chứng cơ năng và thực thể của viêm thận ống kẽ thận cấp tính có thể không đặc hiệu và thường không xuất hiện trừ khi có các triệu chứng và dấu hiệu cảu suy thận. Nhiều bệnh nhân có chứng đa niệu và tiểu đêm (do có rối loạn về cô đặc nước tiểu và tái hấp thu natri).

Khởi phát triệu chứng của viêm thận ống kẽ thận cấp tính có thể kéo dài trong vài tuần sau khi tiếp xúc với độc chất gây bệnh hoặc khởi phát nhanh chóng trong vòng 3 đến 5 ngày sau khi tiếp xúc độc chất lần 2; thời gian ủ bệnh dao động 1 ngày với rifampin đến 18 tháng với NSAID. Sốt và ban mày đay là những biểu hiện sớm của viêm thận ống kẽ thận cấp tính do thuốc, nhưng trên lâm sàng thường biểu hiện tam chứng sốt, nổi ban và tăng bạch cầu ái toan ở <10% số bệnh nhân viêm thận ống kẽ thận do thuốc. Đau bụng, gầy sút cân và tăng kích thước thận hai bên (do phù khoảng kẽ) cũng có thể xảy ra ở viêm thận ống kẽ thận cấp tính và sốt có thể gây nhầm lẫn với ung thư thận và bệnh thận đa nang. Phù ngoại vi và tăng huyết áp không thường gặp trừ khi có suy thận kèm theo.

Viêm thận ống kẽ thận mạn tính

Các triệu chứng cơ năng và thực thể thường khá mờ nhạt trong viêm thận ống kẽ thận mạn tính, trừ khi có suy thận kèm theo. Phù thường không xuất hiện và huyết áp bình thường hoặc chỉ tăng nhẹ trong những giai đoạn đầu. Đa niệu và tiểu đêm có thể xuất hiện.

Chẩn đoán

  • Các yếu tố nguy cơ

  • Trong viêm thận ống kẽ thận cấp tính, cặn niệu thường có các biểu hiện tình trạng cấp với đái mủ vô khuẩn

  • Đôi khi sinh thiết thận

  • Thông thường chẩn đoán hình ảnh sẽ giúp loại trừ các nguyên nhân khác

Chỉ có một vài biểu hiện lâm sàng và xét nghiệm cận lâm sàng thường quy đặc hiệu cho viêm thận ống kẽ thận mạn tính. Do đó, chẩn đoán cần được nghĩ đến nhiều khi có các dấu hiệu sau:

  • Các triệu chứng cơ năng hoặc thực thể điển hình

  • Các yếu tố nguy cơ, đặc biệt là có mối liên quan về thời gian khởi phát và thời gian sử dụng thuốc nghi là nguyên nhân gây bệnh.

  • Các biểu hiện xét nghiệm nước tiểu đặc trưng, đặc biệt là đái mủ vô khuẩn

  • Protein niệu mức độ trung bình, thường < 1 g / ngày (trừ khi dùng NSAID có thể gây protein niệu ngưỡng thận hư 3,5 g / ngày)

  • Bằng chứng của rối loạn chức năng ống thận (ví dụ toan hóa ống thận, hội chứng Fanconi)

  • Rối loạn cô đặc nước tiểu không tương xứng với mức độ suy thận

Không thể dựa vào biểu hiện tăng bạch cầu ái toan trong nước tiểu để chẩn đoán hoặc loại trừ chẩn đoán, nhưng ít nghĩ đến chẩn đoán này hơn nếu không có dấu hiệu tăng bạch cầu ái toan (giá trị tiên lượng âm tính cao). Các xét nghiệm khác (ví dụ, chẩn đoán hình ảnh) thường cần thiết để phân biệt viêm thận ống kẽ thận cấp tính hoặc mạn tính với các bệnh lý khác. Trên lâm sàng thường nghĩ đến chẩn đoán viêm thận ống kẽ thận cấp tính khi có các dấu hiệu đặc hiệu đề cập ở trên, nhưng sinh thiết thận là cần thiết để chẩn đoán xác định.

Viêm thận ống kẽ thận cấp tính

Xét nghiệm nước tiểu có các biểu hiện của viêm thận hoạt động (cặn niệu có các thành phần biểu hiện cấp tính), điển hình bao gồm HC, BC, trụ BC và không có vi khuẩn trên nuôi cấy ( đái mủ vô khuẩn); đái máu rõ rệt và các hồng cầu biến dạng không thường gặp. Tăng bạch cầu ái toan trong nước tiểu thường được cho là dấu hiệu gợi ý viêm thận ống kẽ thận cấp tính; tuy nhiên, sự có mặt hoặc không có mặt của bạch cầu ái toan trong nước tiểu không phải là dấu hiệu đặc trưng cho chẩn đoán. Protein niệu thường ít nhưng có thể ở ngưỡng thận hư với bệnh cầu thận viêm thận ống kẽ thận kết hợp gây ra bởi NSAIDs, ampicillin, rifampin, interferon alfa, hoặc ranitidine.

Các biểu hiện xét nghiệm máu của rối loạn chức năng ống thận bao gồm hạ kali máu (do rối loạn tái hấp thu kali) và toan chuyển hóa không có khoảng trống anion (do rối loạn tái hấp thu bicarbonate ở ống lượn gần hoặc rối loạn bài tiết acid ở ống lượn xa).

Siêu âm, chụp xạ hình hoặc cả hai có thể cần thiết để phân biệt viêm thận ống kẽ thận cấp tính với các nguyên nhân khác của tổn thương thận cấp, chẳng hạn hoại tử ống thận cấp. Trong viêm thận ống kẽ thận cấp tính, siêu âm có thể cho thấy thận tăng kích thước và tăng âm do phù và các tế bào viêm ở khoảng kẽ. Chụp xạ hình có thể cho thấy 2 thận tập trung phóng xạ gallium-67 hoặc các BC có gắn phóng xạ. Chụp xạ hình dương tính gợi ý mạnh cho chẩn đoán viêm thận ống kẽ thận cấp tính ( và cho thấy ít có khả năng là hoại tử ống thận cấp), chụp xạ hình âm tính cũng không loại trừ được viêm thận ống kẽ thận cấp tính.

Sinh thiết thận thường được chỉ định cho các trường hợp có các biểu hiện sau đây:

  • Chẩn đoán không chắc chắn

  • Tổn thương thận tiến triển

  • Không cải thiện sau khi đã ngừng các thuốc được cho là nguyên nhân gây bệnh

  • Các dấu hiệu gợi ý bệnh ở giai đoạn sớm

  • Viêm thận ống kẽ thận do thuốc đang cân nhắc điều trị corticosteroid

Trong viêm thận ống kẽ thận mạn tính, các cầu thận thường bình thường. Dấu hiệu sớm nhất là phù khoảng kẽ, thường xuất hiện sau xâm nhập các tế bào lympho, tương bào, bạch cầu ái toan và một vài bạch cầu đa nhân. Trong các trường hợp nặng, có thể quan sát thấy các tế bào viêm xâm nhập vào khoang gian bào nằm ở màng đáy ống thận (viêm ống thận); trong các mẫu bệnh phẩm khác, phản ứng u hạt có thể xảy ra khi phơi nhiễm với kháng sinh nhóm beta-lactam, sulfonamid, mycobacteria hoặc nấm. Sự xuất hiện của các u hạt không hoại tử gợi ý bệnh sarcoidosis. Hiển vi miễn dịch huỳnh quang hoặc hiển vi điện tử hiếm khi phát hiện được bất kỳ thay đổi đặc trưng của bệnh nào.

Viêm thận ống kẽ thận mạn tính

Các dấu hiệu của viêm thận ống kẽ thận mạn tính thường tương tự như ở viêm thận ống kẽ thận cấp tính, mặc dù ít xuất hiện HC và BC. Vì viêm thận ống kẽ thận mạn tính thường biểu hiện âm thầm khi khởi phát và xơ hóa kẽ thường gặp, các xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh có thể cho thấy hình ảnh thận nhỏ có dấu hiệu sẹo và không đối xứng.

Trong viêm thận ống kẽ thận mạn tính, sinh thiết thận thường không được thực hiện vì mục đích chẩn đoán nhưng có thể giúp chỉ ra bản chất và tiến triển của bệnh ống kẽ thận. Hình ảnh cầu thận biến đổi từ bình thường đến bị phá hủy hoàn toàn. Các ống thận có thể bị teo nhỏ hoặc biến mất. Lòng ống thận thay đổi đường kính nhưng có thể biểu hiện tình trạng giãn đáng kể với các trụ hỗn hợp. Khoảng kẽ chứa các tế bào viêm và xơ hóa ở các mức độ khác nhau. Các vùng không bị sẹo trông gần như bình thường. Về mặt đại thể, 2 thận bị teo nhỏ.

Tiên lượng

Viêm thận ống kẽ thận cấp tính

Trong viêm thận ống kẽ thận cấp tính, chức năng thận thường hồi phục trong vòng 6 đến 8 tuần khi ngừng thuốc được cho là nguyên nhân gây bệnh, thường để lại sẹo tồn dư. Bệnh nhân có thể hồi phục có thể không hoàn toàn, với tình trạng tăng các sản phẩm chuyển hóa nitơ trong máu trên giá trị nền. Tiên lượng thường xấu hơn nếu viêm thận ống kẽ thận do NSAIDs. Khi các yếu tố khác gây ra viêm thận ống kẽ thận cấp tính, các tổn thương mô bệnh học thường hồi phục nếu tìm và loại bỏ được nguyên nhân; tuy nhiên, một số trường hợp nặng, bệnh có thể tiến triển đến xơ hóa và bệnh thận mạn tính. Dù là nguyên nhân nào đi nữa, tổn thương nhiều khả năng sẽ là không đảo ngược nếu có các dấu hiệu sau đây:

  • Xâm nhập khoảng kẽ lan tỏa thay vì khu trú

  • Xơ hóa khoảng kẽ nặng

  • Chậm đáp ứng với prednisone

  • Tổn thương thận cấp kéo dài >3 tuần

Viêm thận ống kẽ thận mạn tính

Trong viêm thận ống kẽ thận mạn tính, tiên lượng phụ thuộc vào nguyên nhân và vào khả năng nhận biết và dừng tiến trình trước khi xơ hóa không hồi phục xuất hiện. Nhiều nguyên nhân di truyền (ví dụ như bệnh lý nang thận), chuyển hóa (ví dụ bệnh thận do cystin) và độc tố (ví dụ kim loại nặng) có thể không thay đổi được, trong trường hợp này viêm thận ống kẽ thận mạn tính thường tiến triển đến bệnh thận giai đoạn cuối.

Điều trị

  • Điều trị nguyên nhân (ví dụ, ngừng thuốc nghi là nguyên nhân gây bệnh)

  • Corticosteroid dùng để điều trị viêm thận ống kẽ thận cấp do miễn dịch và đôi khi là do thuốc

Điều trị viêm thận ống kẽ thận cấp và mạn tính gồm điều trị nguyên nhân.

Đối với viêm thận ống kẽ thận cấp tính do miễn dịch và đôi khi là do thuốc, corticosteroid (ví dụ prednisone 1 mg / kg uống 1 lần / ngày với liều giảm dần dần trong vòng trên 4 đến 6 tuần) có thể đẩy nhanh quá trình hồi phục.

Đối với viêm thận ống kẽ thận cấp tính, corticosteroid có hiệu quả nhất khi được sử dụng trong vòng 2 tuần ngừng thuốc tác nhân gây bệnh. So với viêm thận ống kẽ thận do các thuốc khác, viêm thận ống kẽ thận do NSAID ít đáp ứng với corticosteroids hơn. Cần chẩn đoán xác định viêm thận ống kẽ thận cấp tính dựa trên sinh thiết thận trước khi bắt đầu sử dụng corticosteroid.

Điều trị viêm thận ống kẽ thận mạn tính thường đòi hỏi các biện pháp hỗ trợ như kiểm soát huyết áp và điều trị thiếu máu liên quan đến bệnh thận. Ở các bệnh nhân viêm thận ống kẽ thận mạn tính và có tổn thương thận tiến triển, các thuốc ức chế men chuyển hoặc chẹn thụ thể angiotensin II có thể làm chậm quá trình tiến triển bệnh nhưng không nên dùng đồng thời vì tăng nguy cơ tăng kali máu và đẩy nhanh quá trình tiến triển của bệnh.

Điểm cần nhớ

  • Ở các bệnh nhân viêm thận ống kẽ thận mạn tính, các thuốc ức chế men chuyển hoặc chẹn thụ thể angiotensin II có thể làm chậm quá trình tiến triển bệnh nhưng không nên dùng đồng thời vì tăng nguy cơ tăng kali máu và đẩy nhanh quá trình tiến triển của bệnh.

Những điểm chính

  • Các nguyên nhân của viêm thận ống kẽ thận mạn tính rất nhiều và đa dạng hơn thể cấp tính (thường là do phản ứng dị ứng với một thuốc hoặc do nhiễm trùng).

  • Các triệu chứng thường vắng mặt hoặc không đặc hiệu, đặc biệt là trong viêm thận ống kẽ thận mạn tính.

  • Nghĩ đến chẩn đoán dựa vào các yếu tố nguy cơ và cặn niệu, loại trừ các nguyên nhân khác bằng chẩn đoán hình ảnh và đôi khi cần phải sinh thiết thận để khẳng định chẩn đoán.

  • Ngừng các thuốc là tác nhân gây bệnh, điều trị các nguyên nhân khác và điều trị hỗ trợ.

  • Điều trị corticosteroid trong trường hợp viêm thận ống kẽ thận do miễn dịch có bằng chứng trên sinh thiết và đôi khi do thuốc (trong vòng 2 tuần ngừng thuốc tác nhân).

Các chuyên gia đọc thêm

Cũng quan tâm

TRÊN CÙNG