MSD Manual

Hãy xác nhận rằng quý vị là chuyên gia chăm sóc sức khỏe

Đang tải

Vô kinh

Theo

JoAnn V. Pinkerton

, MD, University of Virginia Health System

Xem lại/Duyệt lại toàn bộ lần cuối Thg9 2017| Sửa đổi nội dung lần cuối cùng Thg9 2017
Nguồn chủ đề

Vô kinh (không có kinh nguyệt) có thể là nguyên phát hoặc thứ phát.

Vô kinh nguyên phát là sự mất kinh nguyệt xảy ra bởi một trong những đặc điểm sau đây:

  • Tuổi 16 hoặc 2 năm, sau khi đã có những dấu hiệu dậy thì

  • Khoảng 14 tuổi ở những bé gái chưa trải qua tuổi dậy thì (ví dụ như tăng trưởng nhanh, phát triển các đặc điểm sinh dục thứ phát)

Nếu bệnh nhân không có chu kỳ kinh nguyệt ở tuổi 13 và không có dấu hiệu của dậy thì (ví dụ như phát triển vú), họ cần được đánh giá về chứng vô kinh nguyên phát.

Vô kinh thứ phát là bỗng nhiên ngưng kinh nguyệt sau khi họ đã có Thông thường, bệnh nhân cần được đánh giá về chứng vô kinh thứ phát nếu kinh nguyệt không có ≥ 3 tháng hoặc ≥ 3 chu kỳ điển hình bởi vì từ lần hành kinh đầu tiên đến tiền mãn kinh, một chu kỳ kinh nguyệt kéo dài > 90 ngày là rất hiếm .

Sinh lý bệnh

Thông thường, vùng dưới đồi tiết ra hoocmon phóng thích gonadotropin (GnRH). GnRH kích thích tuyến yên sản sinh gonadotropins (hormone kích thích nang noãn - FSH) và hoocmon hoàng thể hoá (LH)xem Hình: Những thay đổi theo chu kỳ lý tưởng trong gonadotropins tuyến yên, estradiol (E2), progesterone (P), và niêm mạc tử cung trong chu kỳ kinh nguyệt bình thường.), được phóng thích vào máu. Gonadotropins kích thích buồng trứng sản xuất estrogen (chủ yếu estradiol), androgens (chủ yếu testosterone), và progesterone. Những hoóc môn này tác dụng như sau:

  • FSH kích thích các mô xung quanh các noãn bào đang phát triển để chuyển đổi testosterone thành estradiol.

  • Estrogen kích thích niêm mạc tử cung, làm cho nó tăng sinh.

  • LH, khi nó tăng lên trong suốt chu kỳ kinh nguyệt, thúc đẩy sự trưởng thành của noãn bào trội, sự giải phóng noãn và hình thành thể vàng, sản xuất ra progesterone.

  • Progesterone thay đổi niêm mạc tử cung thành một cấu trúc chế tiết và chuẩn bị cho việc làm tổ (màng nuôi niêm mạc ).

Nếu quá trình mang thai không xảy ra, estrogen progesterone giảm sản xuất và nội mạc tử cung bị phá vỡ và bị bong trong suốt thời kỳ kinh nguyệt. Hành kinh xảy ra 14 ngày sau khi phóng noãn trong các chu kỳ điển hình.

Những thay đổi theo chu kỳ lý tưởng trong gonadotropins tuyến yên, estradiol (E2), progesterone (P), và niêm mạc tử cung trong chu kỳ kinh nguyệt bình thường.

Những thay đổi theo chu kỳ lý tưởng trong gonadotropins tuyến yên, estradiol (E2), progesterone (P), và niêm mạc tử cung trong chu kỳ kinh nguyệt bình thường.

Khi một phần của hệ thống này trục trặc, rối loạn chức năng phóng noãn xảy ra; chu kỳ kích thích gonadotropin sản xuất estrogen và chu kỳ thay đổi niêm mạc tử cung bị gián đoạn, dẫn đến vô kinh không phóng noãn, và chảy máu kinh nguyệt có thể không xảy ra. Hầu hết việc mất kinh, đặc biệt là vô kinh thứ phát, là không phóng noãn.

Tuy nhiên, vô kinh có thể xảy ra khi sự phóng noãn bình thường, xảy ra khi bất thường giải phẫu bộ phận sinh dục (ví dụ dị tật bẩm sinh gây tắc nghẽn dòng chảy, dính buồng tử cung [hội chứng Asherman]) ngăn không cho dòng chảy kinh nguyệt bình thường bất chấp kích thích nội tiết bình thường.

Nguyên nhân

Vô kinh thường được phân loại là

Mỗi loại có nhiều nguyên nhân, nhưng tổng thể, nguyên nhân phổ biến nhất của vô kinh bao gồm

  • Mang thai (nguyên nhân phổ biến nhất ở phụ nữ độ tuổi sinh đẻ)

  • Dậy thì chậm

  • Không phóng noãn do chức năng vùng dưới đồi (ví dụ, do tập thể dục quá mức, rối loạn ăn uống, hoặc căng thẳng)

  • Sử dụng hoặc lạm dụng thuốc (ví dụ, thuốc tránh thai uống, depoprogesterone, thuốc chống trầm cảm, thuốc chống loạn thần)

  • Nuôi con bằng sữa mẹ

Thuốc tránh thai có thể làm cho niêm mạc tử cung mỏng, đôi khi dẫn đến vô kinh; kinh nguyệt thường bắt đầu lại khoảng 3 tháng sau khi ngừng dùng thuốc tránh thai.

Thuốc chống trầm cảm và thuốc chống rối loạn tâm thần có thể làm tăng prolactin, kích thích vú tạo ra sữa và có thể gây vô kinh.

Một số rối loạn có thể gây ra vô kinh có phóng noãn hoặc không phóng noãn Các bất thường giải phẫu bẩm sinh gây ra vô kinh nguyên phát Tất cả các rối loạn gây ra chứng vô kinh thứ phát có thể gây vô kinh nguyên phát

Vô kinh không phóng noãn

Các nguyên nhân phổ biến nhất (xem Bảng: Một số Nguyên nhân của vô kinh không phóng noãn) liên quan đến sự gián đoạn trục dưới đồi -tuyến yên-buồng trứng (xem Hình: Trục cơ quan đích của hệ thần kinh trung ương-dưới đồi-tuyến yên-bộ phận sinh dục.). Do đó, nguyên nhân bao gồm

Vô kinh không phóng noãn thường là thứ phát nhưng có thể là nguyên phát nếu phóng noãn chưa bao giờ bắt đầu-ví dụ, do rối loạn di truyền. Nếu sự rụng trứng chưa bao giờ bắt đầu, tuổi dậy thì và phát triển các đặc điểm sinh dục thứ phát là bất thường. Các rối loạn di truyền liên quan nhiễm sắc thể Y làm tăng nguy cơ ung thư tế bào mầm của buồng trứng.

Trục cơ quan đích của hệ thần kinh trung ương-dưới đồi-tuyến yên-bộ phận sinh dục.

Trục cơ quan đích của hệ thần kinh trung ương-dưới đồi-tuyến yên-bộ phận sinh dục.
Bảng
icon

Một số Nguyên nhân của vô kinh không phóng noãn

Nguyên nhân

Ví dụ

Rối loạn chức năng và cấu trúc vùng dưới đồi

Các rối loạn di truyền (ví dụ, thiếu hụt hormon phóng thích gonadotropin bẩm sinh, đột biến gen receptor GnRH dẫn đến nồng độ FSH và estradiol thấp và mức LH cao, hội chứng Prader-Willi)

Các rối loạn xâm lấn của vùng dưới đồi (ví dụ, Nhiễm mô bào Langerhans, lymphoma, sarcoidosis, Lao)

Chiếu xạ vùng dưới đồi

Các khối u của vùng dưới đồi

Rối loạn chức năng vùng dưới đồi, chức năng

Chứng suy mòn thể chất và tinh thần

Các rối loạn kinh niên, đặc biệt là hô hấp, đường tiêu hoá, máu, thận hoặc gan (ví dụ:, Bệnh Crohn, xơ nang, bệnh hồng cầu lưỡi liềm, bệnh thiếu máu thalassemia chính)

Ăn kiêng

Lạm dụng ma túy (ví dụ, rượu, cocaine, marijuana, hoặc là opioid)

Rối loạn ăn uống (vd., chán ăn, nôn sau ăn)

Tập thể dục, nếu tập quá mức

Rối loạn tâm thần (ví dụ, căng thẳng, trầm cảm, rối loạn ám ảnh béo phì, tâm thần phân liệt)

Thuốc gây loạn tâm thần

Rối loạn chức năng tuyến yên

Phình mạch tuyến yên

Tăng prolactin máu *

Suy giảm chức năng tuyến sinh dục tự phát

Các thương tổn thực thể của tuyến yên (ví dụ, bệnh thừa sắt, Bệnh bạch cầu u hạt langerhans, sarcoidosis, lao)

Thiếu hụt gonadotropin đơn độc

Hội chứng Kallmann (suy giảm tuyến sinh dục đích với mất khứu giác)

Hoại tử tuyến yên sau đẻ (hội chứng Sheehan)

Chấn thương não

Các khối u não (ví dụ, u màng não, u sọ hầu, u đệm thần kinh)

Các khối u của tuyến yên (ví dụ, u tuyến nhỏ)

Rối loạn chức năng buồng trứng

Các rối loạn tự miễn dịch (ví dụ, viêm buồng trứng tự miễn dịch có thể xảy ra trong nhược cơ, viêm tuyến giáp, hoặc bạch biến)

Hoá trị liệu (ví dụ, thuốc chứa kiềm liều cao)

Các bất thường di truyền, bao gồm bất thường về nhiễm sắc thể (ví dụ, bất sản tuyến ức bẩm sinh, Hội chứng xương thủy tinh, Hội chứng Turner [45, X], thoái hoá nang noãn nhanh tự phát)

Rối loạn thoái hoá tuyến sinh dục (sự phát triển buồng trứng không hoàn chỉnh, đôi khi rối loạn thứ phát do rối loạn di truyền)

Chiếu xạ vào vùng chậu

Nhiễm virut (ví dụ:, quai bị)

Rối loạn nội tiết khác

Hội chứng không nhậy cảm Androgen (nữ tính hoá tinh hoàn)

tuyến thượng thận nam hoá bẩm sinh (tăng sản thượng thận bẩm sinh - ví dụ như do thiếu hụt 17-hydroxylase hoặc thiếu hụt 17,20-lyase) hoặc bệnh tuyến thượng thận nam hoá ở người trưởng thành

Nam hoá do thuốc (ví dụ bằng androgens, thuốc chống trầm cảm, danazol hoặc progestins liều cao)

Béo phì (gây ra nhiều tuyến sản xuất quá nhiều estrogen)

Lưỡng giới thực sự

Các khối u sản xuất androgen (thường là buồng trứng hoặc tuyến thượng thận)

Các khối u sản xuất estrogen hoặc các khối u sản sinh ra gonadotropin màng nuôi ở người (bệnh nguyên bào nuôi)

* Tăng prolactin do các nguyên nhân khác (ví dụ như chứng suy giáp, sử dụng một số loại thuốc) cũng có thể gây vô kinh.

Phụ nữ có các rối loạn này có thể bị nam hóa hoặc bộ phận sinh dục không rõ ràng.

Sự nam hóa có thể xảy ra trong hội chứng Cushing thứ phát do khối u thượng thận.

Vô kinh phóng noãn

Các nguyên nhân phổ biến nhất (xem Bảng: Một số nguyên nhân gây ra vô kinh phóng noãn) bao gồm

  • Bất thường nhiễm sắc thể

  • Các bất thường bộ phận sinh dục bẩm sinh gây tắc nghẽn đường chảy ra của máu kinh

Bảng
icon

Một số nguyên nhân gây ra vô kinh phóng noãn

Nguyên nhân

Ví dụ

Bất thường sinh dục bẩm sinh

Hẹp cổ tử cung (hiếm gặp)

Màng trinh không thủng

Bệnh lưỡng tính giả

Vách ngăn âm đạo

Âm đạo hoặc tử cung chậm phát triển (ví dụ, bất sản)

Các bất thường tử cung mắc phải

Hội chứng Asherman

Dày nội mạc tử cung

U xơ tắc nghẽn và polyp

Những bất thường gây ra do tắc nghẽn thì thường không có sự thay đổi về nồng độ hormone. Sự tắc nghẽn như vậy có thể dẫn đến

  • Bế kinh (ứ máu kinh trong âm đạo) làm cho âm đạo phồng lên.

  • Ứ máu kinh trong tử cung (tích tụ máu trong tử cung), có thể gây giãn cơ tử cung, giống như có một khối u hoặc gây phồng cổ tử cung

Vì chức năng buồng trứng bình thường nên các cơ quan sinh dục ngoài và các đặc điểm tình dục thứ phát khác phát triển bình thường. Một số rối loạn bẩm sinh (ví dụ, những bệnh kèm theo dị tật âm đạo hay bất sản âm đạo hoặc vách âm đạo) cũng gây ra các chứng tiểu tiện và các rối loạn về khung chậu.

Một số bất thường về cơ thể, ví dụ như tổn thương niêm mạc tử cung khi xuất huyết sau sinh hoặc nhiễm trùng (hội chứng Asherman), gây ra vô kinh phóng noãn thứ phát.

Đánh giá

Các bé gái được đánh giá nếu

  • Chúng không có dấu hiệu dậy thì (như phát triển vú, cơ thể tăng trưởng ) vào tuổi 13.

  • Không có lông mu ở tuổi 14.

  • Chưa có kinh lần đầu khi 16 tuổi hoặc đến 2 năm sau khi bắt đầu có dấu hiệu của tuổi dậy thì (phát triển các đặc điểm tình dục thứ phát).

Phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ nên thử thai khi chậm kinh. Họ sẽ được đánh giá xem liệu có vô kinh không nếu

  • Họ không mang thai và đã bỏ lỡ các chu kỳ kinh nguyệt quá 3 tháng hoặc ≥ 3 chu kỳ điển hình.

  • Họ có < 9 chu kỳ một năm.

  • Họ thường có rối loạn chu kỳ kinh nguyệt bình thường.

Lịch sử

Tiền sử các bệnh đang mắc bao gồm những biểu hiện sau:

  • Cho dù đã từng có kinh nguyệt (để phân biệt với vô kinh thứ phát) và, nếu có thì bệnh nhân có kinh lần đầu tiên khi bao nhiêu tuổi.

  • Dù đã từng có giai đoạn có kinh bình thường.

  • Chu kỳ kinh cuối cùng xảy ra khi nào

  • Chu kỳ kinh kéo dài bao lâu và ra máu số lượng thế nào.

  • Liệu chu kỳ kinh có kèm theo với các dấu hiệu khó chịu nào khác (để có thể chỉ ra bất thường trong cấu trúc cơ thể )

  • Liệu bệnh nhân có sự thay đổi của vú hay biến đổi tâm trạng theo chu kỳ kinh nguyệt.

  • Khi họ đã tăng trưởng đến một ngưỡng nhất định bao gồm phát triển cả núm vú (phát triển vú tuổi dậy thì).

Thăm khám toàn thân nên bao gồm các triệu chứng gợi ý về nguyên nhân có thể gây ra, bao gồm những biểu hiện sau:

  • Tiết sữa bất thường, nhức đầu, bất thường về thị giác: rối loạn tuyến yên

  • Mệt mỏi, tăng cân, và sợ lạnh: Suy tuyến giáp

  • Đau thắt ngực, lo lắng, run, và sợ nóng: Cường giáp

  • Đánh trống ngực: Chán ăn do tâm thần với biểu hiện rối loạn điện giải (ví dụ, hạ kali máu, hạ magie máu)

  • Mụn trứng cá, mẫn cảm, và thay đổi giọng nói: thừa androgen

  • Đối với bệnh nhân vô kinh thứ phát, bốc hỏa, khô âm đạo, rối loạn giấc ngủ, dễ gãy xương và giảm ham muốn: thiếu hụt Estrogen

Bệnh nhân bị vô kinh nguyên phát được hỏi về các triệu chứng của tuổi dậy thì (ví dụ như phát triển vú, tăng trưởng quá nhanh, có lông nách và lông mu) để giúp xác định xem liệu sự rụng trứng có xảy ra hay không.

Tiền sử y khoa cần lưu ý đến những yếu tố nguy cơ sau:

  • Giảm chức năng hoạt động vùng dưới đồi, như stress; các bệnh mạn tính; dùng thuốc mới; và sự thay đổi gần đây về cân nặng, chế độ ăn uống hoặc cường độ tập thể dục

  • Ở những bệnh nhânvô kinhthứ phát, hội chứng Asherman (ví dụ D và C, như sau nạo, hút buồng tử cung, viêm nội mạc tử cung, chấn thương sau sinh, phẫu thuật tử cung)

Tiền sử dùng chất gây nghiện nên bao gồm các câu hỏi cụ thể về việc lạm dụng các chất gây nghiện, như sau:

  • Thuốc ảnh hưởng dopamine (ví dụ thuốc hạ huyết áp, thuốc chống loạn thần, opioid, thuốc chống trầm cảm ba vòng)

  • Các loại thuốc điều trị ung thư (như busulfan, chlorambucil, cyclophosphamide)

  • Hóc môn giới tính có thể gây nam tính hoá (ví dụ, androgens, estrogen, progestins liều cao, steroid đồng hóa OTC)

  • Tránh thai, đặc biệt có tiền sử dùng gần đây

  • Corticosteroids toàn thân

  • Các sản phẩm và chất bổ sung OTC, một số có chứa hormone đồng vận chậm hoặc tương tác với các thuốc khác

Tiền sử gia đình bao gồm chiều cao của các thành viên trong gia đình và bất kỳ trường hợp nào dậy thì muộn hoặc có thành viên trong gia đình bị bất thường về gen, bao gồm Hội chứng xương thủy tinh.

Thăm khám lâm sàng

Các bác sĩ cần lưu ý các dấu hiệu quan trọng về thành phần và cấu trúc cơ thể, bao gồm chiều cao và cân nặng, và nên tính toán chỉ số khối cơ thể (BMI). Đặc điểm sinh dục thứ phát được đánh giá; phát triển vú và lông mu được thực hiện bằng phương pháp Tanner. Nếu có lông nách và lông mu, tăng hormone tuyến thượng thận có thể xảy ra.

Khi khám thì bác sĩ nên kiểm tra sự tiết dịch núm vú bằng cách tạo ra áp lực từ bàn tay lên các mô tuyến vú từ trong ra ngoài theo hình nan hoa và tới tận núm vú. Bệnh tiết sữa bất thường (tiết dịch vú không liên quan đến việc mang thai) có thể quan sát được; có thể phân biệt với các dịch tiết núm vú khác bằng cách tìm chất béo trong dịch tiết ra bằng kính hiển vi có độ phóng đại thấp.

Khám vùng khung chậu được thực hiện để phát hiện bất thường bộ phận sinh dục; màng trinh phồng lên có thể do ứ máu kinh trong âm đạo, gợi ý tắc nghẽn dòng chảy trong bộ phận sinh dục. Khám khung chậu cũng giúp xác định xem có thiếu hụt estrogen hay không. Ở phụ nữ sau đẻ, dịch nhày ở âm đạo ít, không có nếp nhăn âm đạo và pH > 6.0 cho biết thiếu hụt estrogen. Sự có mặt của chất nhầy cổ tử cung với độ dính (chất lượng đàn hồi và có độ bền) thường cho thấy đầy đủ lượng hóc môn estrogen.

Thăm khám toàn thân tập trung vào bằng chứng cho thấy có sự nam tính hóa, bao gồm mọc lông quá nhiều, hói theo thời gian, mụn trứng cá, giọng nói trầm hơn, tăng cơ, phì đại âm vật, và giảm nữ tính (giảm một trong những đặc điểm tình dục bình thường trước đó, chẳng hạn như giảm kích thước vú và teo âm đạo). Hypertrichosis (sự phát triển quá mức của lông ở tứ chi đầu và lưng), thường gặp ở một số gia đình, được phân biệt với bệnh rậm lông thực sự, có đặc điểm rậm lông tại mép, cằm và giữa hai vú. Thay đổi màu da (ví dụ như vàng da hoặc carotene huyết, bệnh gai đen) cần lưu ý.

Cảnh báo

Những phát hiện sau đây đang được quan tâm đặc biệt:

  • Dậy thì muộn

  • Nam tính hóa

  • Giảm thị lực

  • Giảm nhạy cảm khứu giác

Giải thích các phát hiện

Không nên loại trừ việc mang thai chỉ dựa vào tiền sử, cần thực hiện xét nghiệm thử thai, thường là xét nghiệm nước tiểu có độ nhạy cao hoặc hiếm khi làm xét nghiệm máu. Kết quả thường là chính xác vài ngày sau khi chậm kinh và thường sớm nhất là vài ngày sau khi thụ thai. Những test không cần kê đơn thường không có độ chính xác cao.

Điểm chính và vấn đề cần tránh

  • Nếu vô kinh xảy ra ở trẻ gái đã có các đặc điểm tình dục thứ phát hoặc ở phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, hãy thử thai bất kể tiền sử kinh nguyệt hoặc tiền sử quan hệ tình dục.

Trong vô kinh nguyên phát , sự hiện diện của các đặc điểm tình dục thứ phát bình thường phản ánh chức năng nội tiết bình thường; vô kinh phóng noãn và thường do tắc nghẽn đường sinh dục bẩm sinh. Vô kinh nguyên phát ban đầu kèm theo các đặc điểm tình dục thứ phát không bình thường hay kèm theo không có rụng trứng ( ví dụ như bất thường về gene )

Trong vô kinh thứ phát, những phát hiện lâm sàng đôi khi gợi ý một cơ chế (xem Bảng: Các phát hiện gợi ý nguyên nhân có thể của vô kinh):

  • Tiết sữa bất thường cho thấy có tăng prolactin trong máu (ví dụ, rối loạn chức năng tuyến yên, sử dụng một số loại thuốc); nếu có các dấu hiệu kèm theo của thị giác và đau đầu thì cần nghi ngờ u tuyến yên.

  • Triệu chứng và dấu hiệu của thiếu hụt estrogen (như nóng trong người, đổ mồ hôi nhiều, khô âm đạo, teo âm đạo ) gợi ý có suy giảm dự trữ buồng trứng hay suy buồng trứng hoặc rối loạn vùng dưới đồi khiến không có sự rụng trứng (nguyên nhân do tập luyện quá mức, chỉ số khối cơ thể thiếu hụt hay quá gày ).

  • Sự nam hóa cho thấy sự thừa của androgen (ví dụ, hội chứng buồng trứng đa nang, khối u giải phóng androgen, hội chứng Cushing, sử dụng một số thuốc nhất định). Nếu bệnh nhân có BMI cao, bệnh gai đen, hoặc cả hai, hội chứng buồng trứng đa nang có thể.

Bảng
icon

Các phát hiện gợi ý nguyên nhân có thể của vô kinh

Phát hiện

Các phát hiện có thể khác

Nguyên nhân có thể

Sử dụng một số thuốc nhất định

Thuốc ảnh hưởng dopamine (giúp điều tiết sự bài tiết prolactin):

  • Thuốc chống tăng huyết áp (ví dụ, methyldopa, reserpine, verapamil)

  • Thuốc chống rối loạn tâm thần, thế hệ 2 (ví dụ, molindone, olanzapine, risperidone)

  • Thuốc chống rối loạn tâm thần, thông thường (ví dụ haloperidol, phenothiazines, pimozide)

  • Cocaine

  • Estrogens

  • Các loại thuốc GI (ví dụ, cimetidin, metoclopramide)

  • Thuốc gây ngủ

  • Opioid (ví dụ, codeine, morphine)

  • Thuốc chống trầm cảm ba vòng (ví dụ clomipramine, desipramine)

Bệnh Galactorrhea

Tăng lipid máu

Hormon và một số thuốc khác ảnh hưởng đến sự cân bằng của các hiệu ứng estrogen và androgen (ví dụ, androgens, thuốc chống trầm cảm, danazol, progestins liều cao)

Sự nam tính hoá

Thuốc gây ra nam tính hoá

Thần sắc cơ thể

Chỉ số khối cơ thể cao (ví dụ:, > 30 kg / m2)

Thừa Estrogen

Sự nam hóa

Chỉ số khối cơ thể thấp (ví dụ:, < 18,5 kg / m2)

Các yếu tố nguy cơ như rối loạn mạn tính, ăn kiêng, hoặc rối loạn ăn uống

Giảm chức năng rụng trứng vùng dưới đồi

Suy giáp, nhịp tim chậm bất thường, loạn nhịp tim và / hoặc đánh trống ngực, hạ huyết áp

Giảm chức năng rụng trứng vùng dưới đồi chán ăn do tâm thần hoặc suy kiệt có thể do bất thường điện giải (ví dụ, hạ kali huyết, hạ Magie máu)

Giảm phản xạ mở miệng, tổn thương vòm họng, xuất huyết võng mạc

Giảm chức năng rụng trứng vùng dưới đồi gây rối loạn ăn uống với nôn thường xuyên

Tầm vóc ngắn

vô kinh nguyên phát, cổ tử cung có màng, núm vú rộng

Những bất thường trên da

Da ấm, ẩm

Nhịp tim nhanh, run

Da khô, dày; mất lông mày

Chứng nhịp tim chậm, phản xạ dây chằng chậm, tăng cân, táo bón

Mụn trứng cá

Sự nam hóa

Androgen thừa dẫn đến

Đường lằn

Mặt tròn, mỡ sau cổ, bệnh béo phì ở thân, các chi gày và dài, sự nam hóa, cao huyết áp

Hội chứng Cushing

Bệnh gai đen

Béo phì, nam hóa

Hội chứng buồng trứng đa nang

Bệnh vảy nến hoặc tăng sắc tố lòng bàn tay

Hạ huyết áp tư thế

Các phát hiện chung cho thấy bất thường estrogen hoặc bất thường tuyến thượng thận

Triệu chứng của thiếu hụt estrogen (ví dụ, nóng, đổ mồ hôi ban đêm, đặc biệt là khô âm đạo hoặc teo)

Các yếu tố nguy cơ như phẫu thuật cắt buồng trứng, hóa trị, hoặc chiếu xạ vùng chậu

Suy giảm chức năng gây rụng trứng vùng dưới đồi

Chứng rậm lông ở phụ nữ

Dư Androgen dẫn đến

  • Hội chứng buồng trứng đa nang

  • Khối u do androgen tiết ra

  • Hội chứng Cushing

  • Nam tính hoá do tuyến thượng thận

  • Thuốc (ví dụ, androgens, thuốc chống trầm cảm, danazol, progestins liều cao)

Thiếu máu bẩm sinh

Dư Androgen dẫn đến

  • Tình trạng lưỡng tính thực sự

  • Lưỡng tính giả

  • Khối u do androgen tiết ra

  • Nam tính hoá do tuyến thượng thận

  • Suy giảm chức năng tuyến sinh dục

  • Rối loạn di truyền

Buồng trứng to

Androgen thừa dẫn đến

  • Thiếu hụt 17-Hydroxylase

  • Hội chứng buồng trứng đa nang

  • Khối u buồng trứng tiết ra androgen

Vú và bất thường về bộ phận sinh dục

Bệnh tiết sữa bất thường

Tăng lipid máu

Nhức đầu vào ban đêm, thị lực giảm sút

U tuyến yên

Sự thiếu hụt hoặc sự phát triển không hoàn toàn của ngực (và đặc điểm tình dục thứ cấp)

Tuyến thượng thận bình thường

Buồng trứng bị tổn thương tác động lên quá trình rụng trứng

Thiểu năng tuyến thượng thận

Vô kinh không rụng trứng nguyên phát do rối loạn chức năng tuyến yên dưới đồi

Thiểu năng tuyến thượng thận với biểu hiện suy giảm về khứu giác

Chậm phát triển vú và các đặc điểm tình dục thứ phát

Tiền sử gia đình thường có kinh muộn

Trì hoãn tăng trưởng về thể trạng và dậy thì

Phát triển vú bình thường và các đặc điểm tình dục thứ phát kèm với chứng vô kinh nguyên phát

Đau bụng theo chu kì, âm đạo căng và tử cung phồng lên

Tắc nghẽn cơ quan sinh dục

Bệnh lưỡng tính

Lưỡng tính thật

Lưỡng tính giả

Sự nam hóa

Âm hộ và âm vật mở rộng raLabia hợp nhất, mở rộng âm vật khi sinh

Tiếp xúc với Androgen trong 3 tháng đầu thai kỳ có thể gâyPhơi nhiễm androgen trong tam cá nguyệt thứ nhất, có thể chỉ ra

  • Rối loạn tuyến thượng thận bẩm sinh

  • Lưỡng tính thật sự

  • Thuốc gây nam tính hoá

Phì đại âm vật sau sinh

Sự nam tính hoá

Khối u tiết Androgen (thường là buồng trứng)

Tuyến thượng thận tiết hormon gây nam tính hoá

Sử dụng steroid đồng hóa

Bộ phận sinh dục ngoài bình thường với các đặc điểm tình dục thứ phát phát triển không hoàn chỉnh (đôi khi vú phát triển nhưng lông mu rất ít)

Không thấy cổ tử cung và tử cung

Hội chứng không nhạy cảm với Androgen

Buồng trứng tăng kích thước (hai bên)

Triệu chứng của thiếu hụt estrogen

Suy buồng trứng nguyên phát do viêm buồng trứng tự miễn

Sự nam tính hóa

Thiếu hụt 17-Hydroxylase

Hội chứng buồng trứng đa nang

Tổn thương

Khối u vùng chậu (một bên)

Đau vùng chậu

Khối u hoặc apxe trong ổ phúc mạc

Tắc ruột do khối lạc niêm mạc tử cung

Thận to

Thận nằm ở vùng chậu

Khối u vùng chậu

Các bất thường về cấu trúc vùng chậu

Chứng xoắn ruột

Xét nghiệm

Tiền sử và khám sức khoẻ giúp kiểm tra trực tiếp.

Nếu các em gái có các đặc điểm sinh dục thứ phát, cần phải làm xét nghiệm thai để loại trừ thai nghén và bệnh nguyên bào nuôi như là nguyên nhân của chứng vô kinh. Phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ nên thử thai sau khi mất kinh một tháng.

Cách tiếp cận trường hợp vô kinh nguyên phát (xem Hình: Đánh giá vô kinh nguyên phát a .) khác với vô kinh thứ phát (xem Hình: Đánh giá vô kinh thứ phát *.), mặc dù không có cách tiếp cận chung cụ thể hoặc giả định được chấp nhận rộng rãi.

Nếu bệnh nhân bị vô kinh nguyên phát và các đặc điểm sinh dục thứ phát bình thường thì nên bắt đầu siêu âm vùng chậu để phát hiện tắc nghẽn đường sinh dục bẩm sinh.

Đánh giá vô kinh nguyên phát a .

Đánh giá vô kinh nguyên phát <sup >a</sup> .

aGiá trị bình thường là

  • DHEAS: 250-300 ng / dL (0,7-0,8 μmol / L)

  • FSH: 5-20 IU / L

  • LH: 5-40 IU / L

  • Karyotype (nữ): 46, XX

  • Prolactin: 50 ng / ml (xem dưới đây)

  • Testosterone: 20-80 ng / dL (0,7-2,8 nmol / L)

Mặc dù các giá trị này là bình thường, phạm vi bình thường có thể khác nhau giữa các phòng xét nghiệm.

Prolactin 50-100 ng / mL được coi là tăng nhẹ và thường do sử dụng thuốc. Prolactin> 100 ng / mL được coi là cao và có nhiều khả năng là do khối u.

bMột số bác sĩ lâm sàng đo nồng độ LH khi nồng độ FSH hoặc nồng độ FSH nghi ngờ.

cNếu bệnh nhân bị vô kinh nguyên phát và đặc điểm sinh dục thứ phát bình thường thì nên bắt đầu bằng siêu âm vùng chậu để kiểm tra tắc nghẽn bẩm sinh về giải phẫu của đường sinh dục.

dHạn chế sự phát triển thể chất và dậy có thể xảy ra.

eChẩn đoán có thể bao gồm suy chức năng vùng dưới đồi gây không rụng trứng mạn tính và các rối loạn di truyền (ví dụ, thiếu hóc môn giải phóng gonadotropin bẩm sinh, hội chứng Prader-Willi).

fCác chẩn đoán có thể bao gồm hội chứng Cushing, androgens ngoại sinh, bệnh thượng thận bẩm sinh nam hóa và hội chứng buồng trứng đa nang.

gCó thể chẩn đoán bao gồm hội chứng Turner và các rối loạn đặc trưng của nhiễm sắc thể Y.

hLông mu có thể thưa thớt.

DHEAS = dehydroepiandrosterone sulfate; FSH = hóc môn kích thích nang trứng; LH = hóc môn lutein hóa; TSH = hóc môn kích thích tuyến giáp.

Đánh giá vô kinh thứ phát *.

Đánh giá vô kinh thứ phát *.

* Các giá trị bình thường là

  • DHEAS: 250-300 ng / dL (0,7-0,8 μmol / L)

  • FSH: 5-20 IU / L

  • Karyotype (nữ): 46, XX

  • Prolactin: 50 ng / ml (xem dưới đây)

  • Testosterone: 20-80 ng / dL (0,7-2,8 nmol / L)

Mặc dù các giá trị này là bình thường, phạm vi bình thường có thể khác nhau giữa các phòng xét nghiệm.

Prolactin 50-100 ng / mL được coi là tăng nhẹ và thường do tác dụng phụ của thuốc. Prolactin > 100 ng / mL được đánh giá là tăng và có nhiều khả năng do khối u.

Một số bác sĩ lâm sàng đồng thời đo nồng độ FSH và LH.

Các bác sĩ nên kiểm tra sự hiện diện của nhiễm sắc thể Y và hội chứng Fragile X.

DHEAS = dehydroepiandrosterone sulfate; FSH = hóc môn kích thích nang trứng; LH = hóc môn lutein hóa; PCOS = hội chứng buồng trứng đa nang; TSH = hóc môn kích thích tuyến giáp.

Nếu các triệu chứng hoặc dấu hiệu cho thấy một rối loạn cụ thể, các xét nghiệm đặc hiệu có thể được chỉ định bất kể giả định đề xuất là gì Ví dụ, những bệnh nhân với bụng trắng bóng, mặt tròn, cổ trâu, thân béo tròn, và các chi gầy nên được làm xét nghiệm về Hội chứng Cushing. Bệnh nhân bị nhức đầu và giảm thị lực hoặc bằng chứng về rối loạn tuyến yên cần chụp MRI não.

Nếu đánh giá lâm sàng cho thấy một bệnh mạn tính, xét nghiệm chức năng gan và thận được thực hiện, và ESR được xác định.

Thông thường, xét nghiệm bao gồm việc đo nồng độ hóc môn; testosterone toàn phần trong huyết thanh hoặc nồng độ dehydroepiandrosterone sulfate (DHEAS) chỉ được đo nếu có dấu hiệu nam hóa. Hàm lượng hormon chắc chắn nên được đo lại để xác nhận kết quả. Ví dụ, nếu prolactin huyết thanh tăng, cần được đo lại; nếu FSH huyết thanh cao, cần được đo lại hàng tháng ít nhất hai lần. Vô kinh có nồng độ FSH cao (hypergonadotropic hypogonadism) cho thấy rối loạn chức năng buồng trứng; vô kinh có nồng độ FSH thấp (hypogonadotropic hypogonadism) cho thấy sự rối loạn chức năng vùng dưới đồi hoặc tuyến yên.

Nếu bệnh nhân bị vô kinh thứ phát mà không có nam hóa, có nồng độ prolactin và FSH bình thường và chức năng tuyến giáp bình thường thì có thể dùng thử estrogen và progestogen để kích thích kinh nguyệt (progesterone challenge test).

Nghiệm pháp thử thách progesterone bắt đầu bằng cách cho medroxyprogesterone 5 đến 10 mg uống một lần mỗi ngày hoặc một progestogen khác trong 7 đến 10 ngày.

  • Nếu chảy máu xảy ra, vô kinh có lẽ không phải do tổn thương nội mạc tử cung (ví dụ hội chứng Asherman) hoặc tắc nghẽn đường chảy ra của kinh, và nguyên nhân có thể là rối loạn chức năng vùng dưới đồi - tuyến yên, suy giảm buồng trứng, hoặc thừa estrogen.

  • Nếu chảy máu không xảy ra, một estrogen (ví dụ, estrogen kết hợp ngựa 1,25 mg, estradiol 2 mg) một lần / ngày được cho trong 21 ngày, tiếp theo là medroxyprogesterone 10 mg uống một lần hàng ngày hoặc một progestogen khác trong 7 đến 10 ngày. Nếu chảy máu không xảy ra sau khi điều trị bằng estrogen, bệnh nhân có thể có tổn thương niêm mạc tử cung hoặc tắc nghẽn đường chảy ra của kinh. Tuy nhiên, chảy máu không xảy ra ở những bệnh nhân không có những bất thường này (ví dụ, vì tử cung không nhạy cảm với estrogen); do đó, thử nghiệm sử dụng estrogen và progestin có thể được lặp lại để xác nhận.

Tuy nhiên, vì thử nghiệm này kéo dài nhiều tuần và kết quả có thể không chính xác, chẩn đoán một số rối loạn nghiêm trọng có thể bị trì hoãn đáng kể; do đó, MRI não nên được xem xét trước hoặc trong thời gian thử nghiệm.

Mức độ tăng nhẹ testosterone hoặc DHEAS cho thấy hội chứng buồng trứng đa nang, nhưng mức độ có thể tăng lên ở phụ nữ có rối loạn chức năng vùng dưới đồi hoặc tuyến yên hoặc đôi khi rất bình thường ở những phụ nữ rậm lông có hội chứng buồng trứng đa nang. Nguyên nhân của tăng nồng độ đôi khi có thể được xác định bằng cách đo nồng độ LH huyết thanh. Trong hội chứng buồng trứng đa nang, nồng độ LH huyết thanh thường tăng lên, làm tăng tỉ số LH trên FSH.

Điều trị

Điều trị theo hướng trực tiếp vào rối loạn cơ bản; với cách điều trị như vậy, thỉnh thoảng bệnh nhân vẫn có kinh nguyệt. Ví dụ, hầu hết các bất thường cản trở đường ra kinh của bộ phận sinh dục đều được phẫu thuật chỉnh sửa.

Nếu có một nhiễm sắc thể Y, thì nên làm phẫu thuật cắt buồng trứng hai bên vì nguy cơ ung thư tế bào mầm của buồng trứng tăng.

Các vấn đề liên quan đến vô kinh có thể cũng cần điều trị, bao gồm

  • Kích thích sự rụng trứng nếu muốn mang thai

  • Điều trị các triệu chứng và tác động lâu dài của thiếu hụt ( estrogen ví dụ, loãng xương, rối loạn tim mạch, teo âm đạo)

  • Điều trị triệu chứng và quản lý hiệu quả lâu dài của estrogen quá mức (ví dụ, chảy máu kéo dài, căng đau vú dai dẳng hoặc chói, nguy cơ quá sản nội mạc tử cung và ung thư)

  • Giảm thiểu sự rậm lông và ảnh hưởng lâu dài của thừa androgen (ví dụ rối loạn tim mạch, cao huyết áp)

Những điểm chính

  • Vô kinh nguyên phát ở bệnh nhân không có các đặc điểm tình dục thứ phát bình thường thường là không phóng noãn (ví dụ, do rối loạn di truyền).

  • Luôn loại trừ việc mang thai bằng xét nghiệm chứ không phải bằng tiền sử.

  • Vô kinh nguyên phát được đánh giá khác với vô kinh thứ phát.

  • Nếu bệnh nhân bị vô kinh nguyên phát và đặc điểm sinh dục thứ phát bình thường, bắt đầu bằng siêu âm vùng khung chậu để kiểm tra tắc nghẽn giải phẫu bộ phận sinh dục bẩm sinh.

  • Nếu bệnh nhân có dấu hiệu nam hóa, kiểm tra các điều kiện gây thừa androgen (ví dụ như hội chứng buồng trứng đa nang, khối u tiết androgen, hội chứng Cushing, sử dụng một số thuốc nhất định).

  • Nếu bệnh nhân có các triệu chứng và dấu hiệu của thiếu hụt estrogen (ví dụ: bốc hoả, đổ mồ hôi ban đêm, khô hoặc teo âm đạo), đánh giá suy buồng trứng nguyên phát và các tình trạng gây nên chức năng không phóng noãn của vùng dưới đồi

  • Nếu bệnh nhân có tiết dịch sữa, hãy kiểm tra các tình trạng gây tăng prolactin máu (ví dụ, rối loạn chức năng tuyến yên, sử dụng một số thuốc).

Cũng quan tâm

Các video

Xem tất cả
Làm thế nào để sửa chữa một vết rách cổ tử cung
Video
Làm thế nào để sửa chữa một vết rách cổ tử cung
Các mô hình 3D
Xem tất cả
Sinh đường âm đạo
Mô hình 3D
Sinh đường âm đạo

TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI

TRÊN CÙNG