Suy tim cấp tính

(Suy tim sung huyết)

TheoNowell M. Fine, MD, SM, Libin Cardiovascular Institute, Cumming School of Medicine, University of Calgary
Xem xét bởiJonathan G. Howlett, MD, Cumming School of Medicine, University of Calgary
Đã xem xét/Đã chỉnh sửa đã sửa đổi Thg 10 2025
v935852_vi

Suy tim (HF) là một hội chứng lâm sàng trong đó tim không đáp ứng được các nhu cầu về chuyển hóa của cơ thể do bất thường về cấu trúc và/hoặc chức năng tim, dẫn đến cung lượng tim thấp, áp lực đổ đầy tâm thất tăng cao hoặc cả hai. Suy tim cấp tính bao gồm cả suy tim mới khởi phát và suy tim mất bù cấp tính (là đợt cấp của suy tim mạn tính). Ở cả hai trường hợp, đều có các dấu hiệu hoặc triệu chứng tiến triển của tình trạng sung huyết tim, cung lượng tim thấp hoặc cả hai. Cần phải can thiệp nội khoa kịp thời, nhằm giảm triệu chứng và điều trị nguyên nhân.

(Xem thêm Tổng quan về suy tim.)

Suy tim cấp tính không chỉ đề cập đến thời điểm có biểu hiện lâm sàng trong quá trình diễn biến bệnh tổng thể mà còn đề cập đến tầm quan trọng của việc can thiệp nội khoa kịp thời (1). Tình trạng này có thể bao gồm suy tim mới khởi phát (de novo) hoặc mất bù cấp tính của tình trạng suy tim đã được chẩn đoán trước đó. Suy tim cấp được phân loại theo kiểu hình và phân tầng nguy cơ dựa trên mức độ nặng chung của bệnh, thay đổi trong quá trình tưới máu ("ấm" so với "lạnh"), có tình trạng sung huyết ("khô" so với "ướt") và các chi tiết khác về biểu hiện lâm sàng (2, 3).

Tài liệu tham khảo chung

  1. 1. Mebazaa A, Yilmaz MB, Levy P, et al. Recommendations on pre-hospital & early hospital management of acute heart failure: a consensus paper from the Heart Failure Association of the European Society of Cardiology, the European Society of Emergency Medicine and the Society of Academic Emergency Medicine. Eur J Heart Fail. 2015;17(6):544-558. doi:10.1002/ejhf.289

  2. 2. Arrigo M, Jessup M, Mullens W, et al. Acute heart failure. Nat Rev Dis Primers. 2020;6(1):16. Xuất bản ngày 5 tháng 3 năm 2020. doi:10.1038/s41572-020-0151-7

  3. 3. Hollenberg SM, Warner Stevenson L, Ahmad T, et al. 2019 ACC Expert Consensus Decision Pathway on Risk Assessment, Management, and Clinical Trajectory of Patients Hospitalized With Heart Failure: A Report of the American College of Cardiology Solution Set Oversight Committee [published correction appears in J Am Coll Cardiol. Ngày 7 tháng 1 năm 2020;75(1):132. doi: 10.1016/j.jacc.2019.11.020.]. J Am Coll Cardiol. 2019;74(15):1966-2011. doi:10.1016/j.jacc.2019.08.001

Các triệu chứng và dấu hiệu của suy tim cấp tính

Các biểu hiện của suy tim khác nhau tùy thuộc vào mức độ ảnh hưởng ban đầu của tâm thất trái (LV) và tâm thất phải (RV). Suy tim phải cấp tính được thảo luận riêng.

Tiền sử

Trong suy thất trái, các triệu chứng phổ biến nhất là khó thở và mệt mỏi do tăng áp lực tĩnh mạch phổi có hoặc không kèm theo phù phổi và cung lượng tim thấp (khi nghỉ ngơi hoặc không có khả năng tăng cung lượng tim khi gắng sức). Khó thở có thể xảy ra khi gắng sức hoặc khi nghỉ ngơi, tùy thuộc vào mức độ nặng của bệnh. Sốc do tim, nếu có, có thể gây ra những bất thường về trạng thái tinh thần và chức năng của hệ thống cơ quan.

Khám

Khám tổng quát có thể phát hiện các dấu hiệu của bệnh lý hệ thống hoặc bệnh lý tim gây ra hoặc làm trầm trọng thêm tình trạng suy tim (ví dụ: thiếu máu, cường giáp, rối loạn sử dụng rượu, bệnh sắc tố sắt mô, rung nhĩ nhịp nhanh, hở van hai lá).

Suy tim trái có thể có biểu hiện thở nhanh và nhịp tim nhanh. Nhịp tim thường tăng lên như một cơ chế bù trừ, nhưng nhịp tim chậm có thể xảy ra trong quá trình mất bù hoặc nếu có tình trạng nhịp tim chậm tiềm ẩn. Huyết áp có thể cao, bình thường hoặc thấp, tùy thuộc vào sự thay đổi về cung lượng tim, tình trạng thể tích, sức cản của mạch máu toàn thân do bệnh nền và phản ứng bù trừ. Bệnh nhân suy tim trái nặng có thể biểu hiện khó thở hoặc tím rõ, hạ huyết áp, lú lẫn hoặc kích động vì hạ oxy máu và tưới máu não kém. Các triệu chứng ít đặc hiệu (như lú lẫn), phổ biến hơn ở người lớn tuổi.

Tím trung ương (ảnh hưởng đến toàn bộ cơ thể, bao gồm các vùng ấm như lưỡi và niêm mạc) phản ánh tình trạng thiếu oxy máu trầm trọng. Tím ngoại biên xuất hiện tại môi, móng và ngón tay, ngón chân, phản ánh tình trạng dòng tưới máu thấp kèm theo tăng giải phóng oxy ngoại vi. Nếu xoa bóp mạnh vào đầu ngón làm cải thiện màu sắc giường móng, có thể đó là tình trạng tím ngoại vi; nếu các nghiệm pháp gia tăng dòng tưới máu cục bộ không làm cải thiện màu sắc giường máu, tình trạng đó là tím trung ương.

Các dấu hiệu về tim trong suy tim cấp tính có phân suất tống máu giảm (HFrEF) bao gồm:

  • Lan tỏa, duy trì, và thay thế xung động đỉnh theo chiều ngang

  • Tiếng tim thứ ba (S3) và tiếng tim thứ tư (S4) có thể nghe được và đôi khi sờ thấy được

  • Phần tiếng van động mạch phổi nhấn mạnh (P2) của tiếng tim thứ hai (S2)

Những âm thanh bất thường ở tim này cũng có thể xảy ra trong trường hợp suy tim có phân suất tống máu bảo tồn (HFpEF) hoặc suy tim có phân suất tống máu giảm ở mức tối thiểu (HRmrEF). Có thể xảy ra tiếng thổi tâm thu toàn phần do hở van hai lá ở đỉnh tim, đặc biệt là nếu thất trái giãn đáng kể. Tĩnh mạch cảnh nổi cho thấy áp lực nhĩ phải tăng cao. Mạch luân phiên (mạch đập xen kẽ giữa các nhịp mạnh và yếu) có thể đi kèm với chức năng tâm thu thất trái giảm nghiêm trọng và trước đây được coi là dấu hiệu tiên lượng kém (1, 2).

Các dấu hiệu của phổi bao gồm tiếng ran nổ ở đáy phổi khi hít vào sớm không hết khi ho và nếu có tràn dịch màng phổi, sẽ thấy tiếng gõ đục và giảm tiếng thở ở đáy phổi. Tiếng thở khò khè hoặc tiếng thở rít có thể xuất hiện do viêm các đường thở nhỏ hơn do phù phổi hoặc do chèn ép các đường thở lớn hơn bởi các cấu trúc tim mở rộng (tức là tâm nhĩ trái hoặc các mạch máu lớn).

Tài liệu tham khảo về các dấu hiệu và triệu chứng

  1. 1. Aslanger E, Aggül B, Albayrak DG. Pulsus Alternans: Caught in Action. Catheter Cardiovasc Interv. 2025;105(1):270-271. doi:10.1002/ccd.31295

  2. 2. Schaefer S, Malloy CR, Schmitz JM, Dehmer GJ. Clinical and hemodynamic characteristics of patients with inducible pulsus alternans. Am Heart J. 1988;115(6):1251-1257. doi:10.1016/0002-8703(88)90017-8

Chẩn đoán suy tim cấp

  • Bệnh sử và khám thực thể

  • Chụp X-quang ngực

  • Siêu âm tim

  • Đánh giá xét nghiệm, bao gồm các chất chỉ điểm sinh học thần kinh nội tiết như nồng độ peptide natri lợi niệu não (loại B) (BNP) hoặc nồng độ N-terminal-pro-BNP (NT-pro-BNP)

  • Đôi khi điện tâm đồ, chụp xạ hình tim, chụp MRI tim, thông tim và các kiểm tra khác để tìm nguyên nhân và đánh giá tác động lên chức năng của các cơ quan đích

Các triệu chứng lâm sàng (ví dụ: khó thở gắng sức hoặc mệt mỏi, khó thở không nằm được đầu bằng, phù, nhịp nhanh, rale phổi, tiếng S3, tĩnh mạch cổ nổi) thường gợi ý chẩn đoán suy tim, nhưng ít khi biểu hiện sớm. Một số triệu chứng tương tự có thể là do bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) hoặc viêm phổi tái phát hoặc có thể bị nhầm lẫn là do béo phì hoặc tuổi già. Cần phải nghi ngờ suy tim ở những bệnh nhân có tiền sử nhồi máu cơ tim, tăng huyết áp, bệnh lý van tim hoặc tiếng thổi tim và cần phải nghi ngờ ở mức độ vừa phải ở bất kỳ bệnh nhân nào cao tuổi hoặc mắc bệnh tiểu đường.

Nên chụp X-quang ngực, làm điện tâm đồ và thực hiện một kiểm tra khách quan về chức năng tim, thường là siêu âm tim (xem hình ). Các xét nghiệm máu, ngoại trừ nồng độ BNP, không được sử dụng để chẩn đoán nhưng rất hữu ích để xác định nguyên nhân và các tác động trên toàn thân (1, 2). Tương tự như vậy, xét nghiệm máu, bao gồm axit lactic, các chất điện giải, chức năng thận và chức năng gan, có thể xác định tác động lên mô và mức độ tưới máu cơ quan.

Chẩn đoán suy tim cấp

Dữ liệu của McDonagh TA, Metra M, Adamo M, et al: 2021 ESC Guidelines for the diagnosis and treatment of acute and chronic heart failure: Developed by the Task Force for the diagnosis and treatment of acute and chronic heart failure of the European Society of Cardiology (ESC) with the special contribution of the Heart Failure Association (HFA) of the ESC. Eur Heart J 42(36):3599-3726, 2021. doi: 10.1093/eurheartj/ehab368.

ECG = điện tâm đồ; EF = phân suất tống máu; NT-pro-BNP = N-terminal-pro-BNP; BNP = Peptide natri lợi niệu não (loại B); HFmrEF = suy tim có phân suất tống máu giảm nhẹ; HFpEF = suy tim có phân suất tống máu bảo tồn; HFrEF = suy tim có phân suất tống máu giảm.

Chụp X-quang ngực

Các dấu hiệu trên phim chụp X-quang ngực cho thấy suy tim bao gồm bóng tim to, tràn dịch màng phổi, dịch trong rãnh liên thất lớn và các đường ngang ở ngoại vi của trường phổi sau dưới (đường Kerley B). Các triệu chứng này cho thấy tình trạng tăng áp lực nhĩ trái và dày thành rãnh liên thùy mạn tính. Có thể có biểu hiện sung huyết tĩnh mạch phổi tại thùy trên phổi, ứ dịch tại phế nang hoặc khoảng kẽ. Quan sát kỹ các đường cung tim trên phim chụp nghiêng, có thể xác định được tình trạng giãn các buồng nhĩ hoặc thất. Phim chụp X-quang cũng có thể gợi ý các chẩn đoán thay thế (ví dụ: COPD, viêm phổi, xơ phổi vô căn, ung thư phổi).

ECG

Các dấu hiệu trên điện tâm đồ không mang tính chẩn đoán, nhưng điện tâm đồ bất thường, đặc biệt là điện tâm đồ cho thấy tiền sử nhồi máu cơ tim, phì đại thất trái, block nhánh trái hoặc nhịp tim nhanh (ví dụ: rung nhĩ nhanh), làm tăng nghi ngờ suy tim và có thể giúp xác định nguyên nhân. Có thể có tình trạng phì đại nhĩ trái hoặc phì đại nhĩ phải. Phì đại thất trái có thể phản ánh tình trạng giãn thất trái hoặc điện áp có thể giảm trong trường hợp rối loạn chức năng tâm thu thất trái nặng.

Chẩn đoán hình ảnh khác của tim

Siêu âm tim có thể giúp đánh giá kích thước buồng tim, chức năng van, LVEF, các bất thường về chuyển động của thành tim, phì đại LV, chức năng tâm trương, áp lực động mạch phổi, áp lực đổ đầy LV và RV, chức năng RV và tràn dịch màng ngoài tim. Siêu âm tim cũng có thể giúp phát hiện huyết khối, khối u, vôi hóa van tim, vòng van hai lá và các bất thường trên thành động mạch chủ. Rối loạn vận động thành cơ tim từng vùng hoặc phân đoạn thường rất gợi ý chẩn đoán bệnh mạnh vành, nhưng dấu hiệu này cũng có thể xuất hiện trong viêm cơ tim.

Siêu âm Doppler hoặc siêu âm Doppler màu giúp phát hiện một cách chính xác các bệnh lý van tim và các shunt. Sự kết hợp Doppler đánh giá dòng chảy của van hai lá với siêu âm đánh giá hình ảnh mô tại vòng van có thể giúp xác định chính xác rối loạn chức năng tâm trương thất trái và áp lực đổ đầy thất trái.

Đo phân suất tống máu thất trái giúp phân biệt giữa suy tim có phân suất tống máu bảo tồn (EF 50%) và suy tim giảm phân suất tống máu (EF 40%). Tuy nhiên, vẫn cần nhấn mạnh rằng bệnh nhân vẫn có thể có tình trạng suy tim, dù phân suất tống máu thất trái bình thường.

Siêu âm tim đánh dấu mô, một biện pháp đo độ biến dạng, hữu ích trong việc phát hiện rối loạn chức năng tâm thu cận lâm sàng và các kiểu rối loạn chức năng cơ tim cụ thể và có thể cung cấp thông tin hữu ích về kiểu ảnh hưởng của cơ tim đến bệnh cơ tim và do đó cung cấp thông tin về nguyên nhân.

Chụp ảnh nuclit phóng xạ cũng có thể giúp đánh giá chức năng tâm thu và chức năng tâm trương, nhồi máu cơ tim trước đó và tình trạng thiếu máu cục bộ hoặc tình trạng ngủ đông cơ tim có thể gây ra. Nó được sử dụng phổ biến nhất để đánh giá sự hiện diện và/hoặc mức độ nặng của bệnh thiếu máu cơ tim cục bộ và cũng có thể được sử dụng để định lượng phân suất tống máu thất trái.

Chụp MRI tim sử dụng chẩn đoán hình ảnh có tăng cường gadolinium muộn (LGE, còn gọi là hình ảnh xơ hóa hoặc hình ảnh sẹo) rất hữu ích để đánh giá nguyên nhân gây bệnh cơ tim và phát hiện xơ hóa cơ tim khu trú và lan tỏa. Thoái hóa dạng tinh bột tim, bệnh sarcoit, bệnh nhiễm sắc tố sắt mô và viêm cơ tim là những nguyên nhân gây suy tim có thể được phát hiện hoặc nghi ngờ dựa trên kết quả chụp MRI tim. Bệnh nhân suy tim cấp tính phải được ổn định để tiến hành chụp MRI tim, vì phải nằm ngửa trong thời gian dài và nín thở phối hợp (hoặc trong một số trường hợp, phải gây mê toàn thân kết hợp hỗ trợ thở máy) trong khi thực hiện việc kiểm tra này.

Xét nghiệm máu

Nồng độ BNP huyết thanh thường tăng cao trong trường hợp suy tim; đây là dấu hiệu hữu ích khi lâm sàng không rõ ràng hoặc cần loại trừ các chẩn đoán khác (như COPD). Xét nghiệm này có thể đặc biệt hữu ích với những bệnh nhân có cả tiền sử bệnh lý hô hấp và tim mạch. NT-pro-BNP là một phân tử không hoạt tính được hình thành khi phân tử pro BNP bị phân cắt. Tuy nhiên, nồng độ BNP ở ngưỡng bình thường không giúp loại trừ chẩn đoán suy tim, đặc biệt ở bệnh nhân suy tim có phân suất tống máu bảo tồn và/hoặc béo phì. Ở HFpEF, nồng độ BNP có xu hướng bằng khoảng 50% nồng độ liên quan đến HFrEF (ở mức độ triệu chứng tương tự) và có tới 30% số bệnh nhân bị HFpEF cấp tính có nồng độ BNP dưới ngưỡng thường dùng là 100 pg/mL (100 ng/L). Béo phì, một bệnh lý đi kèm phổ biến ở bệnh nhân suy tim, có liên quan đến việc giảm sản sinh ra BNP và tăng thanh thải BNP, dẫn đến nồng độ BNP thấp hơn.

Bên cạnh đó BNP, các xét nghiệm máu được khuyến nghị bao gồm công thức máu, creatinine, nitơ urê máu (BUN), cá chất điện giải (bao gồm magiê và canxi), glucose, albumin, ferritin và xét nghiệm chức năng gan. Các xét nghiệm chức năng tuyến giáp được khuyến cáo cho những bệnh nhân rung nhĩ và trên một số đối tượng bệnh nhân chọn lọc, đặc biệt là đối tượng người cao tuổi.

Các xét nghiệm khác

Siêu âm lồng ngực là phương pháp không xâm lấn để phát hiện tình trạng sung huyết ở phổi trên bệnh nhân suy tim. "Hiện tượng đuôi sao chổi" trên siêu âm lồng ngực tương ứng với dấu hiệu đường Kerley B trên phim chụp X-quang.

Chụp mạch vành hoặc chụp CT mạch vành được chỉ định khi nghi ngờ bệnh mạch vành, hoặc chưa có chẩn đoán xác định căn nguyên gây suy tim.

Thông tim kèm theo các chỉ số đo áp lực trong tim (đánh giá huyết động xâm lấn) có thể hữu ích trong việc chẩn đoán các bệnh cơ tim hạn chế và viêm màng ngoài tim co thắt. Các phương pháp đo huyết động xâm lấn cũng rất hữu ích trong chẩn đoán các trường hợp suy tim không rõ ràng, đặc biệt ở bệnh nhân suy tim có phân suất tống máu bảo tồn. Ngoài ra, việc làm nhiễu loạn hệ thống tim mạch (ví dụ: nghiệm pháp gắng sức, thử nghiệm về thể tích, thử nghiệm thuốc [ví dụ: nitroglycerin, nitroprusside]) có thể rất hữu ích trong quá trình thử nghiệm huyết động xâm lấn để giúp chẩn đoán suy tim.

Sinh thiết nội tâm mạc-cơ tim đôi khi được thực hiện khi nghi ngờ ở mức cao về bệnh cơ tim thâm nhiễm hoặc viêm cơ tim tế bào khổng lồ cấp tính nhưng không thể xác nhận bằng chẩn đoán hình ảnh không xâm lấn (ví dụ: chụp MRI tim).

Tài liệu tham khảo về chẩn đoán

  1. 1. McDonagh TA, Metra M, Adamo M, et al: 2021 ESC Guidelines for the diagnosis and treatment of acute and chronic heart failure: Developed by the Task Force for the diagnosis and treatment of acute and chronic heart failure of the European Society of Cardiology (ESC) with the special contribution of the Heart Failure Association (HFA) of the ESC. Eur Heart J 42(36):3599-3726, 2021. doi: 10.1093/eurheartj/ehab368

  2. 2. Heidenreich PA, Bozkurt B, Aguilar D, et al: 2022 AHA/ACC/HFSA Guideline for the Management of Heart Failure: A report of the American College of Cardiology/American Heart Association Joint Committee on Clinical Practice Guidelines. Circulation 145:e876–e894, 2022, doi: 10.1161/CIR.0000000000001062

Điều trị suy tim cấp tính

  • Điều trị bằng thuốc

  • Hỗ trợ hệ hô hấp và hệ thống cơ quan khác khi cần thiết

  • Xác định và điều trị nguyên nhân

  • Đôi khi cần sử dụng các thiết bị điều trị (như cấy máy khử rung, máy tái đồng bộ tim, hỗ trợ tuần hoàn cơ học)

  • Đôi khi có chỉ định ghép tim

  • Chăm sóc đa chuyên ngành

Cần phải điều trị nội trú ngay lập tức cho những bệnh nhân bị suy tim cấp tính hoặc suy tim trầm trọng hơn do một số bệnh lý nhất định (ví dụ: nhồi máu cơ tim cấp tính, rung nhĩ có nhịp thất rất nhanh, tăng huyết áp nặng, hở van tim cấp tính), cũng như cho những bệnh nhân bị phù phổi, các triệu chứng nặng, suy tim mới khởi phát hoặc suy tim không đáp ứng với điều trị ngoại trú. Bệnh nhân đã được chẩn đoán suy tim trước đó, với các đợt tiến triển nhẹ có thể được điều trị tại nhà.

Mục tiêu điều trị chính là để chẩn đoán và điều trị bệnh lý căn nguyên gây suy tim.

Mục tiêu điều trị cấp tính bao gồm giảm triệu chứng và cải thiện huyết động (tối ưu hóa tiền gánh, cân bằng chức năng tâm thất với nhu cầu oxy của cơ tim và giảm hậu gánh một cách thích hợp); tránh hạ kali máu, rối loạn chức năng thận và hạ huyết áp có triệu chứng; và điều chỉnh việc kích hoạt thần kinh thể dịch.

Phương pháp điều trị bằng thuốc chính cho suy tim cấp là liệu pháp chống sung huyết bằng thuốc lợi tiểu, cụ thể là thuốc lợi tiểu quai (ví dụ: furosemide, torsemide, bumetanide) dưới dạng uống hoặc dạng dùng theo đường tĩnh mạch. (Xem phần Phù phổi để biết thêm thảo luận chi tiết.) Thuốc lợi tiểu quai có thể được tăng cường bằng cách thêm các nhóm thuốc lợi tiểu khác như thiazide (ví dụ: metolazone). Giảm hậu gánh bằng thuốc giãn mạch động mạch đường uống và đường tĩnh mạch (ví dụ: nitroprusside) cũng có thể được sử dụng để cải thiện tình trạng suy tim cấp tính. Thuốc giãn mạch phổi (ví dụ: liệu pháp nitrat) cũng có thể được sử dụng để làm giảm các triệu chứng sung huyết cấp tính. Suy tim cung lượng tim thấp, đặc biệt là trong trường hợp sốc do tim, thường cần điều trị cấp tính bằng thuốc tăng co bóp cơ tim theo đường tĩnh mạch (ví dụ: milrinone, dobutamine). Việc điều trị nguyên nhân gây suy tim cũng có thể được chỉ định cấp cứu, đặc biệt là đối với một số nguyên nhân nhất định như thiếu máu cục bộ cấp tính hoặc loạn nhịp tim.

Đối với suy tim có phân suất tống máu giảm (HRrEF) trong trường hợp cấp tính, liệu pháp điều trị nội khoa theo hướng dẫn bằng thuốc ức chế đồng vận chuyển natri-glucose 2 (SGLT2), thuốc chẹn beta, thuốc ức chế thụ thể angiotensin/neprilysin và thuốc đối kháng thụ thể mineralocorticoid nên được bắt đầu sau khi bệnh nhân ổn định (1, 2). Liều thuốc được tăng nhanh đến mức liều mục tiêu trong thời gian nằm viện và trong 6 tuần đầu theo dõi để làm giảm nguy cơ tử vong và tái nhập viện. Xem phần Suy tim mạn tínhThuốc điều trị suy tim để biết thông tin chi tiết hơn về các loại thuốc này.

Các loại thuốc khác, chẳng hạn như nesiritide (một loại peptide natri lợi niệu não), levosimendan (một loại thuốc tăng co bóp cơ tim nhạy cảm với canxi), vesnarinone (một loại thuốc tăng co bóp cơ tim có nhiều cơ chế) và ibopamine (một loại thuốc chủ vận thụ thể dopaminergic và adrenergic), có thể cải thiện triệu chứng hoặc huyết động trong thời gian ngắn nhưng không cải thiện, và trong một số trường hợp có thể làm xấu đi, kết quả dài hạn so với liệu pháp tiêu chuẩn (trong các thử nghiệm phân nhóm ngẫu nhiên, tỷ lệ tử vong cao hơn ở vesnarinoneibopamine và tương tự ở nesiritide (3, 4, 5,6). Serelaxin (một dạng tái tổ hợp của hormone relaxin-2 ở người khi mang thai) đã được nghiên cứu, nhưng lợi ích không được thể hiện trong một nghiên cứu phân nhóm ngẫu nhiên quốc tế quy mô lớn (7). Omecamtiv mecarbil (một loại thuốc hoạt hóa myosin tim đường uống) làm giảm tiêu chí đánh giá tổng hợp là biến cố suy tim hoặc tử vong nhưng không làm giảm tỷ lệ tử vong do tim mạch nói chung trong một thử nghiệm phân nhóm ngẫu nhiên quy mô lớn. (8).

Xem phần Thuốc điều trị suy tim để biết thông tin chi tiết hơn về các loại thuốc cụ thể.

Áp lực đường thở dương thông qua canun mũi lưu lượng cao, áp lực đường thở dương liên tục hoặc áp lực đường thở dương hai mức hoặc đặt nội khí quản thường làm giảm hậu gánh thất trái bằng cách tăng áp lực trong lồng ngực và giảm áp lực xuyên thành thất trái.

Điều trị loạn nhịp tim

Vì loạn nhịp có thể làm suy tim trầm trọng hơn nên điều quan trọng là phải xác định và điều trị nguyên nhân gây bất cứ loạn nhịp nào.

  • Tình trạng rối loạn điện giải cần được điều chỉnh trong giới hạn bình thường.

  • Cần phải kiểm soát tốt tần số nhĩ và thất.

  • Đôi khi cần phải dùng thuốc chống loạn nhịp tim.

Nhịp nhanh xoang là tình trạng thường gặp trong suy tim, nó thường thuyên giảm khi điều trị suy tim hiệu quả. Nếu không thuyên giảm, cần tìm kiếm các nguyên nhân liên quan (ví dụ như cường giáp, cục nghẽn mạch phổi, sốt, thiếu máu, đau). Nếu nhịp nhanh xoang vẫn tồn tại mặc dù đã điều trị nguyên nhân, việc sử dụng thuốc chẹn beta theo liều tăng dần có thể hữu ích trên một số đối tượng bệnh nhân nhất định. Tuy nhiên, hạ nhịp tim bằng thuốc chẹn beta có thể gây bất lợi trên bệnh nhân suy tim có phân suất tống máu bảo tồn đang trong đợt tiến triển (như bệnh cơ tim hạn chế), do rối loạn chức năng tâm trương nặng khiến cho không tăng được thể tích nhát bóp. Ở những bệnh nhân này, cung lượng tim phụ thuộc vào nhịp tim và việc giảm nhịp tim có thể làm giảm cung lượng tim khi nghỉ ngơi khi gắng sức hoặc cả hai.

Tình trạng rung nhĩ đáp ứng nhịp thất nhanh cần được điều trị triệt để; tần số đáp ứng thất cần được kiểm soát < 80 lần/phút. Thuốc chẹn beta là một lựa chọn điều trị, tuy nhiên, cũng có thể sử dụng thận trọng các thuốc chẹn kênh canxi có tác dụng làm chậm nhịp, nếu chức năng tâm thu được bảo tồn. Việc bổ sung digoxin, amiodarone liều thấp hoặc các loại thuốc kiểm soát nhịp tim và/hoặc tần số khác có thể có tác dụng cho một số bệnh nhân. Việc chuyển đổi thường quy sang và duy trì nhịp xoang chưa được chứng minh là ưu việt hơn so với việc kiểm soát nhịp tim đơn thuần trong các thử nghiệm phân nhóm ngẫu nhiên (9). Tuy nhiên,các quyết định điều trị nên được đưa ra tùy theo tình trạng cụ thể của từng bệnh nhân, bởi một số bệnh nhân cho thấy sự cải thiện đáng kể khi áp dụng các biện pháp chuyển nhịp. Nếu rung nhĩ nhanh không đáp ứng với thuốc, có thể cân nhắc cấy máy tạo nhịp tim vĩnh viễn với việc cắt bỏ hoàn toàn hoặc một phần nút nhĩ thất hoặc các thủ thuật cắt bỏ rung nhĩ khác để khôi phục nhịp xoang hoặc nhịp đều ở một số bệnh nhân được chọn.

Ngoại tâm thu thất đơn độc là tình trạng thường gặp ở bệnh nhân suy tim và không cần điều trị đặc hiệu, tuy nhiên, trong một số ít các trường hợp, ngoại tâm thu thất xuất hiện dày đặc (> 15.000/ngày) có thể gây suy tim (ngược với sự ức chế). Tuy nhiên, việc tối ưu hóa các phương pháp điều trị suy tim và điều chỉnh các bất thường về điện giải (đặc biệt là kali và magie) có thể làm giảm nguy cơ bị loạn nhịp thất.

Nhịp nhanh thất kéo dài mặc dù đã điều trị nguyên nhân (ví dụ: kali hoặc magie thấp, thiếu máu cục bộ) và điều trị nội khoa tối ưu cho suy tim có thể cần dùng thuốc chống loạn nhịp tim. Amiodarone, thuốc chẹn beta và dofetilide là những loại thuốc được lựa chọn vì các thuốc chống loạn nhịp tim khác có tác dụng bất lợi là thúc đẩy loạn nhịp tim khi có rối loạn chức năng tâm thu thất trái.

amiodarone làm tăng nồng độ digoxinwarfarin, nên phải giảm một nửa liều digoxin và warfarin hoặc ngừng sử dụng. Nồng độ digoxin trong huyết thanh và nồng độ INR (tỷ lệ chuẩn hóa quốc tế) cần được theo dõi thường xuyên. Tuy nhiên, độc tính của thuốc có thể xảy ra ngay cả ở mức liều điều trị. Vì sử dụng amiodarone trong thời gian dài có thể gây ra tác dụng bất lợi nên nên sử dụng liều thấp khi có thể; xét nghiệm máu để kiểm tra chức năng gan và hormone kích thích tuyến giáp được thực hiện 6 tháng một lần. Nếu phim chụp X-quang ngực bất thường hoặc tình trạng khó thở trở nên nghiêm trọng hơn, cần chụp X-quang ngực và kiểm tra chức năng phổi hàng năm để kiểm tra tình trạng xơ phổi. Đối với loạn nhịp thất kéo dài, có thể cần dùng amiodarone; để làm giảm nguy cơ tử vong đột ngột, liều tấn công đường uống được dùng hai lần mỗi ngày trong vòng 1 tuần đến 3 tuần cho đến khi kiểm soát nhịp tim đạt yêu cầu, sau đó giảm liều trong vòng 1 tháng xuống thành liều duy trì một lần mỗi ngày.

Liệu pháp thiết bị và hỗ trợ tuần hoàn cơ học

Liệu pháp thiết bị, bao gồm máy khử rung tim cấy ghép vào cơ thể (ICD) và liệu pháp tái đồng bộ hóa tim (CRT), chủ yếu được sử dụng cho bệnh suy tim mạn tính. Tuy nhiên, liệu pháp tái đồng bộ hóa tim có thể mang lại phương pháp điều trị ở giai đoạn cấp tính cho một số bệnh nhân khi loạn nhịp tim kháng trị gây ra hoặc làm trầm trọng thêm tình trạng suy tim.

Các biện pháp siêu lọc (lọc tĩnh mạch) có thể hữu ích trong một số trường hợp bệnh nhân nhập viện có hội chứng tim thận mức độ nặng và thừa dịch kháng trị với lợi tiểu. Tuy nhiên, không nên sử dụng phương pháp siêu lọc thường quy vì không có bằng chứng rõ ràng cho thấy lợi ích lâm sàng lâu dài (10).

Bơm bóng đối xung trong động mạch chủ (IABP) hiệu quả cho một số bệnh nhân bị suy tim cấp có cơ hội phục hồi tốt (ví dụ: suy tim cấp sau nhồi máu cơ tim) hoặc những bệnh nhân cần cầu nối đến giải pháp lâu dài hơn như phẫu thuật tim (ví dụ: để chữa bệnh van tim nặng hoặc để tái thông nhiều mạch trong bệnh động mạch vành), thiết bị hỗ trợ thất trái hoặc ghép tim.

Các hình thức hỗ trợ tuần hoàn tạm thời khác bằng phương pháp cơ học cho bệnh nhân bị suy tim cấp tính và sốc tim bao gồm các thiết bị phẫu thuật như trao đổi oxy qua màng ngoài cơ thể (ECMO, thường có ống thông tĩnh mạch-động mạch ở bệnh nhân suy tim) và các thiết bị hỗ trợ tâm thất theo dòng ly tâm có thể hỗ trợ thất trái, thất phải hoặc cả hai và cũng có thể kết hợp với máy tạo oxy để có hỗ trợ tim phổi hoàn chỉnh. Các thiết bị được đặt phần trăm như thiết bị hỗ trợ thất vi trục nội mạch có sẵn cho cả hỗ trợ LV và RV. Việc lựa chọn các thiết bị hỗ trợ tuần hoàn cơ học tạm thời chủ yếu dựa trên sự sẵn có và kinh nghiệm của trung tâm y tế địa phương.

Vui lòng xem liệu pháp thiết bị để điều trị suy tim mạn tính để biết thêm thông tin.

Tài liệu tham khảo về điều trị

Tiên lượng về suy tim cấp

Nhìn chung, bệnh nhân nhập viện vì suy tim cấp tính có tiên lượng xấu trừ khi có thể điều chỉnh được nguyên nhân. Tỷ lệ của thời gian sống thêm chung trong 5 năm ước tính là 34% và tỷ lệ của thời gian sống thêm trong 10 năm là 17% đối với những bệnh nhân sau khi nhập viện ban đầu đối với mọi loại suy tim (1).

Tài liệu tham khảo về tiên lượng

  1. 1. Hariharaputhiran S, Peng Y, Ngo L, et al. Long-term survival and life expectancy following an acute heart failure hospitalization in Australia and New Zealand. Eur J Heart Fail. 2022;24(9):1519-1528. doi:10.1002/ejhf.2595

Những điểm chính

  • Cần nghĩ đến suy tim cấp ở những bệnh nhân có tình trạng khó thở khi gắng sức hoặc mệt mỏi, khó thở khi nằm và/hoặc phù nề mới khởi phát hoặc trầm trọng hơn, đặc biệt là ở những bệnh nhân có tiền sử nhồi máu cơ tim, tăng huyết áp hoặc bệnh lý van tim hoặc có tiếng thổi ở tim.

  • Tiến hành chụp X-quang ngực, điện tâm đồ, nồng độ peptide natri lợi niệuc não (loại B), siêu âm tim và các kiểm tra bổ sung nếu cần.

  • Điều trị bằng liệu pháp nội khoa theo hướng dẫn phù hợp với loại suy tim trước khi xuất viện.

  • Điều trị bao gồm kiểm soát các bệnh nền, thuốc men, đôi khi là các thiết bị cấy ghép (liệu pháp tái đồng bộ hóa tim, máy khử rung tim cấy ghép vào cơ thể), giáo dục và thay đổi lối sống.

quizzes_lightbulb_red
Test your KnowledgeTake a Quiz!