Tổng quan về suy tim

(Suy tim sung huyết)

TheoNowell M. Fine, MD, SM, Libin Cardiovascular Institute, Cumming School of Medicine, University of Calgary
Xem xét bởiJonathan G. Howlett, MD, Cumming School of Medicine, University of Calgary
Đã xem xét/Đã chỉnh sửa đã sửa đổi Thg 10 2025
v103601998_vi

Suy tim (HF) là một hội chứng lâm sàng trong đó tim không đáp ứng được các nhu cầu về chuyển hóa của cơ thể do bất thường về cấu trúc và/hoặc chức năng tim, dẫn đến cung lượng tim thấp, áp lực đổ đầy tâm thất tăng cao hoặc cả hai. Suy tim có thể liên quan đến chức năng tâm thu và/hoặc chức năng tâm trương ở tim trái và/hoặc tim phải. Suy thất trái (LV) thường gây khó thở và mệt mỏi, còn suy thất phải (RV) thường gây ứ dịch ngoại biên và dịch ổ bụng; các tâm thất có thể bị thương tổn đồng thời hoặc riêng biệt. Chẩn đoán ban đầu dựa trên lâm sàng, được hỗ trợ bằng chụp X-quang ngực, siêu âm tim, đánh giá huyết động và xét nghiệm trong phòng thí nghiệm. Điều trị bao gồm giáo dục bệnh nhân, điều trị nguyên nhân gây ra hội chứng suy tim, điều trị bằng thuốc bao gồm điều hòa thần kinh nội tiết, máy tạo nhịp tim/máy khử rung tim cấy ghép vào cơ thể, hỗ trợ tuần hoàn bằng phương pháp cơ học và cấy ghép tim.

Suy tim ảnh hưởng đến hơn 64 triệu người trên toàn thế giới (1). Tại Hoa Kỳ, có khoảng 6,7 triệu người bị suy tim và khoảng 1 triệu ca mới mỗi năm; dự kiến ​​sẽ có 8,7 triệu người bị suy tim vào năm 2030 (2, 3).

(Xem thêm bảng .)

Tài liệu tham khảo chung

  1. 1. Savarese G, Becher PM, Lund LH, Seferovic P, Rosano GMC, Coats AJS. Global burden of heart failure: a comprehensive and updated review of epidemiology [published correction appears in Cardiovasc Res. Ngày 13 tháng 6 năm 2023;119(6):1453. doi: 10.1093/cvr/cvad026.]. Cardiovasc Res. 2023;118(17):3272-3287. doi:10.1093/cvr/cvac013

  2. 2. Bozkurt B, Ahmad T, Alexander K, et al. HF STATS 2024: Heart Failure Epidemiology and Outcomes Statistics An Updated 2024 Report from the Heart Failure Society of America. J Card Fail. 2025;31(1):66-116. doi:10.1016/j.cardfail.2024.07.001

  3. 3. Virani SS, Alonso A, Benjamin EJ, et al. Heart Disease and Stroke Statistics-2020 Update: A Report From the American Heart Association. Circulation. 2020;141(9):e139-e596. doi:10.1161/CIR.0000000000000757

Sinh lý tim mạch

Khả năng co bóp của tim (lực và vận tốc co bóp), hiệu suất tâm thất và nhu cầu oxy của cơ tim được xác định bởi:

  • Tiền gánh

  • Hậu gánh

  • Các chất nuôi dưỡng sẵn có (oxy, axit béo, glucose)

  • Tần số tim và nhịp tim

  • Khối lượng cơ tim khả dụng

Cung lượng tim là tích của thể tích nhát bóp và nhịp tim; nó cũng bị ảnh hưởng bởi hồi lưu tĩnh mạch, trương lực mạch máu ngoại biên và các yếu tố thần kinh thể dịch.

Tiền gánh là tải lượng tim cuối giai đoạn cơ tim giãn và đổ đầy (thì tâm trương) và ngay trước khi co cơ tim (thì tâm thu). Tiền gánh thể hiện mức độ căng của sợi cơ cuối tâm trương và thể tích cuối tâm trương, chịu ảnh hưởng của thể tích và áp suất tâm thất tâm trương và thành phần của thành cơ tim. Thông thường, áp lực thất trái cuối tâm trương (LV) thể hiện rõ tiền gánh, đặc biệt nếu con số này cao hơn bình thường. Giãn hoặc phì đại thất trái, sự thay đổi độ giãn cơ tim gây thay đổi tiền gánh. Tiền gánh không giống hệt nhưng phần lớn là chức năng của, tình trạng thể tích nội mạch tổng thể của cơ thể.

Hậu gánh là lực cản trở sự co giãn cơ tim ở đầu thì tâm thu. Nó được xác định bởi áp lực thất trái, bán kính, và độ dày của thành cơ tim tại thời điểm van động mạch chủ mở. Trên lâm sàng, huyết áp tâm thu tại thời điểm hoặc ngay sau khi van động mạch chủ mở ra tương ứng với áp lực đỉnh tâm thu thành tự do thất trái và tương đương với hậu gánh.

Nguyên lý Frank-Starling mô tả mối quan hệ giữa tiền gánh và hiệu suất hoạt động của tim. Nguyên lý này nêu lên rằng, thông thường, hiệu suất tâm thu (thường được ước tính theo thể tích nhát bóp) tỷ lệ thuận với tiền gánh trong phạm vi sinh lý bình thường (xem hình ). Ở những bệnh nhân suy tim, hiệu suất tâm thu và khả năng co bóp của cơ tim giảm so với những bệnh nhân có tim khỏe mạnh ở cùng mức tiền gánh. Rất khó đo đạc chính xác mức co cơ tim trên lâm sàng (đòi hỏi phải tiến hành thông tim để phân tích mối quan hệ thể tích - áp lực), nhưng có thể ngoại suy thông qua phân suất tống máu (EF). EF là tỷ lệ phần trăm của thể tích nhát bóp so với thể tích cuối tâm trương (thể tích nhát bóp/thể tích cuối tâm trương). Có thể đánh giá EF một cách tương đối chính xác thông qua các biện pháp không xâm lấn như siêu âm tim, chụp xạ hình hoặc chụp cộng hưởng từ.

Các mối quan hệ tần số đề cập đến hiện tượng kích thích lặp đi lặp lại của cơ trong một phạm vi tần số nhất định dẫn đến tăng lực co bóp. Cơ tim bình thường ở tần số tim điển hình cho thấy một mối quan hệ tần số dương, do đó tốc độ nhanh hơn gây ra co cơ mạnh hơn (và yêu cầu cơ chất lớn hơn tương ứng). Trong một số loại suy tim, mối quan hệ tần số-lực có thể trở nên âm tính, do đó co bóp cơ tim giảm khi nhịp tim tăng lên trên một tần số nhất định.

Dự trữ tim là khả năng của tim tăng cường hoạt động trên mức nghỉ ngơi để đáp ứng với căng thẳng về mặt cảm xúc hoặc thể chất; lượng oxy tiêu thụ của cơ thể có thể tăng từ 250 mL/phút lên 1500 mL/phút trong quá trình gắng sức tối đa. Các cơ chế bao gồm:

  • Tăng nhịp tim

  • Tăng thể tích đổ đầy tâm trương

  • Tăng khả năng co bóp và thể tích nhát bóp

  • Thay đổi có chọn lọc sức cản của mạch máu toàn thân để hướng dòng máu đến các cơ quan nhất định (ví dụ: cơ xương trong khi tập thể dục)

  • Tăng trích xuất oxy ở mô (sự khác biệt giữa hàm lượng oxy trong máu động mạch và trong máu hỗn hợp tĩnh mạch hoặc động mạch phổi)

Ở những người trẻ tuổi được huấn luyện tốt trong quá trình tập thể dục tối đa, nhịp tim có thể tăng từ 55 đến 70 nhịp/phút khi nghỉ ngơi lên > 180 nhịp/phút và cung lượng tim có thể tăng từ 6 L/phút lên 25 L/phút. Khi nghỉ ngơi, máu động mạch chứa khoảng 18 mL oxy/dL máu và máu động mạch tĩnh mạch hoặc động mạch phổi hỗn hợp chứa khoảng 14 mL/dL. Do đó, lượng oxy chiết xuất được là khoảng 4 mL/dL. Khi nhu cầu cơ thể gia tăng, trích xuất oxy có thể tăng lên đến 12-14 mL/dL. Cơ chế này giúp bù trừ cho sự giảm lưu lượng máu tới mô gây ra do suy tim.

Nguyên lý Frank-Starling

Thông thường, khi tăng tiền gánh, hiệu suất hoạt động cơ tim cũng tăng lên. Tuy nhiên, ở một thời điểm nhất định, hiệu suất sẽ ổn định rồi giảm xuống. Khi suy tim, do có rối loạn chức năng tâm thu, đường cong tổng thể hạ thấp, cho thấy hiệu suất làm việc của tim giảm ở một tiền gánh nhất định, và khi tiếp tục tăng tiền gánh và khi tiền gánh tăng, hiệu suất của tim tăng ít hơn. Khi được điều trị, hiệu suất được cải thiện, tuy chưa về được mức bình thường.

Sinh lý bệnh của suy tim

Khi suy tim, tim không thể cung cấp đủ máu cho các nhu cầu chuyển hóa, và sự gia tăng áp lực động mạch phổi hoặc tăng áp lực trên hệ thống tĩnh mạch sẽ dẫn đến ứ đọng dịch ở ngoại biên. Tình trạng này có thể do những bất thường trong chức năng tâm thu hay tâm trương hoặc thông thường là do cả hai. Mặc dù sự thay đổi chức năng của cơ tim có thể đóng vai trò chính, nhưng cũng có những thay đổi bất thường về kết cấu collagen trong ma trận ngoại bào. Các khiếm khuyết về cấu trúc tim (ví dụ: khuyết tật bẩm sinh, bệnh lý van tim), bất thường về nhịp tim (bao gồm nhịp tim ở mức cao kéo dài) và nhu cầu chuyển hóa cao (ví dụ: do cường giáp) cũng có thể gây suy tim.

Phân loại suy tim

Suy tim có thể được phân loại chủ yếu là suy tim trái hoặc suy tim phải, hoặc theo Định nghĩa và phân loại chung về suy tim (1), sử dụng phân suất tống máu thất trái.

Phân loại suy tim kinh điển thành suy thất trái và suy thất phải có đôi chút sai lầm, bởi quả tim hoạt động như một hệ thống bơm đồng nhất, và sự thay đổi tại một buồng tim có thể gây ảnh hưởng lên toàn bộ tim. Tuy nhiên, các thuật ngữ này chỉ ra vị trí chính của bệnh lý dẫn đến suy tim và có thể hữu ích cho việc đánh giá ban đầu và điều trị. Các thuật ngữ phổ biến khác được sử dụng để phân biệt các loại và nguyên nhân gây suy tim bao gồm cấp tính hoặc mạn tính; cung lượng tim cao hoặc cung lượng tim thấp; giãn hoặc không giãn; và bệnh cơ tim giãn do thiếu máu cục bộ, do tăng huyết áp hoặc vô căn. Phương pháp điều trị cũng khác nhau tùy thuộc vào tình trạng suy tim là cấp tính hay suy tim mạn tính.

Suy tim trái

Suy tim thường xảy ra do rối loạn chức năng tâm thất trái (2). Kết quả là, Phân loại chung về suy tim đã phân loại suy tim theo phân suất tống máu giảm, bảo tồn, giảm ở mức tối thiểu và được cải thiện dựa trên chức năng tâm thu thất trái (1). Trong suy tim trái, cung lượng tim giảm và áp lực tĩnh mạch phổi tăng. Khi áp lực mao mạch phổi vượt quá áp lực keo của protein huyết tương (khoảng 24 mm Hg), dịch sẽ thoát ra khỏi mao mạch vào khoảng kẽ và phế nang, làm giảm khả năng đàn hồi của phổi và tăng công hô hấp. Có sự gia tăng dẫn lưu bạch huyết nhưng không thể bù lại được sự gia tăng dịch phổi. Tình trạng ứ đọng chất lỏng đáng kể trong phế nang (phù phổi) làm thay đổi đáng kể mối quan hệ thông khí-tưới máu (V/Q). Máu động mạch phổi bị khử oxy đi qua các phế nang thông khí kém, làm giảm sự oxy hóa ở động mạch toàn thân (áp suất riêng phần của oxy động mạch [PaO2]) và gây khó thở. Tuy nhiên, khó thở có thể xuất hiện trước khi có bất thường V/Q, có thể do áp lực tĩnh mạch phổi tăng lên và gây tăng công hô hấp; cơ chế chính xác vẫn chưa được làm rõ.

Trong trường hợp suy thất trái nặng hoặc mạn tính, thường có tràn dịch màng phổi, làm tình trạng khó thở trở nên trầm trọng hơn. Tăng thông khí phút; do đó, áp suất riêng phần của carbon dioxide ở động mạch (PaCO2) giảm và pH máu tăng (nhiễm kiềm hô hấp). Phù khoảng kẽ tại các đường thở nhỏ gây cản trở thông khí, sự gia tăng PaCO2 là dấu hiệu báo trước suy hô hấp sắp xảy ra.

Suy tim giảm phân suất tống máu (HFrEF)

Ở HFrEF (còn gọi là suy tim tâm thu), rối loạn chức năng tâm thu toàn bộ thất trái chiếm ưu thế. Thất trái co bóp kém và không tống máu theo cách thích hợp, dẫn đến:

  • Tăng thể tích và áp lực tâm trương

  • Phân suất tống máu giảm (≤ 40%)

Có nhiều khiếm khuyết trong việc sử dụng năng lượng, cung cấp năng lượng, chức năng điện sinh lý và tương tác của các yếu tố co bóp, cùng với những bất thường trong điều hòa canxi nội bào và quá trình sản sinh ra adenosine monophosphate vòng (cAMP).

Rối loạn chức năng tâm thu chiếm ưu thế thường gặp trong suy tim do nhồi máu cơ tim, viêm cơ timbệnh cơ tim giãn. Suy giảm chức năng tâm thu chủ yếu gây ảnh hưởng tới thất trái và có thể cả thất phải; suy tim trái cũng thường dẫn tới suy tim phải.

Suy tim có phân suất tống máu bảo tồn (HFpEF)

Ở HFpEF (còn gọi là suy tim tâm trương), khả năng đổ đầy thất trái bị suy giảm, dẫn đến:

  • Tăng áp lực cuối tâm trương khi nghỉ ngơi hoặc khi gắng sức

  • Thông thường, thể tích thất trái cuối tâm trương

Khả năng co bóp toàn bộ và do đó phân suất tống máu thất trái vẫn bình thường (≥ 50%).

Tuy nhiên, ở một số bệnh nhân, tình trạng hạn chế đáng kể việc đổ đầy thất trái có thể khiến cho thể tích cuối kỳ tâm trương thất trái thấp không phù hợp và do đó làm cho cung lượng tim thấp và gây ra các triệu chứng toàn thân. Tăng áp lực nhĩ trái có thể gây tăng áp động mạch phổi và ứ máu tại phổi.

Suy giảm chức năng tâm trương thường do suy giảm khả năng thư giãn của tâm thất (quá trình tác động), tăng mức độ xơ cứng thành tâm thất, bệnh van tim, hoặc viêm màng ngoài tim co thắt. Nhồi máu cơ tim cấp cũng là nguyên nhân gây suy giảm chức năng tâm trương. Mức độ kháng cự quá trình làm đầy tăng theo tuổi tác, phản ánh tình trạng rối loạn chức năng tế bào cơ tim và mất tế bào cơ tim, cũng như tình trạng gia tăng lắng đọng collagen ở mô kẽ; do đó, rối loạn chức năng tâm trương đặc biệt phổ biến ở người cao tuổi. Suy giảm chức năng tâm trương chiếm ưu thế trong các trường hợp bệnh cơ tim phì đại, bệnh lý có phì đại tâm thất (tăng huyết áp, hẹp van động mạch chủ nặng), bệnh cơ tim thâm nhiễm amyloid. Có thể có sự suy giảm đổ đầy và chức năng thất trái nếu có sự gia tăng đáng kể áp lực thất phải, khiến vách liên thất bị đẩy sang trái.

Rối loạn chức năng tâm trương được coi là nguyên nhân quan trọng gây ra suy tim. Khoảng 50% số bệnh nhân suy tim có HFpEF; tỷ lệ hiện mắc tăng theo tuổi và ở những bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường (3). HFpEF là một hội chứng phức tạp, không đồng nhất, đa cơ quan, toàn thân, thường có nhiều bệnh lý sinh lý đi kèm. Dữ liệu cho thấy nhiều bệnh đi kèm (ví dụ: béo phì,tăng huyết áp, tiểu đường, bệnh thận mạn tính) dẫn đến tình trạng viêm toàn thân, rối loạn chức năng nội mô lan rộng, rối loạn chức năng vi mạch tim và cuối cùng là những thay đổi về phân tử trong tim gây ra tình trạng xơ hóa cơ tim và làm cứng tâm thất. Do đó, suy tim phân suất tống máu giảm thường liên quan đến tổn thương cơ tim nguyên phát, còn suy tim có phân suất tống máu bảo tồn thường có liên quan tới tổn thương cơ tim thứ phát do những bệnh lý ngoài tim.

Suy tim kèm theo phân suất tống máu giảm nhẹ (HFmrEF)

Suy tim có phân suất tống máu giảm nhẹ (HFmrEF) được định nghĩa là phân suất tống máu thất trái từ 41 đến 49%. Không rõ liệu nhóm này là một quần thể riêng biệt hay bao gồm một hỗn hợp các bệnh nhân suy tim có phân suất tống máu bảo tồn hoặc HFrEF.

Suy tim có phân suất tống máu cải thiện (HFimpEF)

Bệnh nhân bị suy tim có giá trị tuyệt đối của phân suất tống máu thất trái cải thiện hơn 10% so với giá trị trước đó và cũng đo được trên 40% sẽ được phân loại là bị HFimpEF.

Suy thất phải

Suy thất phải thường xảy ra do hậu quả hoặc đồng thời với suy thất trái. Suy tim phải đơn độc ít gặp hơn nhiều. Trong suy tim liên quan đến rối loạn chức năng tâm thất phải (xem Suy tim phải), áp lực tĩnh mạch toàn thân tăng lên, gây ra tình trạng dịch thoát ra ngoài mạch và sau đó là phù nề, chủ yếu ở các mô phụ thuộc (bàn chân và cổ chân của bệnh nhân ngoại trú) và các tạng trong ổ bụng. Gan là cơ quan bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất, nhưng dạ dày và ruột cũng có thể có hiện tượng sung huyết; có thể có sự tích tụ dịch trong khoang phúc mạc gây cổ trướng. Suy thất phải thường gây ra rối loạn chức năng gan ở mức độ trung bình, thường có tăng nhẹ bilirubin liên hợp và bilirubin không liên hợp, thời gian prothrombin (PT) và các men gan (đặc biệt là phosphatase kiềm và gamma-glutamyl transpeptidase [GGT]). Suy giảm chức năng gan dẫn tới giảm tiết aldosterone, càng làm gia tăng mức độ ứ dịch. Tình trạng sung huyết tĩnh mạch mạn tính ở nội tạng có thể gây chán ăn, kém hấp thu chất dinh dưỡng và thuốc, bệnh ruột mất protein (đặc trưng bởi tiêu chảy và giảm albumin máu rõ rệt), mất máu đường tiêu hóa mạn tính và hiếm khi gây nhồi máu ruột do thiếu máu cục bộ.

Phản ứng với suy tim

Phản ứng của cơ tim

Khi khả năng co bóp của thất trái bị suy giảm, như trường hợp HRrEF, cần phải có tiền gánh cao hơn để duy trì cung lượng tim. Kết quả là các tâm thất sẽ được tái cấu trúc theo thời gian. Trong quá trình tái cấu trúc thất trái chuyển dạng từ hình thuôn sang tròn hơn, giãn rộng hơn và phì đại hơn; thất phải giãn rộng và có thể có sự phì đại. Khởi đầu bù, những tái cấu trúc cuối cùng có liên quan đến các kết quả bất lợi bởi thay đổi này cuối cùng sẽ làm giảm tình trạng giãn nở thời kỳ tâm trương và gia tăng độ cứng và sức căng thành cơ tim, từ đó gây suy chức năng tâm trương, làm giảm hiệu suất hoạt động của tim, đặc biệt là khi chịu các stress về thể lực. Sự gia tăng sức căng thành cơ tim gây tăng nhu cầu oxy và đẩy nhanh quá trình chết tế bào cơ tim theo chương trình. Tình trạng giãn tâm thất cũng có thể gây ra tình trạng hở van hai lá hoặc hở van ba lá (do giãn vòng van) kèm theo sự gia tăng thêm về thể tích cuối thì tâm trương.

Phản ứng của huyết động

Khi cung lượng tim giảm, việc cung cấp oxy đến các mô được duy trì bằng cách tăng lượng oxy chiết xuất từ ​​máu và đôi khi dịch chuyển đường cong phân ly oxyhemoglobin (xem hình ) sang bên phải để ưu tiên giải phóng oxy.

Giảm cung lượng tim cùng với huyết áp toàn thân thấp hơn sẽ kích hoạt các phản xạ áp suất ở động mạch, làm tăng trương lực dây thần kinh giao cảm và giảm trương lực dây thần kinh phó giao cảm. Từ đó gây tăng nhịp tim và tăng co bóp cơ tim, co thắt các mao mạch tại một số giường mạch máu nhất định, xuất hiện tình trạng co thắt tĩnh mạch đồng thời gây tăng tái hấp thu muối nước. Những thay đổi này sẽ bù trừ cho sự suy giảm hiệu suất thất trái và giúp duy trì sự cân bằng huyết động trong giai đoạn sớm của suy tim. Tuy nhiên, những thay đổi này lại làm gia tăng công cơ tim, tiền gánh và hậu gánh; giảm tưới máu mạch vành và mạch thận; gây tích tụ dịch dẫn đến tình trạng sung huyết; gây tăng bài tiết kali; có thể gây hoại tử tế bào cơ tim và phát sinh các ổ loạn nhịp.

Phản ứng của thận

Khi chức năng tim suy giảm, lưu lượng máu đến thận sẽ giảm do cung lượng tim thấp. Ngoài ra, áp lực tĩnh mạch thận tăng, dẫn đến tình trạng sung huyết tĩnh mạch thận. Những thay đổi này dẫn đến giảm mức lọc cầu thận (GFR) và lưu lượng máu trong thận được phân phối lại. Phân số lọc cầu thận suy giảm, nhưng lại có sự gia tăng hiện tượng tái hấp thu ống thận, từ đó dẫn đến sự tích lũy nước và natri. Khi gắng sức, dòng máu lại càng được tái phân bố không qua thận, nhưng khi nghỉ, lưu lượng máu tới thận lại có sự cải thiện.

Giảm tưới máu ở thận (và có thể giảm mức độ giãn động mạch ở thì tâm thu thứ phát do suy giảm chức năng tâm thất) kích hoạt hệ thống renin-angiotensin-aldosterone, làm tăng giữ natri và giữ nước cũng như tăng trương lực mạch máu ngoại biên và trương lực mạch máu ở thận. Những ảnh hưởng này được khuếch đại bởi tín hiệu cường giao cảm đi kèm với suy tim.

Hệ renin-angiotensin-aldosterone-vasopressin (hệ thống hormone chống bài niệu) [ADH] gây ra một loạt tác động có hại về lâu dài. Angiotensin II làm trầm trọng thêm tình trạng suy tim bằng cách gây co mạch, bao gồm cả co mạch thận ly tâm và bằng cách tăng sản sinh ra aldosterone, làm tăng tái hấp thu natri ở ống lượn xa và cũng gây lắng đọng collagen và xơ hóa ở cơ tim và mạch máu. Angiotensin II làm tăng giải phóng norepinephrine, kích thích giải phóng vasopressin và gây ra cơ chế gây chết tế bào theo chương trình. Angiotensin II có thể liên quan đến phì đại mạch máu và phì đại cơ tim, do đó góp phần vào việc tái cấu trúc tim và mạch máu ngoại biên, có khả năng làm trầm trọng thêm tình trạng suy tim. Aldosterone có thể được tổng hợp ở tim và ở mạch máu độc lập với angiotensin II (có thể qua trung gian corticotropin, oxit nitric, các gốc tự do và các kích thích khác) và có thể có tác dụng có hại ở các cơ quan này.

Suy tim gây ra tình trạng suy thận tiến triển (bao gồm rối loạn chức năng thận do thuốc dùng để điều trị suy tim) góp phần làm tình trạng suy tim trở nên trầm trọng hơn và được gọi là hội chứng tim thận.

Phản ứng của thần kinh thể dịch

Trong điều kiện căng thẳng, phản ứng thần kinh thể dịch giúp làm tăng chức năng tim và duy trì huyết áp cũng như tưới máu cơ quan. Sự kích hoạt lâu dài của các phản ứng này có hại cho sự cân bằng bình thường giữa các hormone kích thích cơ tim và các hormone gây co mạch và giữa các hormone làm thư giãn cơ tim và hormone làm giãn mạch.

Tim có nhiều thụ thể thần kinh thể dịch (alpha-1, beta-1, beta-2, beta-3, angiotensin II loại 1 [AT1] và loại 2 [AT2], muscarinic, endothelin, serotonin, adenosine, cytokine, natri peptide lợi niệu); vai trò của tất cả các thụ thể này vẫn chưa được xác định đầy đủ. Ở những bệnh nhân suy tim, các thụ thể beta-1 (chiếm khoảng 70% thụ thể beta tại tim) bị điều hòa giảm, có thể nhằm mục đích đáp ứng với các kích thích cường giao cảm mạnh. Kết quả của quá trình điều hòa này là sự giảm co cơ tim và tăng nhịp tim.

Nồng độ norepinephrine trong máu gia tăng, phần lớn do các kích thích giao cảm, bởi nồng độ epinephrine trong máu không có sự gia tăng. Các tác dụng bất lợi bao gồm co mạch, tăng tiền gánh và hậu gánh, gây tổn thương trực tiếp cơ tim thông qua các cơ chế chết tế bào theo chương trình, giảm lưu lượng máu thận và hoạt hóa các hệ thống thần kinh thể dịch khác, bao gồm cả hẹ renin-angiotensin-aldosterone-vasopressin.

Vasopressin được giải phóng thông qua nhiều kích thích thần kinh thể dịch khác nhau, nhằm đáp ứng với tình trạng hạ áp. Tăng vasopressin làm giảm bài tiết nước tự do qua thận, từ đó góp phần gây tình trạng hạ natri máu trong suy tim. Nồng độ vasopressin rất khác nhau ở những bệnh nhân suy tim có huyết áp bình thường.

Peptide lợi niệu tâm nhĩ được giải phóng nhằm đáp ứng với tình trạng gia tăng thể tích và áp lực tâm nhĩ; peptide natriuretic loại B (BNP) được giải phóng tại tâm thất nhằm đáp ứng với tình trạng căng giãn thành tâm thất. Các peptide này làm tăng cường quá trình bài tiết natri qua thận; tuy nhiên, ở những bệnh nhân bị suy tim, tác dụng này bị giảm do áp lực tưới máu ở thận bị giảm, quá trình điều hòa thụ thể giảm và có lẽ là do tăng quá trình phân hủy bằng enzym. Ngoài ra, sự gia tăng nồng độ peptide natriuretic gây hiệu ứng kháng điều hòa trên hệ thống renin-angiotensin-aldosterone và kích thích catecholamine.

Do rối loạn chức năng nội mô xảy ra trong suy tim nên có ít chất giãn mạch nội sinh (ví dụ: oxit nitric, prostaglandin) được sản sinh ra hơn và nhiều chất co mạch nội sinh (ví dụ: endothelin) được sản sinh ra hơn, do đó làm tăng hậu gánh.

Tình trạng suy tim và suy chức năng các cơ quan khác gây sản sinh yếu tố hoại tử u TNF alpha. Cytokine này gây tăng dị hoá và có thể gây ra tình trạng suy mòn tim (hủy mô 10%), từ đó gây suy tim mức độ nặng có triệu chứng cùng với những thay đổi bất lợi khác. Tình trạng suy tim cũng gây ra những thay đổi về chuyển hoá, với sự gia tăng sử dụng axit béo tự do và giảm sử dụng glucose; những thay đổi này có thể được ứng dụng như là mục tiêu điều trị.

Thay đổi theo tuổi

Những thay đổi liên quan đến tuổi tại hệ thống tim mạch càng làm hạ thấp ngưỡng biểu hiện suy tim. Collagen gia tăng trong mô kẽ cơ tim làm cơ tim mất tính đàn hồi, và kéo dài thời gian giãn cơ tim. Những thay đổi này dẫn đến giảm đáng kể chức năng thất trái ở thì tâm trương, ngay cả ở người cao tuổi khỏe mạnh. Chức năng tâm trương cũng có sự suy giảm nhẹ khi lão hóa. Sự giảm đáp ứng cơ tim và thành mạch với các kích thích trên hệ beta-adrenergic càng làm giảm khả năng đáp ứng của hệ thống tim mạch với tải lượng hoạt động ngày càng gia tăng.

Kết quả của những thay đổi này là khả năng tập thể dục tối đa giảm đáng kể (khoảng 8%/thập kỷ sau 30 tuổi) và cung lượng tim giảm nhẹ hơn ở mức tập thể dục cao nhất. Sự suy giảm này có thể được hạn chế nhờ tập luyện thường xuyên. Vì vậy, bệnh nhân cao tuổi thường dễ xuất hiện các triệu chứng suy tim hơn bệnh nhân trẻ tuổi, khi chịu các stress do các bệnh lý hệ thống hoặc các biến cố tim mạch dù tương đối nhẹ. Các yếu tố gây căng thẳng bao gồm nhiễm trùng (đặc biệt là viêm phổi), cường giáp, thiếu máu, tăng huyết áp, thiếu máu cục bộ ở cơ tim, hạ oxy máu, tăng thân nhiệt, suy thận, lượng dịch truyền tĩnh mạch trong thời gian phẫu thuật, không tuân thủ phác đồ dùng thuốc hoặc chế độ ăn ít muối và sử dụng một số loại thuốc nhất định (đặc biệt là thuốc chống viêm không steroid [NSAID]).

Tài liệu tham khảo về sinh bệnh học

  1. 1. Bozkurt B, Coats AJ, Tsutsui H, et al. Universal Definition and Classification of Heart Failure: A Report of the Heart Failure Society of America, Heart Failure Association of the European Society of Cardiology, Japanese Heart Failure Society and Writing Committee of the Universal Definition of Heart Failure. J Card Fail. Xuất bản trực tuyến ngày 1 tháng 3 năm 2021. doi:10.1016/j.cardfail.2021.01.022

  2. 2. Heidenreich PA, Bozkurt B, Aguilar D, et al. 2022 AHA/ACC/HFSA Guideline for the Management of Heart Failure: A Report of the American College of Cardiology/American Heart Association Joint Committee on Clinical Practice Guidelines [published correction appears in J Am Coll Cardiol. Ngày 18 tháng 4 năm 2023;81(15):1551. doi: 10.1016/j.jacc.2023.03.002.]. J Am Coll Cardiol. 2022;79(17):e263-e421. doi:10.1016/j.jacc.2021.12.012

  3. 3. Campbell P, Rutten FH, Lee MM, Hawkins NM, Petrie MC. Heart failure with preserved ejection fraction: everything the clinician needs to know [published correction appears in Lancet. Ngày 16 tháng 3 năm 2024;403(10431):1026. doi: 10.1016/S0140-6736(24)00494-X.]. Lancet. 2024;403(10431):1083-1092. doi:10.1016/S0140-6736(23)02756-3

Căn nguyên của suy tim

Cả nguyên nhân tim mạch và các bệnh lý toàn thân đều có thể làm giảm hiệu suất hoạt động của tim, từ đó gây ra, hoặc làm nặng thêm tình trạng suy tim (Xem bảng ).

Bảng

Suy tim trái thường tiến triển trong các bệnh lý thiếu máu cơ tim, tăng huyết áp, hở hai lá, hở van động mạch chủ, hẹp van động mạch chủ, hầu hết các loại bệnh cơ tim, và bệnh lý tim mạch bẩm sinh (như thông liên thất, còn ống động mạch với sự hiện diện của các shunt lớn).

Suy tim phải thường do suy tim trái trước đó (gây tăng áp lực tĩnh mạch phổi và dẫn đến tăng áp động mạch phổi, từ đó gây quá tải thất phải) hoặc do bệnh phổi mức độ nặng (trong trường hợp này được gọi là tâm phế mạn). Các nguyên nhân khác bao gồm thuyên tắc phổi đa ổ, nhồi máu thất phải, tăng áp động mạch phổi, hở van ba lá, hẹp van ba lá, hẹp van hai lá, hẹp động mạch phổi, hẹp van động mạch phổi, bệnh tắc nghẽn tĩnh mạch phổi, bệnh cơ tim thất phải gây loạn nhịp tim hoặc các bệnh lý bẩm sinh như dị tật Ebstein hoặc hội chứng Eisenmenger. Một số tình trạng giống suy thất phải, ngoại trừ chức năng tim có thể bình thường; các tình trạng này bao gồm tình trạng quá tải thể tích và tăng áp lực tĩnh mạch toàn thân trong bệnh đa hồng cầu hoặc truyền máu quá mức, tổn thương thận cấp có giữ natri và giữ nước, tắc nghẽn tĩnh mạch chủ và giảm protein máu do bất kỳ nguyên nhân nào dẫn đến áp lực keo huyết tương thấp và phù ngoại biên.

Suy tim toàn bộ thường do các bệnh lý gây ảnh hưởng đến toàn bộ khối cơ tim (như viêm cơ tim do virus, thoái hóa dạng tinh bột, bệnh Chagas) hoặc suy tim trái kéo dài dẫn tới suy tim phải.

Suy tim có cung lượng tim cao thường do mức cung lượng tim cao kéo dài, dẫn tới việc quả tim bình thường không đủ khả năng để duy trì mức cung lượng đó. Các tình trạng có thể làm tăng cung lượng tim bao gồm thiếu máu nặng, bệnh gan giai đoạn cuối, bệnh tê phù, nhiễm độc giáp, bệnh Paget giai đoạn tiến triển, thông động mạch-tĩnh mạch và nhịp tim nhanh dai dẳng.

Bệnh cơ tim là một thuật ngữ chung chỉ bệnh của cơ tim. Thông thường, thuật ngữ này đề cập đến các bệnh lý cơ tim không do các khuyết tật giải phẫu bẩm sinh; hoặc các bệnh lý tại van động mạch, các bệnh lý mạch máu hệ thống hoặc mạch phổi; các bệnh lý màng ngoài tim, các bệnh lý thuộc các nút hoặc hệ thống dẫn truyền, hoặc bệnh lý mạch vành. Thuật ngữ này đôi khi được sử dụng để chỉ ra nguyên nhân (như thiếu máu cơ tim và tăng huyết áp). Bệnh cơ tim không phải lúc nào cũng gây suy tim có triệu chứng. Nó thường mang tính tự phát và được phân loại thành bệnh cơ tim giãn, bệnh cơ tim sung huyết, bệnh cơ tim phì đại, bệnh cơ tim hạn chế, hoặc bệnh cơ tim Takotsubo (bệnh cơ tim do stress).

Phân giai đoạn suy tim

Đồng thuận quốc tế xác định hệ thống phân giai đoạn suy tim (HF) để làm nổi bật nhu cầu phòng ngừa suy tim (1, 2):

  • A: Có nguy cơ suy tim cao, nhưng không có bất thường về cấu trúc, chức năng hoặc các triệu chứng tại tim

  • B: Có bất thường về cấu trúc, chức năng hoặc các triệu chứng tại tim

  • C: Bệnh cơ tim cấu trúc đi kèm theo các triệu chứng suy tim

  • D: Suy tim kháng trị, đòi hỏi điều trị chuyên sâu (như hỗ trợ tuần hoàn cơ học, ghép tim) hoặc chăm sóc giảm nhẹ

Mức độ nặng về mặt lâm sàng (hoặc phân loại về chức năng) thay đổi đáng kể và thường được phân loại theo hệ thống của Hiệp hội Tim mạch New York (NYHA) (xem bảng ); các ví dụ về hoạt động thông thường có thể được điều chỉnh cho những bệnh nhân cao tuổi, bị suy nhược. Vì suy tim có phạm vi mức độ rộng nên một số chuyên gia chia nhỏ NYHA loại III thành IIIA hoặc IIIB (3, 4). Loại IIIB thường dành cho những bệnh nhân gần đây bị suy tim cấp, mặc dù định nghĩa này chưa được chuẩn hóa.

Bảng
Bảng

Tài liệu tham khảo về phân giai đoạn

  1. 1. Bozkurt B, Coats AJ, Tsutsui H, et al. Universal Definition and Classification of Heart Failure: A Report of the Heart Failure Society of America, Heart Failure Association of the European Society of Cardiology, Japanese Heart Failure Society and Writing Committee of the Universal Definition of Heart Failure. J Card Fail. Xuất bản trực tuyến ngày 1 tháng 3 năm 2021. doi:10.1016/j.cardfail.2021.01.022

  2. 2. Heidenreich PA, Bozkurt B, Aguilar D, et al. 2022 AHA/ACC/HFSA Guideline for the Management of Heart Failure: A report of the American College of Cardiology/American Heart Association Joint Committee on Clinical Practice Guidelines. Circulation. 2022;145:e895–e1032. doi: 10.1161/CIR.0000000000001062

  3. 3. Levy WC, Mozaffarian D, Linker DT, et al. The Seattle Heart Failure Model: prediction of survival in heart failure. Circulation. 2006;113(11):1424-1433. doi:10.1161/CIRCULATIONAHA.105.584102

  4. 4. Thibodeau JT, Mishkin JD, Patel PC, Mammen PP, Markham DW, Drazner MH. IIIB or not IIIB: a previously unanswered question. J Card Fail. 2012;18(5):367-372. doi:10.1016/j.cardfail.2012.01.016

Những điểm chính

  • Suy tim là tình trạng tim không có khả năng cung cấp đủ máu cho các mô để đáp ứng nhu cầu trao đổi chất.

  • Suy tim thường ảnh hưởng đến tâm thất trái, nhưng có thể ảnh hưởng đến tâm thất phải hoặc cả hai tâm thất.

  • Suy tim được phân loại dựa trên phân suất tống máu thất trái thành suy tim có phân suất tống máu giảm, giảm tối thiểu, bảo tồn hoặc cải thiện.

quizzes_lightbulb_red
Test your KnowledgeTake a Quiz!