Tổng quan các rối loạn lo âu ở trẻ em và vị thành niên

TheoJosephine Elia, MD, Sidney Kimmel Medical College of Thomas Jefferson University
Xem xét bởiAlicia R. Pekarsky, MD, State University of New York Upstate Medical University, Upstate Golisano Children's Hospital
Đã xem xét/Đã chỉnh sửa đã sửa đổi Thg 10 2025
v1105334_vi

Các rối loạn lo âu được đặc trưng bởi sự sợ hãi, lo lắng, hay kinh hãi làm suy giảm rất nhiều khả năng hoạt động bình thường và điều đó là không cân xứng với hoàn cảnh hiện tại. Lo âu có thể dẫn đến các triệu chứng cơ thể. Việc chẩn đoán thường dựa trên tiền sử. Điều trị bằng liệu pháp hành vi và thuốc, thường là thuốc ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc (SSRI).

Một chút lo lắng là điều bình thường trong quá trình phát triển, như trong các trường hợp sau:

  • Hầu hết trẻ nhỏ đều trở nên sợ hãi khi bị tách khỏi bố mẹ, đặc biệt là ở những môi trường xa lạ.

  • Lo sợ về bóng tối, quái vật, con bọ và nhện rất phổ biến ở trẻ từ 3 đến 4 tuổi.

  • Trẻ nhút nhát có thể phản ứng ban đầu với tình huống mới với sự sợ hãi hoặc rút lui.

  • Sợ thương tích và tử vong phổ biến hơn ở trẻ lớn hơn.

  • Trẻ lớn và thanh thiếu niên thường cảm thấy lo lắng khi phải trình bày thông tin trước công chúng (ví dụ: thuyết trình về một cuốn sách trước các bạn cùng lớp).

Những khó khăn như vậy không nên được coi là bằng chứng của một rối loạn. Tuy nhiên, nếu các biểu hiện lo âu trở nên quá mức đến nỗi làm giảm chức năng hoặc gây ra tình trạng đau khổ nghiêm trọng và/hoặc trốn tránh, nên xem xét một chứng rối loạn lo âu.

Độ tuổi khởi phát cao nhất của rối loạn lo âu là 5,5 tuổi, với 38% số trường hợp bắt đầu ở tuổi 14, 52% số trường hợp ở tuổi 18 và 73% số trường hợp ở tuổi 25 với độ tuổi trung bình được chẩn đoán là 17 tuổi (1). Trẻ em mắc chứng rối loạn lo âu có nguy cơ mắc chứng trầm cảm (2), ý tưởng tự tử và hành vi tự tử (3), nghiện ma túy và rượu (đặc biệt là với chứng rối loạn hoảng sợ, 4) và gặp khó khăn trong học tập (5) sau này trong cuộc sống.

Các rối loạn lo âu có thể xảy ra ở trẻ em và tuổi vị thành niên bao gồm

Tài liệu tham khảo chung

  1. 1. Solmi M, Radua J, Olivola M, et al. Age at onset of mental disorders worldwide: large-scale meta-analysis of 192 epidemiological studies. Mol Psychiatry. 2022;27(1):281-295. doi:10.1038/s41380-021-01161-7

  2. 2. Cummings CM, Caporino NE, Kendall PC. Comorbidity of anxiety and depression in children and adolescents: 20 years after. Psychol Bull. 140(3):816-845, 2014. doi: 10.1037/a0034733

  3. 3. Husky MM, Olfson M, He J, et al. Twelve-month suicidal symptoms and use of services among adolescents: Results from the National Comorbidity Survey. Psychiatr Serv.63(10):989-996, 2012.

  4. 4. Zimmermann P, Wittchen HU, Hofler M, et al. Primary anxiety disorders and the development of subsequent alcohol use disorders: A 4-year community study of adolescents and young adults. Psychol Med. 33(7);1211-1222, 2003. doi: 10.1017/s0033291703008158

  5. 5. Van Ameringen M, Mancini C, Farvolden P. The impact of anxiety disorders on educational achievement. J Anxiety Disord. 17(5):561-571, 2003. doi: 10.1016/s0887-6185(02)00228-1

Căn nguyên của rối loạn lo âu

Nguyên nhân gây ra rối loạn lo âu ở trẻ em rất đa yếu tố, phát sinh từ sự tương tác giữa nhiều yếu tố sinh học, tâm lý, xã hội và môi trường khác nhau. Các nghiên cứu về tính di truyền cho thấy cả yếu tố di truyền và môi trường đều đóng vai trò quan trọng. Một số biến thể di truyền có thể liên quan, bao gồm một đa hình đơn nucleotide trong gen yếu tố dinh dưỡng thần kinh có nguồn gốc từ não (BDNF) và một dấu hiệu vi vệ tinh liên kết với gen hóc môn giải phóng corticotropin (CRH) (1, 2).

Một số yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến khả năng phát triển rối loạn lo âu ở trẻ em đã được đề xuất, bao gồm lo âu của cha mẹ, ngược đãi trẻ em, nhiễm trùng và căng thẳng. Đáng chú ý, các triệu chứng lo âu ở thanh thiếu niên tăng gấp đôi trong đại dịch COVID-19, đặc biệt là ở các cô gái (3) và số lượt khám sức khỏe tâm thần do lo âu tăng 43% (4). Kết quả nghiên cứu này được kiểm soát về giới tính, tuổi tác và sự hiện diện của các triệu chứng lo âu trước COVID và cho thấy rằng sự kết nối kém với người chăm sóc, thói quen ngủ kém và thời gian sử dụng màn hình nhiều được báo cáo là những yếu tố dự báo quan trọng về các triệu chứng lo âu COVID-19 của trẻ (5). Tần suất mắc các rối loạn lo âu mới khởi phát cao hơn được tìm thấy ở trẻ em và thanh thiếu niên, ngoài các yếu tố gây căng thẳng do đại dịch, còn bị nhiễm COVID-19 so với những người không bị nhiễm COVID-19 (6). Tóm lại, những phát hiện này có thể cho thấy vai trò của các bệnh nhiễm trùng do vi rút được biết là làm thương tổn đến hệ thần kinh trung ương.

Cha mẹ hay lo lắng thường có con cái cũng hay lo lắng; phong cách nuôi dạy con của họ có thể làm cho các triệu chứng của trẻ trở nên trầm trọng hơn so với bình thường. Ngay cả những đứa trẻ bình thường cũng khó giữ được bình tĩnh và điềm đạm khi ở cạnh một bậc cha mẹ lo lắng, và những đứa trẻ có khuynh hướng di truyền về chứng lo âu thì càng gặp khó khăn hơn. Việc bị ngược đãi ở nhà hoặc trường học và thiếu khả năng kiểm soát hoàn cảnh của bản thân cũng có thể là những yếu tố góp phần; cả việc bị ngược đãi và thiếu khả năng kiểm soát đều có nhiều khả năng xảy ra ở trẻ em và thanh thiếu niên hơn là người trưởng thành.

Tài liệu tham khảo về căn nguyên

  1. 1. Adhikari A, Topiwala M, Gordon JA. Synchronized activity between the ventral hippocampus and the medial prefrontal cortex during anxiety. Neuron. 65:257-269, 2010. doi: 10.1016/j.neuron.2009.12.002

  2. 2. Smoller JW, Yamaki LH, Fagerness JA, et al. The corticotropin-releasing hormone gene and behavioral inhibition in children at risk for panic disorder. Biol Psychiatry. 2005;57(12):1485-1492. doi:10.1016/j.biopsych.2005.02.018

  3. 3. Racine N, McArthur B, Cooke J, et al. Global prevalence of depressive and anxiety symptoms in children and adolescence during COVID-19: A meta-analysis. JAMA Pediatr. 175(11):1142-1150, 2021. doi: 10.1001/jamapediatrics.2021.2482

  4. 4. Dvir Y, Ryan C, Straus JH. Comparison of use of the Massachusetts Child Psychiatry Access Program and patient characteristics before vs during the COVID-19 pandemic. JAMA Netw Open.5(2):e2146618, 2022. doi:10.1001/jamanetworkopen.2021.46618

  5. 5. McArthur BA, Racine N, McDonald S, et al. Child and family factors associated with child mental health and well-being during COVID-19. Eur Child Adolesc Psychiatry. Ngày 24 tháng 7;1-11, 2021. doi: 10.1007/s00787-021-01849-

  6. 6. Lu Y, Tong J, Zhang D, et al. Risk of neuropsychiatric and related conditions associated with SARS-CoV-2 infection: a difference-in-differences analysis. Nat Commun. 2025;16(1):6829. Xuất bản ngày 24 tháng 7 năm 2025. doi:10.1038/s41467-025-61961-1

Sinh lý bệnh của rối loạn lo âu

Các bằng chứng cho thấy rối loạn lo âu liên quan đến sự rối loạn chức năng ở các phần của hệ viền và hồi hải mã, những phần điều chỉnh cảm xúc nói chung và phản ứng với nỗi sợ hãi nói riêng. Ở chuột nhắt, mất biểu hiện của thụ thể serotonin 1A (5-HT1AR) ở não trước trong giai đoạn phát triển sớm dẫn đến rối loạn chức năng của hồi hải mã và gây ra các hành vi lo âu (1). Các yếu tố di truyền và môi trường có thể ảnh hưởng đến các chức năng sinh học này và định hình biểu hiện triệu chứng (2).

Tài liệu tham khảo về sinh lý bệnh

  1. 1. Adhikari A, Topiwala M, Gordon JA. Synchronized activity between the ventral hippocampus and the medial prefrontal cortex during anxiety. Neuron. 65:257-269, 2010. doi: 10.1016/j.neuron.2009.12.002

  2. 2. Meier SM, Trontti K, Purves KL, et al. Genetic Variants Associated With Anxiety and Stress-Related Disorders: A Genome-Wide Association Study and Mouse-Model Study. JAMA Psychiatry. 2019;76(9):924-932. doi:10.1001/jamapsychiatry.2019.1119

Triệu chứng và dấu hiệu của rối loạn lo âu

Có lẽ biểu hiện phổ biến nhất của rối loạn lo âu ở trẻ em và thanh thiếu niên là hành vi né tránh giao tiếp xã hội, bao gồm cả việc từ chối đến trường. "Từ chối trường học" phần lớn đã thay thế từ "ám ảnh trường học". Hầu hết trẻ em từ chối đến trường có thể mắc chứng lo âu chia ly, rối loạn lo âu xã hội, rối loạn hoảng sợ, hoặc kết hợp các chứng này. Một số trẻ có thể mắc chứng sợ hãi cụ thể. Khả năng đứa trẻ đang bị bắt nạt tại trường cũng phải được xem xét.

Trẻ em theo chủ nghĩa hoàn hảo cũng có thể mô tả sự lo lắng xuất phát từ nhu cầu phải thể hiện tốt và nỗi sợ mắc lỗi. Một số trẻ trực tiếp bày tỏ sự lo lắng của mình, mô tả nó dưới dạng những nỗi lo (ví dụ: “Con lo lắng rằng con sẽ không bao giờ gặp lại mẹ/bố nữa” [lo âu chia ly] hoặc “Con lo lắng các bạn sẽ cười nhạo con” [rối loạn lo âu xã hội]).

Hầu hết trẻ em cũng có thể mô tả cảm giác khó chịu của trẻ bằng các triệu chứng của cơ thể: "Tôi không thể đi học vì bị đau bụng." Những trẻ này thường nói thật vì các triệu chứng như đau bụng, buồn nôn, đau đầu, tim đập nhanh và khó ngủ (ví dụ: khó ngủ và khó duy trì giấc ngủ) thường xuất hiện ở trẻ em bị lo âu. Trẻ lớn có thể mắc chứng rối loạn hoảng sợ với những cơn sợ hãi hoặc khó chịu dữ dội, kèm theo các triệu chứng như tim đập nhanh, khó thở hoặc cảm giác sắp gặp tai họa. Dữ liệu xác nhận rằng nhiều trẻ em có các phàn nàn về cơ thể, đặc biệt là đau bụng, có một rối loạn lo âu tiềm ẩn (1).

Tài liệu tham khảo về các triệu chứng và dấu hiệu

  1. 1. Korterink JJ, Diederen K, Benninga MA, Tabbers MM. Epidemiology of pediatric functional abdominal pain disorders: a meta-analysis. PLoS One. 2015;10(5):e0126982. Xuất bản ngày 20 tháng 5 năm 2015. doi:10.1371/journal.pone.0126982

Chẩn đoán rối loạn lo âu

  • Đánh giá tâm thần

  • Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders, Fifth edition, Text Revision (DSM-5-TR) criteria

Việc chẩn đoán rối loạn lo âu thường dựa trên đánh giá lâm sàng (1, 2). Một lịch sử tâm lý xã hội toàn diện thường có thể xác nhận nó. Các phân loại cụ thể của rối loạn lo âu (ví dụ: rối loạn lo âu chia ly, rối loạn lo âu xã hội) có thể được chẩn đoán dựa trên tiêu chí DSM-5-TR cho từng phân loại đó.

Các thang đánh giá có thể hữu ích cho việc sàng lọc.

Một số thang đo đã được xác nhận có sẵn miễn phí:

  • Công cụ sàng lọc các rối loạn cảm xúc liên quan đến lo âu ở trẻ em (SCARED): dành cho trẻ từ 8 đến 18 tuổi; thang đo 41 hạng mục được trẻ và phụ huynh/người giám hộ điền riêng.

  • Thang đo lo âu ở trẻ em Spence (SCAS): dành cho trẻ từ 8 đến 15 tuổi; thang đo gồm 44 hạng mục do trẻ hoặc cha mẹ/người giám hộ hoàn thành.

  • Thang đo lo âu ở trẻ mẫu giáo (PAS): dành cho trẻ từ 2,5 đến 6,5 tuổi; gồm 28 hạng mục do phụ huynh/người giám hộ điền.

  • Thang đo rối loạn lo âu tổng quát 7 (GAD-7): dành cho độ tuổi từ 14 trở lên; thang đo gồm 7 hạng mục được thực hiện bởi chuyên gia chăm sóc sức khỏe.

Các triệu chứng thực thể do lo âu gây ra ở trẻ em có thể làm phức tạp quá trình đánh giá. Ở nhiều trẻ em, một lần đánh giá kỹ lưỡng để loại trừ các bệnh lý nội khoa toàn thân được tiến hành trước khi các bác sĩ xem xét đến chứng rối loạn lo âu.

Tài liệu tham khảo về chẩn đoán

  1. 1. American Psychiatric Association. Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders, Fifth Edition, Text Revision (DSM-5-TR),  Washington: American Psychiatric Association, 2022.

  2. 2. Walter HJ, Bukstein OG, Abright AR, et al. Clinical practice guideline for the assessment and treatment of children and adolescents with anxiety disorders. J Am Acad Child Adolesc Psychiatry. 59(10):1107-1124, 2020. doi: https://doi.org/10.1016/j.jaac.2020.05.005

Điều trị rối loạn lo âu

  • Liệu pháp hành vi (liệu pháp hành vi nhận thức dựa trên tiếp xúc)

  • Những can thiệp của phụ huynh -trẻ và gia đình

  • Điều trị bằng thuốc an thần, thường là thuốc ức chế tái hấp thu serotonin chọn lọc (SSRI) và ở mức độ ít hơn là thuốc ức chế tái hấp thu serotonin-norepinephrine (SNRI) và thuốc chống trầm cảm ba vòng để điều trị lâu dài và đôi khi là benzodiazepine để giảm các triệu chứng cấp tính.

Liệu pháp nhận thức hành vi (CBT) là phương pháp can thiệp hàng đầu để điều trị các rối loạn lo âu ở trẻ em và thanh thiếu niên; các can thiệp hướng đến gia đình có thể giúp tăng cường hiệu quả của CBT. Liệu pháp dùng thuốc (thường là SSRI hoặc SNRI) có thể được xem xét khi các triệu chứng ở mức độ vừa đến nặng, gây suy giảm chức năng hoặc khi liệu pháp nhận thức hành vi (CBT) đơn thuần không đủ hiệu quả. Thuốc an thần (ví dụ: benzodiazepine) có thể hiệu quả để chấm dứt các cơn lo âu cấp tính.

Liệu pháp hành vi

Rối loạn lo âu ở trẻ em được điều trị chủ yếu bằng liệu pháp hành vi (sử dụng các nguyên tắc tiếp xúc và ngăn ngừa phản ứng) (1), đôi khi kết hợp với điều trị bằng thuốc chống lo âu (1–5). Trong liệu pháp nhận thức hành vi dựa trên tiếp xúc (CBT), trẻ em được cho tiếp xúc một cách có hệ thống với tình huống gây lo lắng theo cấp độ. Bằng cách giúp trẻ duy trì trong tình huống gây lo lắng (ngăn ngừa phản ứng), các nhà trị liệu có thể giúp trẻ dần dần giảm bớt sự nhạy cảm và cảm thấy bớt lo lắng hơn. Liệu pháp hành vi có hiệu quả nhất khi một nhà trị liệu giàu kinh nghiệm hiểu biết về sự phát triển của trẻ cá nhân hoá các nguyên tắc này.

Can thiệp gia đình

Các biện pháp can thiệp lấy gia đình làm trung tâm, tập trung vào việc xác định các tác nhân gây lo lắng, thực hiện các kỹ năng đối phó (ví dụ: bài tập thở và thư giãn) và kiểm soát các hành vi né tránh đồng thời thúc đẩy một môi trường hỗ trợ, đôi khi có thể được cung cấp trong bối cảnh nhóm nếu phù hợp với văn hóa hoặc khu vực (6, 7). Các biện pháp can thiệp tại trường học cũng có thể bổ sung cho điều trị cá nhân, đặc biệt là đối với trẻ nhỏ, để giải quyết các yếu tố môi trường và hỗ trợ kỹ năng đối phó.

Điều trị bằng thuốc

Có thể cần đến liệu pháp dùng thuốc khi rối loạn lo âu nặng hoặc khi khó tiếp cận với chuyên gia trị liệu hành vi trẻ em giàu kinh nghiệm. Khi bắt đầu điều trị bằng thuốc, các bác sĩ lâm sàng cần nhận thức được nguy cơ bị các tác dụng bất lợi. Các tác dụng bất lợi có thể khác nhau tùy từng người và có thể xảy ra với bất kỳ loại thuốc chống trầm cảm nào và vào bất kỳ thời điểm nào trong quá trình điều trị; do đó, việc theo dõi sát sao là rất cần thiết.

SSRI và SNRI

Thuốc SSRI thường là phương án bước đầu cho điều trị lâu dài. Không có bằng chứng nào cho thấy bất kỳ SSRI nào hiệu quả hơn SSRI khác (8); tuy nhiên, tác dụng bất lợi có thể khác nhau (ví dụ: tùy thuộc vào quá trình chuyển hóa chậm hay nhanh, tương tác với các loại thuốc khác). Việc điều chỉnh liều, giảm dần và ngừng thuốc có thể được kiểm soát nhanh hơn với các SSRI có thời gian bán thải ngắn hơn, chẳng hạn như sertraline và escitalopram, 2 trong số các SSRI được sử dụng phổ biến nhất để điều trị cho trẻ em và thanh thiếu niên (9, 10).

Các thuốc SNRI (ví dụ: duloxetine, venlafaxine) có thể được xem xét như là phương án điều trị bước hai. Thuốc chống trầm cảm ba vòng là phương án điều trị bước ba. Khi phối hợp với CBT, SSRI có khả năng cải thiện các triệu chứng ở mức cao nhất so với chỉ dùng thuốc hoặc liệu pháp đơn thuần (11).

Hiện có sẵn các bảng xét nghiệm gen để kiểm tra các enzyme chuyển hóa nhiều loại thuốc khác nhau. Phân tích kiểu gen có thể giúp xác định những bệnh nhân có nguy cơ cao gặp phản ứng bất lợi hoặc đáp ứng không đầy đủ với thuốc SSRI. Cụ thể, hướng dẫn CPIC (Hiệp hội Thực hiện Dược lý Di truyền Lâm sàng) hỗ trợ việc kiểm tra một số biến thể di truyền hạn chế (ví dụ: CYP2D6, CYP2C19, 2B6) làm thay đổi (tức là tăng hoặc giảm) quá trình chuyển hóa của SSRI hoặc các loại thuốc khác, dẫn đến kết quả điều trị kém do ảnh hưởng đến hiệu quả hoặc tác dụng bất lợi (12–14). Việc xét nghiệm được thực hiện trước khi bắt đầu điều trị giúp xác định những bệnh nhân có nguy cơ cao. Sau khi bắt đầu điều trị, việc xét nghiệm có thể được xem xét ở những bệnh nhân đáp ứng kém với thuốc hoặc gặp tác dụng bất lợi. Không khuyến nghị xét nghiệm cho những bệnh nhân không có yếu tố nguy cơ và những người có đáp ứng tốt và khả năng dung nạp tốt. Không khuyến nghị xét nghiệm các biến thể khác (CYP1A2, CYP2C9, CYP3A4, SLC6A4, HTR2A) do bằng chứng hỗ trợ các khuyến nghị về liều lượng dựa trên gen còn hạn chế. Các yếu tố khác ảnh hưởng đến quá trình chuyển hóa thuốc mà các nền tảng xét nghiệm hiện tại chưa xác định được bao gồm các biến thể di truyền hoặc biểu sinh mới hoặc hiếm gặp, cũng như tuổi tác và chế độ ăn uống. (15). Cần sa hoặc cannabidiol (CBD) và tetrahydrocannabinol (THC) là những chất ức chế ở mức trung bình đến mạnh các enzyme CYP, làm tăng nồng độ SSRI trong huyết tương (16, 17) và góp phần gây ra các tác dụng bất lợi (ví dụ: tiêu chảy, chóng mặt, mệt mỏi). Các bác sĩ lâm sàng yêu cầu làm các xét nghiệm này cần giúp gia đình giải thích kết quả (12). (Xem bảng .)

Nhìn chung, thuốc SSRI được dung nạp tốt trong tất cả các chỉ định mà thuốc này được kê đơn. Một số tác dụng bất lợi ban đầu (ví dụ: buồn nôn, đau bụng, đau đầu, kích động [bồn chồn, mất ngủ, cáu gắt, mất kiểm soát]) thường sẽ nhanh chóng biến mất. Bắt đầu với mức liều thấp nhất, tăng dần liều lượng từ từ và dùng thuốc vào các thời điểm khác nhau trong ngày (buổi tối nếu mệt mỏi; buổi sáng nếu mất ngủ) có thể hiệu quả. Các tác dụng bất lợi xuất hiện muộn (ví dụ: tăng tiết mồ hôi, không đạt cực khoái, thường kéo dài (9). Tăng cân có thể xuất hiện sớm hoặc muộn trong quá trình điều trị và chủ yếu liên quan đến escitalopram và citalopram, ít hơn với fluoxetine và hoàn toàn không liên quan đến sertraline (18).

SNRI, ít được dung nạp tốt hơn SSRI, cũng có thể làm tăng nguy cơ tăng huyết áp do ức chế hấp thu norepinephrine, dẫn đến tăng hoạt động noradrenergic (19, 20).

Cần phải giảm liều dần dần các thuốc SSRI và SNRI vì các triệu chứng cai thuốc (ví dụ: chóng mặt, đau đầu, run rẩy, mệt mỏi, các triệu chứng giống cúm, dị cảm, suy giảm trí nhớ, mất ngủ) có thể xảy ra sau khi ngừng thuốc đột ngột hoặc nhanh chóng. Các loại thuốc có thời gian bán thải ngắn hơn có nguy cơ cai thuốc cao hơn, trong khi fluoxetine có nguy cơ thấp nhất. Giảm liều từ từ trong vòng vài tuần đến vài tháng có thể là cần thiết. Trong trường hợp các triệu chứng xuất hiện ở liều lượng tối thiểu hiện có, việc chuyển sang chế phẩm dạng lỏng có thể cho phép giảm liều dần dần hơn (21, 22).

Bảng
Bảng

Các loại thuốc khác

Benzodiazepine có thể được sử dụng để điều trị chứng lo âu cấp tính (ví dụ: do một thủ thuật y tế), nhưng không được khuyến nghị sử dụng để điều trị lâu dài. Benzodiazepine có thời gian bán thải ngắn (ví dụ: lorazepam) thường là lựa chọn tốt nhất, nhưng nguy cơ xuất hiện các triệu chứng cai thuốc cấp tính có thể hạn chế việc sử dụng thuốc này (23). Các thuốc có thời gian bán thải dài hơn (ví dụ: clonazepam) đặc biệt hiệu quả trong điều trị rối loạn hoảng sợ. Buspirone được phát hiện là dung nạp tốt ở bệnh nhân nhi (từ 6 tuổi đến 17 tuổi) mắc chứng rối loạn lo âu lan tỏa; tuy nhiên, bằng chứng hỗ trợ việc sử dụng thuốc này còn hạn chế và mâu thuẫn (24). Các báo cáo về cải thiện các rối loạn về phát triển như hội chứng Williams (25) và tự kỷ (26) đã tạo ra các nghiên cứu đang diễn ra.

Một số tác dụng chống lo âu được báo cáo đối với clonidine và guanfacine trong các nghiên cứu hạn chế (27). Những phương pháp này có thể được xem xét tốt nhất trong các rối loạn tic hoặc rối loạn hành vi gây rối kèm theo rối loạn lo âu hoặc rối loạn tăng động giảm chú ý.

Các loại thuốc chống loạn thần cũng đã được chứng minh là có tác dụng chống lo âu và nên được xem xét sử dụng chủ yếu trong trường hợp lo âu có thể góp phần gây ra các hành vi gây rối nghiêm trọng, hung hăng, rối loạn tâm thần hoặc trong các trường hợp kháng điều trị.

Tài liệu tham khảo về điều trị

  1. 1. Brent DA, Porta G, Rozenman MS, et al. Brief Behavioral Therapy for Pediatric Anxiety and Depression in Primary Care: A Follow-up. J Am Acad Child Adolesc Psychiatry. 2020;59(7):856-867. doi:10.1016/j.jaac.2019.06.009

  2. 2. Strawn JR, Welge JA, Wehry AM, et al. Efficacy and tolerability of antidepressants in pediatric anxiety disorders: A systematic review and meta-analysis. Depress Anxiety. 32(3):149-157, 2015.

  3. 3. Ipser JC, Stein DJ, Hawkridge S, et al. Pharmacotherapy for anxiety disorders in children and adolescents. Cochrane Database Syst Rev. (3):CD005170, 2009. doi: 10.1002/14651858.CD005170.pub2

  4. 4. Wang Z, Whiteside SPH, Sim L, et al. Comparative Effectiveness and Safety of Cognitive Behavioral Therapy and Pharmacotherapy for Childhood Anxiety Disorders: A Systematic Review and Meta-analysis [published correction appears in JAMA Pediatr. Ngày 1 tháng 10 năm 2018;172(10):992. doi: 10.1001/jamapediatrics.2018.3021.]. JAMA Pediatr. 2017;171(11):1049-1056. doi:10.1001/jamapediatrics.2017.3036

  5. 5. Walter HJ, Bukstein OG, Abright AR, et al. Clinical Practice Guideline for the Assessment and Treatment of Children and Adolescents With Anxiety Disorders. J Am Acad Child Adolesc Psychiatry. 2020;59(10):1107-1124. doi:10.1016/j.jaac.2020.05.005

  6. 6. Varghese M, Kirpekar V, Loganathan S. Family Interventions: Basic Principles and Techniques. Indian J Psychiatry. 2020;62(Suppl 2):S192-S200. doi:10.4103/psychiatry.IndianJPsychiatry_770_19

  7. 7. Goger P, Weersing VR. Family based treatment of anxiety disorders: A review of the literature (2010-2019). J Marital Fam Ther. 2022;48(1):107-128. doi:10.1111/jmft.12548

  8. 8. Ball SG, Kuhn A, Wall D, Shekhar A, Goddard AW: Selective serotonin reuptake inhibitor treatment for generalized anxiety disorder: a double-blind, prospective comparison between paroxetine and sertralineJ Clin Psychiatry. 2005;66(1):94-99. doi:10.4088/jcp.v66n0113

  9. 9. Strawn JR, Mills JA, Poweleit EA, Ramsey LB, Croarkin PE. Adverse Effects of Antidepressant Medications and their Management in Children and Adolescents. Pharmacotherapy. 2023;43(7):675-690. doi:10.1002/phar.2767

  10. 10. Poweleit EA, Taylor ZL, Mizuno T, et al. Escitalopram and Sertraline Population Pharmacokinetic Analysis in Pediatric Patients. Clin Pharmacokinet. 2023;62(11):1621-1637. doi:10.1007/s40262-023-01294-8

  11. 11.Walkup JT, Albano AM, Piacentini J, et al. Cognitive behavioral therapy, sertraline, or a combination in childhood anxiety. N Engl J Med 359:2753-2766, 2008. doi: 10.1056/NEJMoa0804633

  12. 12. Bousman CA, Stevenson JM, Ramsey LB, et al. Clinical Pharmacogenetics Implementation Consortium (CPIC) Guideline for CYP2D6, CYP2C19, CYP2B6, SLC6A4, and HTR2A Genotypes and Serotonin Reuptake Inhibitor Antidepressants. Clin Pharmacol Ther. 2023;114(1):51-68. doi:10.1002/cpt.2903 

  13. 13. Hoffelt C, Gross T. A review of significant pharmacokinetic drug interactions with antidepressants and their management. Ment Health Clin. 2016;6(1):35-41. Xuất bản ngày 8 tháng 3 năm 2016. doi:10.9740/mhc.2016.01.035

  14. 14. Sultan MA, Courtney DB. Adjunctive Trazodone and Depression Outcome in Adolescents Treated with Serotonin Re-uptake Inhibitors. J Can Acad Child Adolesc Psychiatry. 2017;26(3):233-240

  15. 15.Marken PA, Munro JS. Selecting a Selective Serotonin Reuptake Inhibitor: Clinically Important Distinguishing Features. Prim Care Companion J Clin Psychiatry. 2000;2(6):205-210. doi:10.4088/pcc.v02n0602

  16. 16. Anderson LL, Doohan PT, Oldfield L, et al. Citalopram and Cannabidiol: In Vitro and In Vivo Evidence of Pharmacokinetic Interactions Relevant to the Treatment of Anxiety Disorders in Young People. J Clin Psychopharmacol. 2021;41(5):525-533. doi:10.1097/JCP.0000000000001427

  17. 17. Vaughn SE, Strawn JR, Poweleit EA, Sarangdhar M, Ramsey LB. The Impact of Marijuana on Antidepressant Treatment in Adolescents: Clinical and Pharmacologic Considerations. J Pers Med. 2021;11(7):615. Xuất bản ngày 29 tháng 6 năm 2021. doi:10.3390/jpm11070615

  18. 18. Calarge CA, Mills JA, Janz KF, Burns TL, Coryell WH, Zemel BS. Body Composition in Adolescents During Treatment With Selective Serotonin Reuptake Inhibitors. Pediatrics. 2017;140(1):e20163943. doi:10.1542/peds.2016-3943

  19. 19. Zhong Z, Wang L, Wen X, Liu Y, Fan Y, Liu Z. A meta-analysis of effects of selective serotonin reuptake inhibitors on blood pressure in depression treatment: outcomes from placebo and serotonin and noradrenaline reuptake inhibitor controlled trials. Neuropsychiatr Dis Treat. 2017;13:2781-2796. Xuất bản ngày 7 tháng 11 năm 2017. doi:10.2147/NDT.S141832

  20. 20. Brent DA, Emslie GJ, Clarke GN, et al. Predictors of spontaneous and systematically assessed suicidal adverse events in the treatment of SSRI-resistant depression in adolescents (TORDIA) study. Am J Psychiatry. 2009;166(4):418-426. doi:10.1176/appi.ajp.2008.08070976)

  21. 21. Horowitz MA, Framer A, Hengartner MP, Sørensen A, Taylor D. Estimating Risk of Antidepressant Withdrawal from a Review of Published Data. CNS Drugs. 2023;37(2):143-157. doi:10.1007/s40263-022-00960-y)

  22. 22. Shapiro not in Pubmed? https://psychiatryonline.org/doi/full/10.1176/appi.pn.2025.09.9.1?af=R)

  23. 23. Szuhany KL, Simon NM. Anxiety Disorders: A Review. JAMA. 2022;328(24):2431-2445. doi:10.1001/jama.2022.22744

  24. 24. Strawn JR,  Mills JA, Cornwall GJ, et al. Buspirone in children and adolescents with anxiety: A review and Bayesian analysis of abandoned randomized controlled trials. J Child Adolesc Psychopharmacol.  28(1): 2-9, 2018. doi: 10.1089/cap.2017.0060

  25. 25. Thom RP, Keary CJ, Waxler JL, et al. Buspirone for the treatment of generalized anxiety disorder in Williams syndrome: A case series. J Autism Dev Disord. 50(2):676-682, 2020. doi: 10.1007/s10803-019-04301-9

  26. 26. Ceranoglu TA, Wozniak J, Fried R, et al. A retrospective chart review of buspirone for the treatment of anxiety in psychiatrically referred youth with high-functioning autism spectrum disorder. J Child Adolescent Psychopharmacol. 29(1):28-33, 2018. doi: 10.1089/cap.2018.0021

  27. 27. Pringsheim T, Okun MS, Müller-Vahl K, et al. Practice guideline recommendations summary: Treatment of tics in people with Tourette syndrome and chronic tic disorders. Neurology. 2019;92(19):896-906. doi:10.1212/WNL.0000000000007466

Tiên lượng về bệnh rối loạn lo âu

Tiên lượng về rối loạn lo âu ở trẻ em phụ thuộc vào mức độ nặng, khả năng sẵn có của điều trị có thẩm quyền và khả năng phục hồi của trẻ. Nhiều trẻ em có thể phải vật lộn với các triệu chứng lo âu khi trưởng thành. Tuy nhiên, khi được điều trị sớm, nhiều trẻ học cách tự kiểm soát sự lo âu của mình.

Những điểm chính

  • Biểu hiện thường gặp nhất của rối loạn lo âu có thể là chứng biếng ăn; nhiều trẻ có thể biểu hiện sự khó chịu của mình thông qua các triệu chứng của cơ thể; những triệu chứng thực thể này có thể làm phức tạp quá trình đánh giá.

  • Hãy coi sự lo âu như là rối loạn ở trẻ em chỉ khi nào sự lo âu trở nên quá mức mà nó làm suy giảm chức năng hoặc gây ra những căng thẳng nghiêm trọng và/hoặc tránh né.

  • Liệu pháp hành vi (sử dụng các nguyên tắc phòng ngừa sự tiếp xúc và phản ứng) hiệu quả nhất khi được thực hiện bởi một nhà trị liệu giàu kinh nghiệm có kiến thức về sự phát triển của trẻ và những người điều chỉnh các nguyên tắc này cho trẻ.

  • Trong những trường hợp nặng hơn hoặc khi khó tiếp cận với chuyên gia trị liệu hành vi trẻ em giàu kinh nghiệm, có thể cần đến thuốc (SSRI, SNRI).

  • Xét nghiệm theo bảng xét nghiệm có sẵn trên thị trường cho các biến thể CYP vẫn còn hạn chế.

quizzes_lightbulb_red
Test your KnowledgeTake a Quiz!