Bất kỳ loại ung thư nào cũng có khả năng di căn đến xương, nhưng di căn từ ung thư biểu mô là phổ biến nhất, đặc biệt là những loại phát sinh ở các tạng đặc sau đây:
Ung thư tuyến tiền liệt ở nam giới và ung thư vú ở phụ nữ là phổ biến nhất. Ung thư phổi là nguyên nhân gây tử vong thường gặp nhất ở cả hai giới. Ung thư vú thường gây di căn xương nhất. Di căn có thể tới bất kỳ xương nào. Bệnh di căn thường không lan đến xương bên dưới giữa cẳng tay hoặc giữa bắp chân, nhưng khi bệnh xảy ra ở những vị trí đó (di căn cực chi), thì thường là do ung thư phổi hoặc ung thư thận.
Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ dự đoán rằng tỷ lệ mắc mới của ung thư vú ở nữ giới (316.950) sẽ cao hơn tỷ lệ mắc mới của ung thư phổi ở nam giới và nữ giới cộng lại (124.730) (1). Tuy nhiên, tỷ lệ tử vong do ung thư phổi, dù ở nam giới (64.190) hay nữ giới (60.540), sẽ cao hơn tỷ lệ tử vong do ung thư vú ở nữ giới (42.170) hoặc ung thư tuyến tiền liệt ở nam giới (35.770). Một loạt ca bệnh đã công bố về xử trí bằng phẫu thuật chỉnh hình các tổn thương di căn tại các trung tâm ung thư cho thấy ung thư vú vẫn là loại ung thư phổ biến nhất cần can thiệp chỉnh hình (2). Thông thường, bệnh nhân ung thư vú di căn được điều trị y tế sống sót lâu hơn trước khi họ bị di căn phổi, gan và não so với các tổn thương di căn tạng đặc khác.
Tài liệu tham khảo
1. American Cancer Society. Cancer Facts & Figures 2025. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2025.
2. Toma CD, Dominkus M, Nedelcu T, et al. Metastatic bone disease: a 36-year single centre trend-analysis of patients admitted to a tertiary orthopaedic surgical department. J Surg Oncol. 2007;96(5):404-410. doi:10.1002/jso.20787
Các triệu chứng và dấu hiệu của u xương di căn
Di căn xương thường được biểu hiện bằng đau xương, mặc dù đôi khi có thể không có triệu chứng. Di căn xương có thể gây ra các triệu chứng trước khi phát hiện ra khối u nguyên phát hoặc xuất hiện ở những bệnh nhân đã được chẩn đoán ung thư trước đó.
Chẩn đoán khối u xương di căn không rõ nguồn gốc
Tiền sử, khám thực thể và xét nghiệm (công thức máu, bảng xét nghiệm chuyển hóa, điện di protein huyết thanh/điện di protein nước tiểu, kháng nguyên đặc hiệu tuyến tiền liệt ở nam giới)
Phim chụp X quang toàn bộ xương
Chẩn đoán hình ảnh tiên tiến (chụp CT ngực/bụng/vùng chậu)
Chụp xương có chất phóng xạ technecium-99m toàn thân để xác định các vị trí di căn khác
Sinh thiết để xác nhận nguồn gốc của khối u nguyên phát
Khối u xương di căn được xem xét ở tất cả bệnh nhân trên 40 tuổi có tình trạng đau xương không rõ nguyên nhân, nhưng đặc biệt ở những bệnh nhân có
Tiền sử ung thư đã biết
Đau hoặc bất thường trên X-quang tại nhiều vị trí
Các dấu hiệu trên các kiểm tra chẩn đoán hình ảnh cho thấy di căn đến các vị trí khác
Tổn thương xương do di căn từ ung thư tuyến tiền liệt thường có biểu hiện đặc xương, ung thư phổi thường là các tổn thương tiêu xương, ung thư vú có thể là tổn thương đặc xương hoặc phá hủy xương.
Hình ảnh do bác sĩ Michael J. Joyce, và bác sĩ Hakan Ilaslan cung cấp.
Nếu nghi ngờ có di căn, người ta thường tiến hành chụp toàn thân bằng chất phóng xạ hoặc PET/CT. Chụp xương hoặc chụp PET/CT nhạy hơn chụp X-quang đối với di căn xương giai đoạn đầu và di căn xương không có triệu chứng và có thể được sử dụng để chụp toàn bộ cơ thể. Các tổn thương trên xạ hình xương thường được cho là tổn thương di căn nếu bệnh nhân có bệnh ung thư đã biết.
Cần nghi ngờ di căn ở những bệnh nhân có nhiều tổn thương trên hình ảnh chụp xương hoặc chụp PET. Mặc dù nghi ngờ di căn ở những bệnh nhân đã biết mình bị ung thư và có một tổn thương xương đơn lẻ, tổn thương đó có thể không phải là di căn, đặc biệt lầ nếu tiền sử ung thư của bệnh nhân là ung thư mức độ thấp và/hoặc nếu đã có thời gian dài không có bệnh. Do đó, trong những trường hợp này, sinh thiết tổn thương được khuyến nghị để xác nhận chẩn đoán di căn.
Đánh giá nhằm xác định ung thư nguyên phát ban đầu chưa được biết ở bệnh nhân có một hoặc nhiều tổn thương xương bao gồm bệnh sử và khám thực thể toàn diện, chụp CT ngực/bụng/xương chậu và đánh giá xét nghiệm. Cách tiếp cận như vậy sẽ xác định được ung thư nguyên phát trong hơn 85% thời gian (1). Chẩn đoán nghi ngờ dựa trên đánh giá giai đoạn này được xác nhận bằng sinh thiết xương, thường là sinh thiết lõi dưới sự dẫn hướng của hình ảnh. Sinh thiết kết hợp với nhuộm hóa mô miễn dịch có thể cung cấp các bằng chứng xác định loại u nguyên phát. Đôi khi khối u nguyên phát không thể được xác định sau khi làm các kiểm tra này, khi đó cần phải tiến hành đánh giá bổ sung, bao gồm PET/CT và bất kỳ nội soi nào được chỉ định.
CAVALLINI JAMES/BSIP/THƯ VIỆN HÌNH ẢNH KHOA HỌC
Tài liệu tham khảo chẩn đoán
1. Rougraff BT, Kneisl JS, Simon MA. Skeletal metastases of unknown origin. A prospective study of a diagnostic strategy. J Bone Joint Surg Am. 1993;75(9):1276-1281. doi:10.2106/00004623-199309000-00003
Điều trị u xương di căn
Thường xạ trị cho các tổn thương có triệu chứng hoặc lớn hoặc ngày càng mở rộng
Phẫu thuật cố định xương để phòng gãy xương bệnh lý hoặc cắt bỏ nếu tổn thương xương ở giai đoạn muộn (tái tạo khớp nếu cần)
Tạo hình thân đốt sống bằng xi măng có bóng hoặc không có bóng trong trường hợp gãy xương đốt sống gây đau
Điều trị u di căn xương phụ thuộc vào loại tổn thương mô (loại mô cơ quan). Xạ trị, kết hợp với điều trị hóa chất chọn lọc hoặc các thuốc hormon, là phương pháp điều trị phổ biến nhất. Xạ trị được sử dụng cho các tổn thương có triệu chứng và cho các tổn thương lớn hơn, nếu chúng tiến triển, có nguy cơ dẫn đến đau, gãy xương và/hoặc quy trình ổn định khó khăn hơn. Sử dụng sớm xạ trị và thuốc ức chế hủy cốt bào (bisphosphonate [ví dụ: zoledronate] hoặc denosumab) làm chậm quá trình phá hủy xương. Một số khối u có khả năng lành lại sau khi xạ trị (ví dụ: ung thư vú, tuyến tiền liệt và u tủy) hơn những khối u khác (ví dụ: ung thư phổi và ung thư biểu mô tế bào thận). Vì lý do này, phương pháp điều trị phẫu thuật tích cực hơn thường được áp dụng đối với các mô học ít đáp ứng với tia xạ này.
Nếu tình trạng phá hủy xương rộng, dẫn đến gãy xương bệnh lý thực sự hoặc gãy xương sắp xảy ra, có thể cần phải phẫu thuật cố định bằng cấy ghép chấn thương hoặc cắt bỏ và tái tạo bên trong bộ phận giả để làm ổn định, giảm đau và duy trì chất lượng cuộc sống cũng như mức độ độc lập. Khi ung thư nguyên phát đã được cắt bỏ và chỉ còn bệnh xương di căn thiểu năng (đặc biệt là nếu tổn thương di căn xuất hiện muộn ≥ 1 năm sau khi điều trị khối u nguyên phát), cắt bỏ toàn bộ đôi khi phối hợp với xạ trị, hóa trị hoặc cả hai nhưng hiếm khi có thể chữa khỏi. Tiêm methyl methacrylate vào cột sống (tạo hình thân đốt sống có bóng hoặc tạo hình đốt sống) làm giảm đau, mở rộng và ổn định gãy xương tì đè không có lan rộng đến mô mềm ngoài màng cứng. Các kỹ thuật phẫu thuật ít xâm lấn tương tự đang nhanh chóng được ưa chuộng trong điều trị bệnh di căn xương ở vùng chậu và tứ chi.
Hình ảnh này cho thấy tiêu xương do di căn thứ phát từ ung thư biểu mô tế bào thận ở đầu gần xương đùi. Vị trí và mức độ phá hủy xương làm cho nguy cơ gãy xương cực kỳ cao (nguy cơ gãy xương).
Hình ảnh này cho thấy tiêu xương do di căn thứ phát từ ung thư biểu mô tế bào thận ở đầu gần xương đùi. Vị trí và mức đ
Hình ảnh do bác sĩ Michael J. Joyce và bác sĩ David M. Joyce cung cấp.
Phim chụp X-quang này cho thấy tổn thương tiêu xương do di căn lớn ở lồi cầu trong xương đùi với nguy cơ gãy xương bệnh lý.
Phim chụp X-quang này cho thấy tổn thương tiêu xương do di căn lớn ở lồi cầu trong xương đùi với nguy cơ gãy xương bệnh
Hình ảnh do bác sĩ Michael J. Joyce và bác sĩ David M. Joyce cung cấp.
Các khối u xương do đa u tủy
Đa u tủy, khối u ác tính nguyên phát ở xương phổ biến nhất, chủ yếu xảy ra ở người cao tuổi. Người ta thường coi khối u tế bào tủy xương là khối u xương nguyên phát vì nó có nguồn gốc từ cơ quan tạo máu (xem thêm Đa u tủy). Ngay cả khi đa u tủy được coi là một khối u huyết học, bất thường về xương được xác định phải được phân biệt với các khối u xương khác. Đây là khối u tương bào đặc trưng bởi sự phát triển của tương bào vô tính. Có thể chẩn đoán bằng phương pháp điện di protein huyết thanh và nước tiểu, phương pháp này sẽ xác định được đỉnh đơn dòng ở phần lớn bệnh nhân liên quan đến tình trạng sản sinh quá mức immunoglobulin, thường là IgG, IgA hoặc IgM. Chẩn đoán sau đó được xác nhận bằng sinh thiết tủy xương.
Sự phát triển và tiến triển của khối u thường là đa trung tâm. Tuy nhiên, nó cũng có thể biểu hiện dưới dạng tổn thương riêng lẻ mà không liên quan đến tủy xương toàn thân, được gọi là u tương bào. Không giống như bệnh di căn, phim chụp X-quang xương không thể hiển thị tổn thương một cách đáng tin cậy và cần phải khảo sát xương (phim chụp X-quang toàn thân). Khảo sát hệ thống xương với hình ảnh điển hình là các tổn thương dạng nang, bờ đều rõ hoặc mất chất khoáng lan tỏa.
Hình ảnh do bác sĩ Michael J. Joyce, và bác sĩ Hakan Ilaslan cung cấp.
Một số tổn thương xương đáp ứng khá tốt với xạ trị.
Những điểm chính
Ung thư biểu mô của tuyến vú, phổi và tuyến tiền liệt là những nguyên nhân phổ biến nhất dẫn tới ung thư di căn xương.
Di căn xương cần được nghĩ tới ở những bệnh nhân ung thư, đau nhiều vị trí và/hoặc khi phát hiện tổn thương nghi ngờ di căn trên các phương pháp chẩn đoán hình ảnh.
Bệnh nhân bị ung thư tạng đặc và có tổn thương xương mới dạng phá hủy có thể cần phải có sinh thiết để xác nhận bệnh di căn và loại trừ khối u nguyên phát thứ hai.
Thông thường, xạ trị, bisphosphonate và thuốc ức chế thụ thể hoạt hóa yếu tố hạt nhân kappa-B (RANKL) (denosumab) được sử dụng để làm chậm quá trình phá hủy xương.
Gãy xương bệnh lý có thể cần phải điều trị bằng phẫu thuật để cố định xương gãy hoặc thay thế đoạn xương bị gãy.
