Viêm Khớp Thái dương Hàm (TMJ)

TheoGary D. Klasser, DMD, Louisiana State University School of Dentistry
Xem xét bởiDavid F. Murchison, DDS, MMS, The University of Texas at Dallas
Đã xem xét/Đã chỉnh sửa đã sửa đổi Thg 8 2025
v950864_vi

Viêm khớp nhiễm trùng, viêm khớp chấn thương, viêm xương khớp, viêm khớp dạng thấp và viêm khớp thoái hóa thứ phát có thể ảnh hưởng đến khớp thái dương hàm.

(Xem thêm Tổng quan về rối loạn khớp thái dương hàm.)

Viêm khớp nhiễm trùng

Nhiễm trùng khớp thái dương hàm (TMJ) có thể do nhiễm trùng liền kề lan rộng hoặc nhiễm trùng huyết do các vi khuẩn lan theo đường máu (xem Viêm khớp truyền nhiễm cấp tính). Vùng khớp bị viêm sẽ gây đau và hạn chế cử động hàm. Các dấu hiệu nhiễm trùng tại chỗ có hoặc không có nhiễm trùng toàn thân gợi ý chẩn đoán. Phim chụp X-quang có thể cho kết quả âm tính ở giai đoạn đầu nhưng có thể cho thấy tình trạng tiêu xương sau này. Nếu nghi ngờ viêm khớp mưng mủ thì hút dịch khớp để xác nhận chẩn đoán và xác định vi khuẩn gây bệnh. Chẩn đoán phải được thực hiện nhanh chóng để ngăn ngừa tổn thương khớp vĩnh viễn.

Điều trị bao gồm kháng sinh, uống đủ nước, kiểm soát đau, và hạn chế vận động. Cần phải dùng kháng sinh phổ rộng cho đến khi có thể có chẩn đoán vi khuẩn học cụ thể dựa trên kết quả nuôi cấy và xét nghiệm độ nhạy (1). Đối với nhiễm trùng Staphylococcus aureus MRSA của các cấu trúc trong miệng, vancomycin tiêm tĩnh mạch là thuốc kháng sinh được lựa chọn. Các ổ nhiễm trùng được chọc hút hoặc rạch và dẫn lưu. Một khi nhiễm trùng được kiểm soát, các bài tập há miệng thụ động giúp phòng ngừa tạo sẹo và hạn chế cử động hàm.

Viêm khớp do chấn thương

Hiếm khi, tổn thương cấp tính (ví dụ, do nhổ răng khó hoặc đặt ống nội khí quản) có thể dẫn đến viêm khớp TMJ. Xuất hiện đau, nhạy cảm và hạn chế chuyển động hàm dưới. Chẩn đoán chủ yếu dựa vào bệnh sử. Phim chụp X-quang âm tính, ngoại trừ trường hợp phù nề hoặc xuất huyết trong khớp làm giãn rộng khe khớp. Phương pháp điều trị bao gồm dùng glucocorticoid đường uống, thuốc kháng viêm không steroid (NSAID), chườm nóng, áp dụng chế độ ăn không đau và hạn chế cử động hàm.

Thoái hóa khớp

TMJ có thể bị thương tổn do thoái hóa khớp (bệnh thoái hóa khớp), thường ở những bệnh nhân > 50 tuổi. Thỉnh thoảng, bệnh nhân phàn nàn bị cứng khớp, có tiếng kêu kèn kẹt ở hàm hoặc đau nhẹ. Tiếng kêu lạo xạo có thể là kết quả của tình trạng thoái hóa hoặc thủng đĩa khớp, khiến xương cọ xát vào xương. Thường xảy ra ở cả hai bên khớp. Phim chụp X-quang, chụp CT thông thường hoặc CT chùm tia hình nón có thể cho thấy lồi cầu bị dẹt, lồi cầu, lồi cầu gai hoặc xói mòn và/hoặc nang dưới sụn do khớp chịu quá nhiều tải trọng. Điều trị triệu chứng. Một dụng cụ trong miệng (miếng bảo vệ miệng) đeo khi ngủ (và có thể khi thức) có thể giúp giảm đau và giảm tiếng kêu lạo xạo. NSAIDs có thể giúp giảm đau.

Viêm khớp thoái hoá thứ phát

Viêm khớp thoái hóa thứ phát của TMJ thường phát triển ở những bệnh nhân bị bệnh thấp khớp toàn thân (ví dụ: viêm khớp dạng thấp, viêm khớp tự phát thiếu niên) hoặc những người có tiền sử chấn thương, trật khớp bên trong (ví dụ: dị tật đĩa khớp hoặc dị tật giải phẫu). Bệnh đặc trưng bởi hạn chế há miệng, đau một bên khi cử động hàm, căng khớp, và có tiếng lạo xạo.

Thương tổn một bên khớp giúp phân biệt viêm khớp thoái hóa thứ phát với thoái hóa khớp nguyên phát. Chẩn đoán dựa trên phim chụp X-quang hoặc chụp CT chùm tia hình nón, giống như trong thoái hóa khớp, thường cho thấy tình trạng lồi cầu bị dẹt, lồi cầu, lồi cầu gai hoặc xói mòn ở phía bị thương tổn.

Phương pháp điều trị là bảo tồn, mặc dù có thể cần phải phẫu thuật thay khớp hoặc cắt lồi cầu trên. Thiết bị đeo trong miệng có thể có tác dụng làm giảm triệu chứng. Máng nhai được đeo liên tục, ngoại trừ trong bữa ăn, khi vệ sinh răng miệng, và khi làm sạch máng. Khi các triệu chứng cải thiện, thời gian đeo thiết bị mỗi ngày sẽ giảm dần. Tiêm glucocorticoid nội khớp có thể làm giảm các triệu chứng nhưng có thể đẩy nhanh quá trình mất sụn và hẹp khe khớp nếu tiêm thường xuyên (2).

Viêm khớp dạng thấp

TMJ có thể bị thương tổn ở người lớn và trẻ em bị viêm khớp dạng thấp, nhưng thường xảy ra ở những người mắc bệnh nặng hơn (3). Triệu chứng phổ biến nhất là sưng, đau và hạn chế cử động. Ở trẻ em, sự phá hủy cấu trúc lồi cầu dẫn đến rối loạn phát triển xương hàm dưới và biến dạng mặt. Có thể kéo theo dính khớp. Phim chụp X-quang khớp thái dương hàm thường cho kết quả âm tính ở giai đoạn đầu nhưng thường cho thấy tình trạng tiêu xương ở giai đoạn muộn, có thể dẫn đến sai khớp của khớp cắn hở phía trước. Chẩn đoán được đưa ra dựa trên tình trạng viêm TMJ liên quan đến viêm đa khớp và được xác nhận bằng các dấu hiệu khác điển hình của viêm khớp dạng thấp đang hoạt động (ví dụ: viêm đa khớp).

Điều trị cũng tương tự như viêm khớp dạng thấp ở các khớp khác. Ở giai đoạn cấp tính, có thể dùng thuốc NSAID để giảm đau và hạn chế chức năng hàm. Máng đeo trong khi ngủ thường hữu ích. Khi các triệu chứng giảm dần, các bài tập hàm nhẹ nhàng giúp ngăn ngừa mất cử động hàm dưới quá mức. Phẫu thuật là cần thiết nếu bệnh dính khớp phát triển nhưng không nên thực hiện cho đến khi tình trạng bệnh thuyên giảm.

Tài liệu tham khảo

  1. 1. Omiunu A, Talmor G, Nguyen B, et al. Septic Arthritis of the Temporomandibular Joint: A Systematic Review. J Oral Maxillofac Surg. 2021;79(6):1214-1229. doi:10.1016/j.joms.2021.01.004

  2. 2. Derwich M, Mitus-Kenig M, Pawlowska E. Mechanisms of Action and Efficacy of Hyaluronic Acid, Corticosteroids and Platelet-Rich Plasma in the Treatment of Temporomandibular Joint Osteoarthritis-A Systematic Review. Int J Mol Sci. 2021;22(14):7405. Xuất bản ngày 9 tháng 7 năm 2021. doi:10.3390/ijms22147405

  3. 3. Hysa E, Lercara A, Cere A, et al. Temporomandibular disorders in immune-mediated rheumatic diseases of the adult: A systematic review. Semin Arthritis Rheum. 2023;61:152215. doi:10.1016/j.semarthrit.2023.152215

quizzes_lightbulb_red
Test your KnowledgeTake a Quiz!