MSD Manual

Hãy xác nhận rằng quý vị là chuyên gia chăm sóc sức khỏe

Đang tải

Béo phì

Theo

Adrienne Youdim

, MD, David Geffen School of Medicine at UCLA

Xem lại/Duyệt lại toàn bộ lần cuối Thg12 2016| Sửa đổi nội dung lần cuối cùng Thg1 2017
Nguồn chủ đề

Béo phì là trọng lượng tăng quá mức, được định nghĩa là chỉ số khối cơ thể (BMI) ≥30 kg/m2. Các biến chứng bao gồm rối loạn tim mạch (đặc biệt ở những người thừa mỡ bụng), đái tháo đường, một số bệnh ung thư, bệnh sỏi mật, gan nhiễm mỡ, xơ gan, bệnh thoái hóa khớp, rối loạn sinh sản ở nam giới và nữ giới, rối loạn tâm lý, và tử vong sớm đối với người có BMI ≥ 35. Chẩn đoán dựa trên chỉ số khối cơ thể. Điều trị bao gồm thay đổi lối sống (ví dụ trong chế độ ăn, hoạt động thể chất và hành vi), và đối với một số bệnh nhân, các loại thuốc hoặc phẫu thuật giảm cân (mất cân).

Tỉ lệ mắc béo phì ở Mỹ cao ở mọi lứa tuổi (xem Bảng: Những thay đổi về tỉ lệ hình thành béo phì theo NHANES). Trên 36,5% người lớn bị béo phì (1).

Tỉ lệ cao nhất ở người da đen không Tây Ban Nha (48,1%), so sánh với người gốc Tây Ban Nha (42,5%), người da trắng (34,5%) và người châu Á (11,7%1]). Đàn ông da đen và đàn ông Mỹ gốc Mêhicô trong nhóm có thu nhập cao dễ béo phì hơn nhóm có thu nhập thấp hơn. Tuy nhiên, phụ nữ ở nhóm có thu nhập cao, không liên quan tới chủng tộc, ít có khả năng bị béo phì, và hầu hết người trưởng thành béo phì không ở nhóm có thu nhập thấp hơn.

Bảng
icon

Những thay đổi về tỉ lệ hình thành béo phì theo NHANES

Nhóm tuổi

1976–1980

2003–2004

2007–2008

2009–2012

2013–2014*

2-5 tuổi

5%

13,9%

10,4%

12,1%

9,4%

6-11 tuổi

6,5%

18,8%

19,6%

18,0%

17,4%

12-19 tuổi

5%

17,4%

18,1%

18,4%

20,6%

20-74 tuổi

15%

32,9%

33,8%

35,7%

37,9%

* Số liệu cho 2013-2014 là từ CDC National Center for Health Statistics, có nguồn gốc từ Health, United States, 2015, Bảng 53.

NHANES = Khảo sát kiểm tra sức khỏe và dinh dưỡng quốc gia.

Tại Mỹ, béo phì và các biến chứng của nó gây ra 300.000 ca tử vong sớm mỗi năm, khiến nó là nguyên nhân gây tử vong thứ 2 có thể phòng tránh được, chỉ đứng sau hút thuốc lá.

Tham khảo chung

Căn nguyên

Những nguyên nhân của sự béo phì có thể là đa nhân tố và bao gồm khuynh hướng di truyền. Cơ bản, béo phì là kết quả của sự mất cân bằng kéo dài giữa lượng năng đưa vào và năng lượng tiêu hao, bao gồm năng lượng sử dụng cho các quá trình trao đổi chất cơ bản và năng lượng tiêu hao từ hoạt động thể chất. Tuy nhiên, nhiều yếu tố khác dường như làm tăng khuynh hướng mắc béo phì, bao gồm rối loạn nội tiết (ví dụ, chất bisphenol A, BPA), vi khuẩn đường ruột, chu kỳ ngủ/thức, và các yếu tố môi trường.

Các nhân tố di truyền

Di truyền của BMI là khoảng 66%. Các nhân tố di truyền có thể ảnh hưởng đến nhiều tín hiệu phân tử và thụ thể được sử dụng bởi các bộ phận của vùng dưới đồi và đường tiêu hóa để điều chỉnh lượng thực phẩm đưa vào xem Các con đường điều chỉnh thực phẩm đưa vào). Các yếu tố di truyền có thể được di truyền hoặc là kết quả từ các điều kiện lúc thai nhi (được gọi là sự đóng dấu gen). Hiếm khi, béo phì là hậu quả từ mức độ bất thường của peptide điều chỉnh lượng thực phẩm đưa vào (ví dụ, leptin) hoặc các bất thường trong các thụ thể của chúng (ví dụ thụ thể melanocortin-4).

Các con đường điều chỉnh thực phẩm đưa vào

Các dấu hiệu trước và sau hấp thụ từ đường tiêu hóa và sự thay đổi mức độ chất dinh dưỡng trong huyết tương cung cấp phản hồi ngắn và dài hạn để điều chỉnh thực phẩm đưa vào:

  • Hormon GI (ví dụ: peptide 1 [GLP-1] giống như glucagon, cholecystokinin [CCK], peptide YY [PYY]) làm giảm thực phẩm đưa vào.

  • Ghrelin, bài tiết chủ yếu bởi dạ dày, làm tăng lượng thực phẩm đưa vào.

  • Leptin, được bài tiết từ mô mỡ, chỉ dẫn cho não biết bao nhiêu lượng chất béo được dự trữ. Leptin ức chế sự thèm ăn ở người cân nặng bình thường, nhưng nồng độ leptin cao tương quan với tăng mỡ trong cơ thể. Mức độ Leptin có thể giảm khi cân nặng bị mất và sau đó gửi 1 tín hiệu báo đói đến não.

Vùng dưới đồi tích hợp các dấu hiệu khác nhau trong sự điều chỉnh cân bằng năng lượng và sau đó kích hoạt các con đường để tăng hoặc giảm lượng thực phẩm đưa vào:

  • Neuropeptide Y (NPY), peptide liên quan đến agouti (ARP), hormon kích thích alpha-melanocyte (alpha-MSH), phiên mã liên quan đến cocaine- và amphetamine (CART), hormon tập trung orexin và melanin (MCH) làm tăng lượng thực phẩm đưa vào.

  • Hormone hướng vỏ thượng thận (CRH) và urocortin làm giảm nó.

Các nhân tố di truyền cũng điều chỉnh năng lượng tiêu hao, bao gồm BMR, sự sinh nhiệt bởi chế độ ăn và sự sinh nhiệt liên quan tới hoạt động không chủ động . Các nhân tố di truyền có thể có ảnh hưởng lớn hơn đến việc phân bố của mỡ cơ thể, đặc biệt là mỡ bụng (nó làm tăng nguy cơ của hội chứng chuyển hóa), hơn là khối lượng mỡ của cơ thể.

Các nhân tố môi trường

Trọng lượng tăng khi lượng calo đưa vào vượt quá nhu cầu năng lượng. Các yếu tố quan trọng xác định năng lượng đưa vào bao gồm

  • Kích thước khẩu phần ăn

  • Độ đậm năng lượng của thực phẩm

Các thực phẩm có hàm lượng năng lượng cao (ví dụ, các thực phẩm chế biến), các chế độ ăn có lượng carbohydrate tinh chế cao, và sử dụng các đồ uống nhẹ, nước hoa quả, và rượu làm tăng cân. Các chế độ ăn nhiều rau quả tươi, chất xơ, carbohydrate phức hợp, và các chất đạm nạc, với nước là chất lỏng tiêu thụ chính, làm giảm thiểu sự tăng cân.

Một lối sống tĩnh tại góp phần tăng cân.

Các yếu tố điều chỉnh

Sự béo phì của mẹ trước khi sinh, mẹ hút thuốc trước khi sinh, và việc hạn chế tăng trưởng trong thai kỳ có thể làm rối loạn điều chỉnh cân nặng và góp phần tăng cân trong thời thơ ấu và sau đó. Béo phì ở thời thơ ấu làm cho việc giảm cân trong cuộc sống sau này khó khăn hơn.

Thành phần của vi sinh vật ruột dường như cũng là một nhân tố quan trọng; sử dụng kháng sinh sớm và các nhân tố khác làm thay đổi thành phần của vi khuẩn trong ruột có thể thúc đẩy sự tăng cân và béo phì trong cuộc sống sau này (1).

Khoảng 15% phụ nữ tăng vĩnh viễn ≥ 9 kg mỗi lần mang thai.

Thiếu ngủ (thường được tính là <6 đến 8 giờ/đêm) có thể gây tăng cân bằng cách thay đổi nồng độ hormon gây cảm giác đói.

Các thuốc, bao gồm corticosteroids, lithium, thuốc chống trầm cảm truyền thống (tricyclic, tetracyclic, thuốc ức chế monoamine oxidase [MAOIs]), thuốc benzodiazepine, thuốc chống co giật, thuốc thiazolidinedione (ví dụ rosiglitazone, pioglitazone), thuốc chẹn bêta và thuốc chống rối loạn thần kinh, có thể gây tăng cân.

Hiếm khi, một trong những rối loạn sau đây gây tăng cân :

  • Tổn thương não do khối u gây ra (đặc biệt là u sọ hầu) hoặc nhiễm trùng (đặc biệt những nhiễm trùng ảnh hưởng đến vùng dưới đồi), có thể kích thích tiêu thụ năng lượng quá nhiều

  • Tăng tiết insulin do khối u tụy

  • Tăng cortisol do hội chứng Cushing, nguyên nhân gây ra chứng béo phì chủ yếu ở bụng

  • Suy giáp (hiếm khi là nguyên nhân gây ra sự tăng cân rõ rệt)

Các rối loạn ăn

Ít nhất 2 hình thức ăn bệnh lý có thể liên quan với béo phì:

  • Sự rối loạn ăn quá mức là tiêu thụ nhanh chóng một lượng lớn thực phẩm với cảm giác chủ quan mất kiểm soát trong lúc ăn và nỗi buồn sau đó. Rối loạn này không bao gồm các hành vi bù trừ, như nôn. Sự rối loạn ăn quá mức xảy ra ở khoảng 3,5% nữ giới và 2% nam giới trong cuộc đời của họ và ở khoảng 10 đến 20% những người tham gia chương trình giảm cân. Béo phì thường là bệnh nặng, khối lượng cân nặng lớn thường xuyên tăng hoặc mất, và có những rối loạn tâm lý hiện diện rõ rệt.

  • Hội chứng ăn đêm bao gồm chán ăn sáng, ăn nhiều buổi tối, và chứng mất ngủ, với bữa ăn vào giữa đêm. Ít nhất 25 đến 50% lượng thức ăn hàng ngày được đưa vào sau bữa ăn tối. Khoảng 10% người muốn điều trị bệnh béo phì nặng có thể có rối loạn này. Hiếm khi, một rối loạn tương tự được gây ra bởi việc sử dụng thuốc ngủ như zolpidem.

Hình thức tương tự nhưng mức độ nhẹ hơn có thể góp phần làm tăng cân ở nhiều người hơn. Ví dụ, ăn thêm sau bữa ăn tối góp phần tăng cân quá mức ở nhiều người không có hội chứng ăn đêm.

Tham khảo căn nguyên

  • 1. Ajslev TA, Andersen CS, Gamborg M, et al: Thừa cân thời thơ ấu sau khi đã thiết lập hệ vi sinh đường ruột: Vai trò của cách thức ăn, cân nặng trước khi mang thai và dùng thuốc kháng sinh sớm. Int J Obes 35(4): 522–529, 2011. doi: 10.1038 / ijo.2011.27.

Các biến chứng

Các biến chứng của béo phì bao gồm:

Kháng Insulin, rối loạn mỡ máu, và tăng huyết áp (hội chứng chuyển hóa) có thể phát triển, thường dẫn đến bệnh đái tháo đường và bệnh động mạch vành. Những biến chứng này hay xảy ra ở những bệnh nhân tập trung mỡ ở bụng, mức triglyceride huyết thanh cao, tiền sử gia đình có mắc đái tháo đường týp 2 hay bệnh tim mạch sớm hoặc kết hợp các yếu tố nguy cơ này.

Ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ có thể do quá nhiều mỡ ở cổ chèn ép đường thở khi ngủ. Ngừng thở nhiều lần, có thể tới hàng trăm lần một đêm. Rối loạn này, thường không được chẩn đoán, có thể gây ngáy to và buồn ngủ nhiều ban ngày và tăng nguy cơ cao huyết áp, chứng loạn nhịp tim, và hội chứng chuyển hóa.

Béo phì có thể gây ra hội chứng giảm thông khí do béo phì (hội chứng Pickwick). Rối loạn thở dẫn đến tăng CO2 máu, giảm độ nhạy cảm đối với CO2 trong việc kích thích hô hấp, thiếu hụt oxy máu, bệnh tim phổi, và nguy cơ tử vong sớm. Hội chứng này có thể xảy ra đơn độc hoặc sau ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ.

Các rối loạn da là phổ biến; tăng bài tiết mồ hôi và da, bị mắc kẹt trong các nếp gấp dày của da, thuận lợi cho nấm và vi khuẩn phát triển, làm cho nhiễm trùng hăm đặc biệt phổ biến.

Bị thừa cân có thể dẫn đến bệnh gout, chứng huyết khối tĩnh mạch sâu, và tắc mạch phổi.

Béo phì dẫn đến các vấn đề xã hội, kinh tế và tâm lý như là kết quả của sự thành kiến, sự phân biệt đối xử, hình ảnh cơ thể xấu xí, và lòng tự trọng thấp. Ví dụ, nhiều người có thể thiếu công ăn việc làm hoặc bị thất nghiệp.

Chẩn đoán

  • BMI

  • Chu vi vòng eo

  • Đôi khi phân tích thành phần cơ thể

Ở người trưởng thành, BMI, được định nghĩa là cân nặng (kg) chia cho chiều cao bình phương (m2), được sử dụng để sàng lọc người thừa cân hoặc béo phì (xem Bảng: Chỉ số khối cơ thể (BMI)):

  • Thừa cân = 25 đến 29,9 kg/m2

  • Béo phì = 30 kg/m2

Tuy nhiên, BMI là một công cụ sàng lọc thô và có những hạn chế trong nhiều bộ phận dân cư. Một số chuyên gia cho rằng điểm cắt BMI nên khác nhau dựa trên chủng tộc, giới tính và độ tuổi. Ví dụ, trong một số quần thể không phải da trắng nhất định, các biến chứng của béo phì phát triển ở mức BMI thấp hơn nhiều so với người da trắng.

Ở trẻ em và thanh thiếu niên, thừa cân được xác định ở mức phần trăm 95 BMI, dựa trên sơ đò tăng trưởng đặc trưng dựa vào tuổi và giới của CDC tại CDC web site.

Bảng
icon

Chỉ số khối cơ thể (BMI)

Bình thường *

Thừa cân

Béo phì

Béo phì cực độ

BMI

18,5–24

25–29

30–34

35–39

40–47

48–54

Chiều cao (in)

Trọng lượng cơ thể (lb)

60–61

97–127

128–153

153–180

179–206

204–248

245–285

62–63

104–135

136–163

164–191

191–220

218–265

262–304

64–65

110–144

145–174

174–204

204–234

232–282

279–324

66–67

118–153

155–185

186–217

216–249

247–299

297–344

68–69

125–162

164–196

197–230

230–263

262–318

315–365

70–71

132–172

174–208

209–243

243–279

278–338

334–386

72–73

140–182

184–219

221–257

258–295

294–355

353–408

74–75

148–192

194–232

233–272

272–311

311–375

373–431

76

156–197

205–238

246–279

287–320

328–385

394–443

* BMI thấp hơn mức bình thường được cho là thiếu cân

Tính toán được thực hiện bằng cách sử dụng đơn vị mét (kg, m), nhưng bảng được trình bày bằng inch và pound cho độc giả Mỹ.

Người châu Á, người Nhật Bản và nhiều dân bản địa có điểm cắt thấp hơn (23 kg/m2) cho mức thừa cân. Ngoài ra, BMI có thể cao ở những vận động viên nhiều cơ bắp do họ không có mỡ thừa, và có thể ở mức bình thường hoặc thấp trên những người đã từng bị thừa cân trước đây nay bị mất khối lượng cơ.

Chu vi vòng eo và sự xuất hiện của hội chứng chuyển hóa có vẻ báo hiệu nguy cơ các biến chứng chuyển hóa và tim mạch tốt hơn so với chỉ số BMI.

Mức chu vi vòng eo dẫn đến tăng nguy cơ gây ra các biến chứng do béo phì thay đổi theo nhóm dân tộc và giới tính:

  • Nam giới da trắng: > 93cm (> 36,6 inch), đặc biệt > 101cm (> 39,8 inch)

  • Nữ giới da trắng: > 79cm (>31,1 inch), đặc biệt > 87cm (>34,2 inch)

  • Nam giới Ấn Độ gốc Châu Á : >78 cm (>30,7 inch), đặc biệt > 90cm (> 35,4 inch)

  • Nữ giới Ấn Độ gốc Châu Á: > 72cm (> 28,3 inch), đặc biệt > 80cm (> 31,5 inch)

Phân tích thành phần cơ thể

Thành phần cơ thể - phần trăm mỡ và cơ của cơ thể - cũng được xem xét khi chẩn đoán béo phì. Mặc dù có thể không cần thiết trong thực hành lâm sàng thông thường, phân tích thành phần cơ thể có thể hữu ích nếu các bác sĩ lâm sàng nghi ngờ BMI tăng cao là do cơ hoặc mỡ quá thừa.

Tỷ lệ mỡ trong cơ thể có thể được ước tính bằng cách đo độ dầy nếp gấp da (thường là trên cơ tam đầu) hoặc ở vùng cơ giữa vùng cánh tay trên.

Phân tích trở kháng điện sinh học (BIA) có thể ước tính tỉ lệ phần trăm mỡ cơ thể đơn giản và không xâm lấn. BIA ước tính trực tiếp tỷ lệ phần trăm của tổng lượng nước cơ thể; tỉ lệ phần trăm mỡ cơ thể được suy ra gián tiếp. BIA là đáng tin cậy nhất ở người khỏe mạnh và ở những người chỉ có một vài rối loạn mãn tính không làm thay đổi tỷ lệ phần trăm của tổng lượng nước cơ thể (ví dụ, béo phì mức độ vừa, đái tháo đường). Việc đo lường BIA có đặt ra rủi ro ở những người mang máy khử rung tim được cấy ghép là không rõ ràng.

Trọng lượng dưới nước (thuỷ tĩnh) là phương pháp chính xác nhất để đo tỉ lệ phần trăm mỡ cơ thể. Nó được sử dụng trong nghiên cứu hơn là trong chăm sóc lâm sàng do tốn thời gian và kinh phí. Cần phải thở ra hoàn toàn mới có thể đo được chính xác trọng lượng dưới nước.

Các phương thức chụp hình, bao gồm chụp CT, MRI, và X quang hấp thụ năng lượng kép (DXA), cũng có thể ước lượng được tỷ lệ phần trăm và sự phân bố mỡ cơ thể nhưng thường chỉ được sử dụng cho nghiên cứu.

Các xét nghiệm khác

Bệnh nhân béo phì nên được sàng lọc các rối loạn phổ biến kèm theo, như ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ, đái tháo đường, rối loạn lipid máu, tăng huyết áp, gan nhiễm mỡ và trầm cảm. Các công cụ sàng lọc có thể giúp ích; ví dụ đối với chứng ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ, các bác sỹ lâm sàng có thể sử dụng dụng cụ như bảng câu hỏi STOP-BANG (xem Bảng: Bảng điểm STOP-BANG đánh giá rủi ro đối với chứng ngừng thở khi ngủ tắc nghẽn) và thường là chỉ số ngưng thở-chỉ số giảm hô hấp (tổng số cơn ngưng thở hoặc giai đoạn giảm hô hấp xảy ra trong mỗi giờ ngủ). Ngừng thở tắc nghẽn khi ngủ thường là không được chẩn đoán, và chứng béo phì làm tăng nguy cơ này.

Tiên lượng bệnh

Béo phì có xu hướng tiến triển nếu không được điều trị. Xác suất và mức độ nghiêm trọng của các biến chứng tỷ lệ thuận với

  • Khối lượng chất béo tuyệt đối

  • Sự phân bố chất béo

  • Khối lượng cơ tuyệt đối

Sau khi giảm cân, trong vòng 5 năm hầu hết mọi người quay trở lại trọng lượng của họ trước khi điều trị, và do đó, béo phì đòi hỏi một chương trình quản lý suốt đời tương tự như các rối loạn mãn tính khác.

Điều trị

  • Quản lý chế độ ăn

  • Hoạt động thể lực

  • Can thiệp hành vi

  • Các loại thuốc (ví dụ, phentermine, orlistat, lorcaserin, phentermine/topiramate, naltrexone/bupropion phóng thích kéo dài, liraglutide)

  • Phẫu thuật giảm béo

Mất cân thậm chí từ 5 đến 10% giúp cải thiện sức khoẻ tổng thể, giúp giảm nguy cơ phát triển các biến chứng tim mạch (ví dụ như tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, sự kháng insulin) và giúp giảm mức độ nghiêm trọng của bệnh và làm giảm nhẹ các biến chứng và các rối loạn kèm theo khác như ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ, gan nhiễm mỡ, vô sinh, và trầm cảm.

Sự hỗ trợ từ các chuyên gia chăm sóc sức khoẻ, đồng nghiệp, các thành viên trong gia đình và các chương trình hỗ trợ khác nhau có thể giúp giảm và duy trì cân nặng.

Chế độ ăn

Ăn cân bằng là quan trọng cho việc giảm và duy trì cân nặng.

Các chiến lược bao gồm

  • Ăn các bữa nhỏ và tránh hoặc lựa chọn cẩn thận các đồ ăn nhẹ

  • Thay thế hoa quả tươi và rau và salad cho carbohydrate tinh chế và thực phẩm chế biến

  • Dùng nước uống thay cho nước giải khát hoặc nước hoa quả

  • Hạn chế tiêu thụ rượu đến mức độ vừa phải

  • Dùng các sản phẩm sữa không béo có hoặc ít chất béo, là một phần của chế độ ăn lành mạnh và giúp cung cấp đủ một lượng vitamin D

Chế độ ăn năng lượng thấp, giàu chất xơ, hạn chế mức calo vừa phải (600 kcal/ngày) và kết hợp chặt chẽ với chất đạm nạc có kết quả lâu dài tốt nhất. Các thực phẩm có chỉ số đường huyết thấp (xem Bảng: Chỉ số đường huyết của Một số Thực phẩm) và dầu cá biển hoặc chất béo không bão hoà đơn từ thực vật (ví dụ dầu ô liu) làm giảm nguy cơ rối loạn tim mạch và đái tháo đường.

Sử dụng các bữa ăn thay thế có thể giúp giảm và duy trì cân nặng; các sản phẩm này có thể được sử dụng định kỳ hoặc liên tục.

Không nên duy trì các chế độ ăn quá hạn chế hoặc sẽ dẫn đến mất cân lâu dài. Chế độ ăn giảm lượng calo xuống <50% tiêu hao năng lượng cơ bản (BEE), được mô tả là chế độ ăn rất ít, có thể chỉ có 800 kcal/ngày. Chế độ ăn có lượng calo rất thấp có thể được chỉ định cho bệnh nhân béo phì; Tuy nhiên, chế độ ăn như vậy phải được giám sát bởi nhân viên y tế, và sau khi cân bị mất, tiêu thụ phải được tăng dần để ngăn chặn bệnh nhân lấy lại cân.

Hoạt động thể lực

Tập thể dục làm tăng tiêu hao năng lượng, BMR và sinh nhiệt từ chế độ ăn. Tập thể dục dường như điều chỉnh sự ngon miệng tương đồng hơn với nhu cầu năng lượng. Các lợi ích khác liên quan đến hoạt động thể lực bao gồm

  • Tăng độ nhạy cảm của insulin

  • Cải tiến cấu hình lipid

  • Giảm huyết áp

  • Thân thể khỏe mạnh tốt hơn

  • Tâm lý thoải mái

  • Giảm nguy cơ ung thư vú và ung thư đại tràng

  • Tăng tuổi thọ trung bình

Tập thể dục, bao gồm những bài tập tăng sức bền (sức đề kháng) làm tăng khối cơ. Bởi vì khi nghỉ mô cơ đốt cháy nhiều năng lượng hơn mô mỡ, tăng khối lượng cơ tạo ra sự gia tăng kéo dài trong BMR. Bài tập mà thú vị và thư giãn có nhiều khả năng được duy trì. Sự kết hợp giữa tập thể dục nhịp điệu và tập luyện sức đề kháng tốt hơn so với tập đơn lẻ. Các hướng dẫn khuyến cáo cần hoạt động thể lực 150 phút/tuần để giữ sức khoẻ và 300 đến 360 phút/tuần để giảm cân và duy trì cân nặng. Phát triển lối sống với hoạt động thể lực có thể giúp giảm cân và duy trì cân nặng.

Những can thiệp hành vi

Các nhà lâm sàng có thể khuyến cáo các can thiệp hành vi khác nhau để giúp bệnh nhân giảm cân. Chúng bao gồm

  • Hỗ trợ

  • Tự theo dõi

  • Quản lý căng thẳng

  • Quản lý đột xuất

  • Giải quyết vấn đề

  • Kiểm soát sự kích thích

Ủng hộ có thể đến từ một nhóm, một người bạn thân, hoặc các thành viên trong gia đình. Tham gia vào một nhóm hỗ trợ có thể tăng sự gắn bó với các thay đổi lối sống và do đó thúc đẩy giảm cân. Càng tham gia thường xuyên vào các cuộc họp nhóm, sự hỗ trợ, động cơ và sự giám sát sẽ càng cao hơn và họ cũng thấy trách nhiệm cao hơn, kết quả là sẽ giảm cân nhiều hơn.

Tự theo dõi có thể bao gồm lưu trữ 1 bản ghi thực phẩm (bao gồm số lượng calo trong các thực phẩm), cân đều đặn, và quan sát và ghi lại các hành vi. Một thông tin hữu ích khác là ghi lại thời gian và địa điểm tiêu thụ thực phẩm, sự có mặt hay vắng mặt của người khác, và tâm trạng khi đó. Các nhà lâm sàng có thể cung cấp phản hồi về cách bệnh nhân có thể cải thiện thói quen ăn uống của họ.

Quản lý căng thẳng bao gồm huấn luyến các bệnh nhân xác định các tình huống căng thẳng và phát triển các chiến lược quản lý căng thẳng mà không cần phải ăn (ví dụ đi bộ, thiền, thở sâu).

Quản lý đột xuất bao gồm cung cấp những phần thưởng hữu hình cho những hành vi tích cực (ví dụ như tăng thời gian đi bộ hoặc giảm tiêu thụ một số loại thực phẩm nhất định). Các phần thưởng có thể được trao bởi người khác (ví dụ, từ các thành viên của một nhóm hỗ trợ hoặc một người đang hành nghề chăm sóc sức khoẻ) hoặc bởi bản thân người đó (ví dụ, mua quần áo mới hoặc vé xem ca nhạc). Khen thưởng bằng lời (sự tán dương) cũng có thể có ích.

Giair quyết vấn đề bao gồm nhận dạng và lập kế hoạch cho các tình huống làm tăng nguy cơ ăn không lành mạnh (ví dụ đi du lịch, đi ra ngoài ăn tối) hoặc làm giảm cơ hội cho hoạt động thể dục (ví dụ lái xe đi chơi xa).

Kiểm soát các kích thích bao gồm nhận dạng những trở ngại đối với ăn lành mạnh và một lối sống tích cực và phát triển các chiến lược để vượt qua chúng. Ví dụ, mọi người có thể tránh đi ăn ở nhà hàng ăn nhanh hoặc không giữ các loại kẹo trong nhà. Để có một lối sống tích cực hơn, họ có thể tiếp nhận một hoạt động ưa thích (ví dụ, làm vườn) đăng kí vào một nhóm các hoạt động (ví dụ, lớp tập luyện, nhóm thể thao), đi bộ nhiều hơn, tạo thói quen đi thang bộ thay vì thang máy và đỗ xe ở cuối bãi đậu xe (sẽ phải đi bộ xa hơn).

Các nguồn từ Internet, các ứng dụng cho thiết bị di động và các thiết bị công nghệ khác cũng có thể giúp tuân thủ những thay đổi lối sống và giảm cân. Các ứng dụng có thể giúp bệnh nhân đặt mục tiêu giảm cân, theo dõi tiến bộ của họ, theo dõi tiêu thụ thực phẩm và ghi lại hoạt động thể lực.

Các loại thuốc

Các loại thuốc (ví dụ, orlistat, phentermine, phentermine/topiramate, lorcaserin) có thể được sử dụng nếu BMI ≥ 30 hoặc nếu BMI là 27 ở những bệnh nhân có các biến chứng (ví dụ, tăng huyết áp, đề kháng insulin ). Thông thường, điều trị bằng thuốc cho kết quả giảm cân khiêm tốn (5 đến 10%).

Orlistat ức chế lipase ruột, giảm hấp thu chất béo và cải thiện đường và các lipid huyết. Vì thuốc orlistat không bị hấp thu nên các ảnh hưởng toàn thân là rất hiếm. Đầy hơi, phân có dầu, và tiêu chảy là thông thường nhưng có khuynh hướng hết trong năm thứ hai của điều trị. Một liều 120 mg đường uống 3 lần một ngày được dùng với các bữa ăn bao gồm chất béo. Vitamin bổ sung nên được dùng ít nhất 2 giờ trước hoặc sau khi dùng orlistat. Chứng kém hấp thu và ứ mật là chống chỉ định; hội chứng ruột kích thích và các rối loạn GI khác có thể làm cho orlistat khó chịu đựng. Orlistat có sẵn OTC.

Phentermine là chất tác động lên trung ương ức chế sự thèm ăn được dùng trong ngắn hạn (≤ 3 tháng). Liều khởi đầu ban đầu là 15mg x 1 lần/ngày, và liều có thể tăng lên 30mg một lần/ngày, 37,5mg một lần/ngày, 15mg 2 lần 1 ngày, hoặc 8 mg 3 lần một ngày trước các bữa ăn. Các tác dụng phụ thường gặp bao gồm tăng huyết áp và nhịp tim, chứng mất ngủ, lo âu và táo bón. Không nên sử dụng Phentermine ở những bệnh nhân có các rối loạn tim mạch từ trước, kiểm soát huyết áp kém, cường giáp, hoặc có tiền sử lạm dụng thuốc hoặc nghiện. Dùng hai lần/ngày có thể giúp kiểm soát sự thèm ăn tốt hơn suốt cả ngày.

Sự kết hợp của phenterminetopiramate (dùng để điều trị co giật và chứng đau nửa đầu) được cho phép sử dụng lâu dài. Sự kết hợp thuốc này làm giảm cân trong thời gian tới 2 năm. Liều khởi đầu của dạng phóng thích kéo dài (phentermine 3,75 mg/topiramate 23mg) có thể tăng lên 7,5 mg/46 mg sau 2 tuần; sau đó liều có thể dần dần tăng đến tối đa là 15 mg/92 mg nếu cần thiết để duy trì sự giảm cân. Bởi vì có nguy cơ gây ra các khuyết tật bẩm sinh, phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ chỉ nên dùng hợp chất này nếu họ đang sử dụng phương pháp tránh thai và được kiểm tra hàng tháng xem có thai không. Các tác dụng phụ tiềm tàng bất lợi khác bao gồm các vấn đề về giấc ngủ, suy giảm nhận thức, và tăng nhịp tim. Các tác động dài hạn lên hệ tim mạch vẫn chưa được biết, các nghiên cứu sau khi tiếp thị đang được tiến hành.

Lorcaserin ức chế sự thèm ăn qua chủ vật chọn lọc chủ động các thụ thể serotonin 2C (5-HT2C) não. Không giống như các thuốc serotonergic trước đây được sử dụng để giảm cân, lorcaserin hướng chọn lọc tới các thụ thể 5-HT2c trong vùng dưới đồi, trong đó, khi nhắm mục tiêu, gây ra sự chán ăn; nó không kích thích các thụ thể 5-HT2b ở van tim. Trong các nghiên cứu lâm sàng, tỷ lệ mắc bệnh van tim không tăng đáng kể ở những bệnh nhân dùng lorcaserin so với dùng giả dược. Liều thông thường và tối đa của lorcaserin là 10 mg uống mỗi 12h. Các tác dụng phụ thường gặp nhất ở những bệnh nhân không măc đái tháo đường là nhức đầu, buồn nôn, chóng mặt, mệt mỏi, khô miệng và táo bón; những tác dụng phụ này thường tự giới hạn. Không nên sử dụng Lorcaserin cùng với các thuốc serotonergic, chẳng hạn như các chất ức chế thu lại serotonin chọn lọc (SSRIs), chất ức chế tái hấp thu serotonin-norepinephrine (SNRI), hoặc chất ức chế monoamine oxidase (MAOI), bởi vì hội chứng serotonin là một nguy cơ.

Các viên nén phóng thích Naltrexone/bupropion kéo dài (ER) có thể được sử dụng như một chất giảm cân bổ sung. Naltrexone (được sử dụng để giúp cai rượu) là một chất đối kháng opioid và được cho là ngăn chặn phản hồi tiêu cực đối với các con đường cảm giác no trong não. Bupropion (được sử dụng để điều trị chứng trầm cảm và để giúp cho việc cai thuốc lá) có thể gây ra chứng chán ăn qua hoạt động adrenergic và dopaminergic ở vùng dưới đồi. Liều khởi đầu là một viên duy nhất naltrexone 8 mg/bupropion 90mg; liều được chuẩn độ trên 4 tuần tới liều tối đa 2 viên 2 lần/ngày. Các tác dụng phụ thường gặp nhất gồm buồn nôn, nôn, nhức đầu, và tăng huyết áp tâm thu và tâm trương từ 1 đến 3 mmHg. Các chống chỉ định đối với thuốc này bao gồm tăng huyết áp không kiểm soát và có tiền sử hoặc đang có các yếu tố nguy cơ gây co giật bởi vì bupropion làm giảm ngưỡng co giật.

Liraglutide là một chất chủ vận GLP-1 được sử dụng ban đầu của điều trị đái tháo đường týp 2. Liraglutide làm tăng giải phóng insulin trung gian glucose từ tuyến tụy để tạo ra kiểm soát đường huyết; liraglutide cũng kích thích cảm giác no và giảm khối lượng thực phẩm ăn vào. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng liraglutide 3mg hàng ngày dẫn đến giảm 12,2% cân nặng sau 56 tuần. Liều khởi đầu là 0,6mg một lần/ngày; tăng liều 0,6 mg/tuần tới liều tối đa 3mg x 1 lần/ngày. Liraglutide phải được dùng bằng đường tiêm. Các tác dụng phụ bao gồm buồn nôn và nôn; liraglutide có các cảnh báo bao gồm viêm tụy cấp và nguy cơ của khối u tế bào C tuyến giáp.

Nên ngừng dùng thuốc giảm cân nếu các bệnh nhân không thấy giảm cân rõ sau 12 tuần điều trị.

Hầu hết các thuốc giảm cân OTC đều không được khuyến cáo bởi vì chúng không chỉ ra hiệu quả. Các ví dụ cho loại thuốc này là brindleberry, l-cititine, chitosan, pectin, chiết xuất từ hạt nho, hạt dẻ ngựa, chromium picolinate, fucus vesiculosus, và gingko biloba. Một số (ví dụ, caffeine, ephedrine, guarana, phenylpropanolamine) có nhiều tác dụng bất lợi hơn là lợi ích của chúng. Ngoài ra, một số loại thuốc này được pha hoặc chứa các chất độc hại bị FDA cấm (ví dụ, ephedra, cam đắng, sibutramine).

Phẫu thuật

Phẫu thuật giảm béo là điều trị hiệu quả nhất cho những bệnh nhân béo phì cực độ.

Các quần thể đặc biệt

Béo phì là mối quan tâm đặc biệt ở trẻ em và người cao tuổi.

Trẻ em

Đối với trẻ em béo phì, các biến chứng có khả năng phát triển hơn bởi vì chúng bị béo phì dài hơn. Hơn 25% trẻ em và thanh thiếu niên bị thừa cân hoặc béo phì.

Các yếu tố nguy cơ đối với béo phì ở trẻ sơ sinh là cân nặng khi sinh thấp và mẹ béo phì, đái tháo đường và hút thuốc lá.

Sau tuổi dậy thì, thực phẩm đưa vào tăng; ở trẻ trai, lượng calo dư thừa được sử dụng để tăng sự lắng đọng protein, nhưng ở trẻ gái, dự trữ chất béo tăng.

Đối với trẻ em béo phì, các biến chứng về tâm lý (ví dụ, tự trọng kém, những khó khăn xã hội, trầm cảm) và các biến chứng cơ xương có thể phát triển sớm. Một số biến chứng cơ xương, chẳng hạn như trật xương đùi, chỉ xảy ra ở trẻ em. Các biến chứng sớm khác có thể bao gồm ngừng thở tắc nghẽn khi ngủ, đề kháng insulin , tăng lipid máu, và viêm gan nhiễm mỡ không do rượu. Nguy cơ biến chứng tim mạch, hô hấp, chuyển hóa, gan, và các biến chứng liên quan đến béo phì khác tăng lên khi những trẻ em này trưởng thành.

Nguy cơ mắc béo phì trong tuổi trưởng thành phụ thuộc một phần vào thời điểm trẻ bắt đầu bị béo phì:

  • Trong thời kỳ sơ sinh: Nguy cơ thấp

  • Giữa 6 tháng tuổi đến 5 tuổi: 25%

  • Sau 6 tuổi: > 50%

  • Trong thời gian thanh thiếu niên nếu bố mẹ có béo phì: > 80%

Ở trẻ em, phòng ngừa tăng cân trong tương lai, thay vì giảm cân, là một mục tiêu hợp lý. Chế độ ăn nên thay đổi, và hoạt động thể lực tăng lên. Tăng các hoạt động chung và vui chơi có khả năng hiệu quả hơn một chương trình tập luyện. Tham gia vào các hoạt động thể chất trong thời thơ ấu có thể thúc đẩy một lối sống năng động suốt đời. Hạn chế các hoạt động tĩnh tại (ví dụ, xem TV, sử dụng máy tính hoặc thiết bị cầm tay) có thể giúp ích. Các thuốc và phẫu thuật nên tránh nhưng, nếu các biến chứng của béo phì đe dọa tính mạng, có thể rất có ích.

Các biện pháp kiểm soát cân nặng và phòng ngừa béo phì ở trẻ em có thể có các lợi ích lớn nhất cho sức khỏe cộng đồng. Các biện pháp nên được thực hiện trong gia đình, trường học, và các chương trình chăm sóc ban đầu.

Người già

Ở Mỹ, tỷ lệ người cao tuổi béo phì đang gia tăng.

Với tuổi già, mỡ cơ thể tăng và được tái phân bố vào vùng bụng, và khối lượng cơ bị mất, ở mức lớn, bởi vì không hoạt động thể chất, nhưng giảm hormone nam và hormone tăng trưởng (được đồng hóa) và các cytokines viêm sinh ra khi béo phì có thể đóng một vai trò.

Nguy cơ của các biến chứng phụ thuộc vào

  • Sự phân bố mỡ cơ thể (tăng chủ yếu là mỡ phân bố ở vùng bụng)

  • Khoảng thời gian và mức độ nghiêm trọng của béo phì

  • Liên quan thiếu cơ

Tăng vòng bụng, đề xuất phân bố mỡ bụng, dự đoán tỉ lệ mắc bệnh (ví dụ, tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh động mạch vành) và nguy cơ tử vong tốt hơn ở người cao tuổi so với BMI. Với sự già hóa, chất béo có xu hướng tích nhiều hơn trong vùng eo.

Đối với người cao tuổi, các bác sĩ có thể khuyên giảm lượng calo đưa vào và tăng cường hoạt động thể chất. Tuy nhiên, nếu những bệnh nhân lớn tuổi mong muốn giảm đáng kể lượng calo đưa vào, chế độ ăn của họ nên được bác sĩ giám sát. Hoạt động thể chất cũng cải thiện sức mạnh cơ, tính dẻo dai, sức khỏe tổng thể và giảm nguy cơ phát triển các rối loạn mạn tính như đái tháo đường. Hoạt động nên bao gồm các bài tập tăng sức khỏe và tăng sức bền.

Dù lượng calo được xem xét đưa vào như thế nào thì dinh dưỡng cũng cần phải được tối ưu hóa.

Các thuốc giảm cân thường không được nghiên cứu riêng ở người cao tuổi, và các lợi ích có thể không nhiều hơn các tác dụng phụ. Tuy nhiên, torlistat có thể sử dụng cho những bệnh nhân lớn tuổi béo phì, đặc biệt là những người đái tháo đường hoặc tăng huyết áp. Phẫu thuật có thể được xem xét ở những bệnh nhân cao tuổi khỏe mạnh với tình trạng chức năng tốt.

Phòng ngừa

Hoạt động thể thể lực đều đặn và ăn lành mạnh cải thiện sức khoẻ tổng thể, có thể kiểm soát cân nặng, và giúp ngăn ngừa béo phì và đái tháo đường. Ngay cả khi không giảm cân, tập luyện làm giảm nguy cơ rối loạn tim mạch. Chế độ ăn chất xơ giảm nguy cơ ung thư đại tràng và các rối loạn tim mạch.

Ngủ tốt và có chất lượng, quản lý căng thẳng và giảm lượng cồn đưa vào cũng rất quan trọng.

Các điểm chính

  • Béo phì làm tăng nguy cơ gặp nhiều vấn đề sức khoẻ và là nguyên nhân gây ra 300.000 trường hợp tử vong sớm mỗi năm tại Hoa Kỳ, khiến cho nó chỉ đứng sau hút thuốc về nguyên nhân gây tử vong có thể ngăn ngừa được.

  • Lượng calo đưa vào quá mức và ít hoạt động thể chất góp phần lớn vào sự béo phì, nhưng tính nhạy cảm di truyền và các rối loạn khác nhau (bao gồm rối loạn ăn) cũng có thể góp phần.

  • Sàng lọc những bệnh nhân qua chỉ số BMI và đo chu vi vòng eo và, khi có chỉ định phân tích thành phần cơ thể, bằng cách đo độ dày lớp mỡ dưới da hoặc sử dụng phân tích trở kháng điện sinh học.

  • Sàng lọc những bệnh nhân béo phì cho các rối loạn phổ biến kèm theo, như ngừng thở tắc nghẽn khi ngủ, đái tháo đường, rối loạn lipid máu, tăng huyết áp, gan nhiễm mỡ, và trầm cảm.

  • Động viên bệnh nhân giảm thậm chí từ 5 đến 10% trọng lượng cơ thể bằng cách thay đổi chế độ ăn của họ, tăng hoạt động thể lực và sử dụng các can thiệp hành vi nếu có thể.

  • Điều trị thử với orlistat, phentermine, phentermine/topiramate, lorcaserin, naltrexone/bupropion, hoặc liraglutide nếu BMI ≥ 30 hoặc nếu BMI ≥ 27 và họ có các biến chứng (ví dụ, tăng huyết áp, đề kháng insulin); tuy nhiên, với béo phì cực độ, phẫu thuật là hiệu quả nhất.

  • Động viên tất cả bệnh nhân luyện tập, ăn lành mạnh, ngủ đủ giấc, và quản lý căng thẳng.

Các chuyên gia đọc thêm

Cũng quan tâm

Các video

Xem tất cả
Nối tắt dạ dày kiểu Roux-en-Y
Video
Nối tắt dạ dày kiểu Roux-en-Y
Quá trình tiêu hóa bắt đầu trong miệng, nơi thức ăn được phân cắt nhờ dịch vị và hoạt động...
Tổng quan về bệnh Wilson
Video
Tổng quan về bệnh Wilson

TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI

TRÊN CÙNG