MSD Manual

Hãy xác nhận rằng quý vị là chuyên gia chăm sóc sức khỏe

honeypot link

Viêm ruột hoại tử

Theo

William J. Cochran

, MD, Geisinger Clinic

Xem lại/Duyệt lại toàn bộ lần cuối Thg2 2017| Sửa đổi nội dung lần cuối cùng Thg2 2017
Nguồn chủ đề

Viêm ruột hoại tử là một bệnh xảy ra chủ yếu ở trẻ đẻ non hoặc trẻ sơ sinh bị bệnh, có hoại tử niêm mạc ruột hoặc thậm chí là ở lớp sâu hơn. Đây là tình trạng cấp cứu đường tiêu hóa thường gặp nhất ở trẻ sơ sinh. Triệu chứng và dấu hiệu bao gồm: trẻ không dung nạp thức ăn, li bì, thân nhiệt không ổn định, tắc ruột, đầy hơi, nôn, đi ngoài phân máu, giảm các chất trong phân, ngưng thở và đôi khi có dấu hiệu nhiễm trùng. Chẩn đoán dựa vào lâm sàng và được xác định bằng các chẩn đoán hình ảnh. Chủ yếu là điều trị hỗ trợ, bao gồm hút dịch dạ dày, truyền dịch, nuôi dưỡng đường tĩnh mạch, kháng sinh, cách ly trong trường hợp nhiễm trùng, và thường phải phẫu thuật.

Hơn 85% trường hợp viêm ruột hoại tử (NEC) xảy ra ở trẻ đẻ non. Khoảng 1-8% trường hợp phải điều trị ở ICU.

Các yếu tố nguy cơ

Các yếu tố nguy cơ chung cho viêm ruột hoại tử ngoài đẻ non còn có:

Tỷ lệ có thể cao hơn ở những trẻ được cho ăn sữa công thức ưu trương.

Ba yếu tố về ruột thường là:

  • Tổn thương dẫn đến thiếu máu cục bộ có từ trước

  • Sự phát triển của vi khuẩn

  • Các chất trong lòng ruột (ví dụ, cho ăn qua ruột)

Nguyên nhân

Nguyên nhân chính xác của viêm ruột hoại tử còn chưa rõ. Giả thiết rằng một sự tổn thương do thiếu máu cục bộ gây phá hủy lớp niêm mạc của ruột, làm tăng tính thấm của ruột, từ đó dẫn đến sự xâm nhập của vi khuẩn. NEC hiếm khi xảy ra trước khi cho trẻ ăn qua sonde và ít gặp hơn ở trẻ bú mẹ. Khi bắt đầu cho ăn, trong lòng ruột có thể có sự gia tăng của vi khuẩn, chúng xâm nhập vào thành ruột bị hoại tử và sản xuất khí hydro . Khí này có thể xâm nhập vào thành ruột hoặc đi vào tĩnh mạch cửa.

Sự tổn thương thiếu máu cục bộ ban đầu có thể là do sự co thắt mạch của động mạch mạc treo - điều này có thể là do sự thiếu oxy dẫn đến các phản xạ của cơ thể làm giảm lưu lượng máu đến ruột. Sự thiếu máu cục bộ cũng có thể do lưu lượng máu thấp trong quá trình thay máu, nhiễm trùng, hoặc do sử dụng các công thức nuôi dưỡng với áp lực thẩm thấu cao. Tương tự, bệnh tim bẩm sinh với sự giảm lưu lượng tuần hoàn hệ thống hoặc giảm oxy của động mạch có thể dẫn đến tình trạng thiếu oxy / thiếu máu cục bộ trong ruột và dẫn đến viêm ruột hoại tử.

Viêm ruột hoại tử có thể xảy ra dưới dạng các nhóm ca bệnh hoặc các đợt bùng phát ở các đơn vị hồi sức sơ sinh. Một số nhóm vi khuẩn cụ thể dường như có liên quan (ví dụ:, Klebsiella, Escherichia coli, tụ cầu trắng), nhưng thường không xác định được tác nhân gây bệnh cụ thể.

Biến chứng của viêm ruột hoại tử

Hoại tử bắt đầu ở niêm mạc và có thể tiến triển hết các lớp của thành ruột, gây ra thủng ruộtviêm phúc mạc và thường có khí tự do trong ổ bụng. Thủng ruột thường xảy ra ở hồi tràng; đại tràng và ít xảy ra hơn ở hỗng tràng. xảy ra ở 33% trẻ sơ sinh, và có thể gây tử vong cho trẻ.

Triệu chứng và dấu hiệu

Có thể gặp khó khăn khi cho trẻ bú và sau khi bú trẻ có thể nôn ra dịch mật hoặc dịch dạ dày có máu, tắc ruột biểu hiện bởi sự chướng bụng hoặc có máu trong phân. Trẻ có thể bị nhiễm khuẩn huyết, biểu hiện với triệu chứng giảm tri giác, rối loạn thân nhiệt, có cơn ngưng thở và toan chuyển hóa.

Chẩn đoán

  • Tìm máu trong phân

  • X-quang bụng

Chụp X quang sớm có thể không đặc hiệu và chỉ cho thấy hình ảnh tắc ruột. Tuy nhiên, nếu hình ảnh các quai ruột giãn không thay đổi qua các lần chụp Xquang chỉ ra đó là viêm ruột hoại tử Dấu hiệu chẩn đoán trên X-quang của viêm ruột hoại tử là khí trong ruột và trong tĩnh mạch cửa. khi bệnh nhân có thủng ruột và phải phẫu thuật cấp cứu.

Điều trị

  • Cho trẻ ngừng ăn

  • Đặt sonde hút dịch dạ dày

  • Bù dịch đường tĩnh mạch

  • Kháng sinh phổ rộng

  • Nuôi dưỡng hoàn toàn đường tĩnh mạch

  • Đôi khi phải phẫu thuật

Tỷ lệ tử vong là 20 - 30%. Điều trị tích cực và phẫu thuật càng sớm càng tốt.

Điều trị hỗ trợ

Điều trị hỗ trợ không phẫu thuật là cần thiết trong hơn 75% trường hợp. Nếu nghi ngờ viêm ruột hoại tử, cần cho trẻ dừng ăn qua đường miệng ngay lập tức và giảm áp lực lòng ruột bằng đặt sonde 2 nòng vào dạ dày và hút dịch dạ dày ngắt quãng. Bồi phụ tuần hoàn bằng dung dịch keo, dung dịch cao phân tử vì viêm ruột lan rộng và viêm phúc mạc có thể dẫn đến mất nước đáng kể ở khoang thứ ba. Nuôi dưỡng hoàn toàn đường tĩnh mạch là cần thiết trong 14-21 ngày trong khi chờ ruột hồi phục.

Sử dụng kháng sinh toàn thân, bắt đầu ngay bằng kết hợp một kháng sinh beta-lactam (ví dụ, ampicillin, ticarcillin) và một aminoglycosid. Có thể dùng kháng sinh chống vi khuẩn kỵ khí (ví dụ, clindamycin, metronidazole) trong khoảng 10 ngày (liều dùng, xem Bảng: Khuyến cáo liều đề nghị của một số thuốc kháng sinh dùng đường tĩnh mạch ở trẻ sơ sinh). Vì một số vụ bùng phát có thể lây nhiễm nên cần cách ly bệnh nhân, đặc biệt nếu có vài ca xảy ra trong một thời gian ngắn.

Cần theo dõi trẻ chặt chẽ; thường xuyên đánh giá lại (ví dụ, ít nhất 12 giờ / lần); và chụp X-quang bụng, xét nghiệm bạch cầu, số lượng tiểu cầu, và khí máu. Hẹp ruột là biến chứng lâu dài phổ biến nhất của viêm ruột hoại tử, xảy ra ở 10 - 36% trẻ còn sống sau lần đầu bị bệnh. Hẹp ruột thường biểu hiện trong 2-3 tháng sau một đợt trẻ bị viêm ruột hoại tử. Hẹp ruột thường bị ở đại tràng, đặc biệt là đại tràng trái. Cần phải cắt đoạn ruột hẹp.

Phẫu thuật

Phẫu thuật là cần thiết trong < 25% trường hợp. Chỉ định tuyệt đối: thủng ruột (tràn khí ổ bụng), triệu chứng của viêm phúc mạc (mất nhu động ruột, chướng bụng, da nhợt, phân máu) hoặc viêm mủ màng bụng do chọc dịch màng bụng. Cần xem xét phẫu thuật ở những trẻ bị viêm ruột hoại tử mà tình trạng lâm sàng và xét nghiệm xấu đi mặc dù được điều trị hỗ trợ.

Trong quá trình phẫu thuật, cắt bỏ đoạn ruột hoại tử và làm hậu môn nhân tạo. (Nếu trẻ không có biểu hiện của thiếu máu cục bộ ruột thì có thể đóng hậu môn nhân tạo cho trẻ). Với việc giải quyết nhiễm trùng huyết và viêm phúc mạc, ruột có thể hoạt động trở lại sau vài tuần - vài tháng.

Phòng bệnh

Ở những trẻ sơ sinh có nguy cơ nên cho trẻ bú sữa mẹ, bắt đầu với lượng nhỏ, sau đó tăng dần lên theo hướng dẫn. (Nếu không có sữa mẹ thì có thể cho trẻ bú bằng sữa công thức phù hợp cho trẻ sinh non). Không được dùng sữa công thức ưu trương, thuốc, các chất cản quang. Đa hồng cầu chu sinh và hội chứng tăng độ nhớt máu Cần diều trị kịp thời nếu trẻ đa hồng cầu.

Probiotics (ví dụ, Bifidus infantis, Lactobacillus acidophilus) giúp ngăn ngừa viêm ruột hoại tử, nhưng cần phải nghiên cứu thêm để xác định liều tối ưu và các chủng thích hợp.

Những điểm chính

  • Viêm ruột hoại tử (NEC) là hoại tử đường ruột chưa rõ nguyên nhân; xảy ra chủ yếu ở trẻ đẻ non hoặc trẻ sơ sinh bị bệnh phải ăn qua sonde.

  • Các biến chứng bao gồm thủng ruột (thường là ở hồi tràng) và viêm phúc mạc; nhiễm trùng huyết chiếm 33% và trẻ có thể tử vong.

  • Các biểu hiện ban đầu: trẻ bú kém, nôn ra dịch mật, dịch dạ dày, chướng bụng và/ hoặc có máu trong phân.

  • Chẩn đoán bằng chụp X quang thường quy.

  • Điều trị hỗ trợ: bù dịch đường tĩnh mạch, đặt sonde dạ dày, kháng sinh phổ rộng và nuôi dưỡng hoàn toàn bằng đường tĩnh mạch có hiệu quả trên 75% trường hợp.

  • Cần phải phẫu thuật cắt bỏ đoạn ruột hoại tử và thủng ruột ở <25% trường hợp.

Các chuyên gia đọc thêm

Cũng quan tâm

TRÊN CÙNG