honeypot link

MSD Manual

Hãy xác nhận rằng quý vị là chuyên gia chăm sóc sức khỏe

Giảm bạch cầu trung tính

(không có bạch cầu hạt, giảm bạch cầu hạt)

Theo

Mary Territo

, MD, David Geffen School of Medicine at UCLA

Xem lại/Duyệt lại toàn bộ lần cuối Thg11 2016| Sửa đổi nội dung lần cuối cùng Thg11 2016
Nguồn chủ đề

Giảm bạch cầu trung tính là sự giảm số lượng bạch cầu trung tính. Nếu giảm nghiêm trọng, nguy cơ và mức độ nghiêm trọng của nhiễm khuẩn và nấm tăng lên. Các triệu chứng nhiễm trùng khu trú có thể thầm lặng, nhưng có sốt trong hầu hết các nhiễm trùng nghiêm trọng. Chẩn đoán dựa vào công thức máu với sự khác biệt, nhưng đánh giá cần phải xác định nguyên nhân. Nếu có sốt khả năng do nhiễm trùng cần phải dùng kháng sinh phổ rộng thời gian theo kinh nghiệm, đặc biệt nếu bạch cầu trung tính giảm trầm trọng. Đôi khi sử dụng GM-CSF (yếu tố kích thích tạo cụm bạch cầu hạt-đại thực bào hoặc G-CSF(yếu tố kích thích tạo cụm bạch cầu hạt) có hiệu quả.

Bạch cầu trung tính là cơ chế phòng vệ chính của cơ thể chống lại nhiễm khuẩnnhiễm nấm. Khi giảm bạch cầu trung tính, phản ứng viêm với các nhiễm trùng không hiệu quả.

Giới hạn dưới dưới bình thường của số lượng bạch cầu trung tính (tổng số bạch cầu × % bạch cầu trung tính và bạch cầu đoạn) là 1500 /μL ở người da trắng và thấp hơn ở người da đen (khoảng 1200 /μL). Số lượng bạch cầu trung tính không ổn định như các tế bào khác và có thể thay đổi đáng kể trong thời gian ngắn, tùy thuộc vào nhiều yếu tố như tình trạng hoạt động, lo lắng, nhiễm trùng, và thuốc. Do đó, một số phép đo có thể cần thiết khi xác định mức độ trầm trọng của giảm bạch cầu trung tính.

Mức độ trầm trọng liên quan đến nguy cơ nhiễm trùng và được phân loại như sau:

  • Nhẹ (1000 đến 1500 /μL)

  • Trung bình (500 đến 1000 /μL)

  • Nặng (<500/μL)

Khi số lượng bạch cầu trung tính <500/μL, hệ thực vật vi khuẩn nội sinh (ví dụ trong miệng hoặc ruột) có thể gây nhiễm trùng. Nếu số lượng < 200/μL, đáp phản ứng viêm không còn và các dấu hiệu viêm bình thường như tăng bạch cầu phản ứng, hoặc có bạch cầu niệu hoặc ở những vị trí nhiễm trùng sẽ không xảy ra. Giảm bạch cầu trung tính cấp tính, trầm trọng, đặc biệt nếu có một yếu tố khác (ví dụ như ung thư), làm suy yếu đáng kể hệ miễn dịch và có thể dẫn đến nhiễm trùng gây tử vong nhanh chóng. Sự toàn vẹn của da và màng nhầy, sự cung cấp mạch máu cho mô, và tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân cũng ảnh hưởng đến nguy cơ nhiễm trùng.

Các nhiễm trùng thường xảy ra nhất ở những bệnh nhân suy giảm bạch cầu là

Đặt Catheter tĩnh mạch và các vị trí tiêm truyền khác có nguy cơ cao gây nhiễm trùng da; các nguyên nhân gây bệnh phổ biến nhất là liên cầu không ly giải đông máu và (Staphylococcus aureus )tụ cầu vàng, nhưng các nhiễm khuẩn Gram dương và Gram âm khác cũng xảy ra. Thường xảy ra viêm miệng, viêm lợi, viêm quanh trực tràng, viêm đại tràng, viêm xoang, nấm móng, và viêm tai. Bệnh nhân giảm bạch cầu trung tính kéo dài sau khi cấy ghép tế bào gốc tạo máu hoặc sau hóa trị liệu hoặc dùng corticosteroid liều cao có khuynh hướng nhiễm nấm.

Nguyên nhân

Giảm bạch cầu trung tính cấp tính (xảy ra qua vài giờ đến vài ngày) có thể phát triển do sử dụng hoặc tiêu hủy bạch cầu nhanh hoặc do giảm sản xuất kém.

Giảm bạch cầu trung tính mạn tính (kéo dài hàng tháng đến nhiều năm) thường xuất hiện như là kết quả của sản xuất giảm hoặc tăng quá mức giam giữ tế bào của lách.

Có thể phân loại giảm bạch cầu trung tính là nguyên phát do khiếm khuyết nội sinh của tế bào dòng tủy và thứ phát do nguyên nhân ngoại sinh ngoài tế bào dòng tủy-xem Bảng: Phân loại Giảm bạch cầu trung tính).

Bảng
icon

Phân loại Giảm bạch cầu trung tính

Phân loại

Nguyên nhân

Giảm bạch cầu trung tính do các khiếm khuyết nội tại trong tế bào tủy hoặc tiền thân của chúng

Giảm bạch cầu trung tính vô căn mạn tính, bao gồm giảm bạch cầu trung tính lành tính

Giảm bạch cầu trung tính không liên quan đến rối loạn gammaglobulin máu

Giảm bạch cầu trung tính bẩm sinh nghiêm trọng (Hội chứng Kostmann)

Các hội chứng có liên quan đến giảm bạch cầu trung tính (ví dụ hội giảm sinh sụn-tóc, rối loạn sừng bẩm sinh, bệnh dự trữ glycogen type IB, hội chứng WHIM *, hội chứng Shwachman-Diamond)

Giảm bạch cầu trung tính thứ phát

Giảm bạch cầu trung tính tự miễn, bao gồm giảm bạch cầu trung tính thứ phát mạn tính ở AIDS

Thay thế các tế bào trong tủy xương (ví dụ, do ung thư, bệnh xơ tủy, u hạt hoặc tế bào Gaucher)

Độc tính do hóa trị liệu hoặc xạ trị

Giảm bạch cầu trung tính do thuốc

Thiếu Folate, thiếu vitamin B12, hoặc suy dinh dưỡng nặng

Cường lách

Nhiễm trùng

Bệnh lym phô tế bào T lớn

* WHIM = warts, giảm gammaglobulin máu, nhiễm trùng, myelokathexis.

Giảm bạch cầu trung tính gây ra bởi các khiếm khuyết nội tại trong tế bào tủy hoặc tiền thân của chúng

Giảm bạch cầu trung tính gây ra bởi các khiếm khuyết nội tại trong tế bào tủy hoặc tiền thân của chúng là không phổ biến, nhưng nếu có, nguyên nhân thường là

  • Giảm bạch cầu trung tính vô căn mạn tính

  • Giảm bạch cầu trung tính bẩm sinh

Giảm bạch cầu trung tính lành tính mạn tính là một dạng giảm bạch cầu trung tính vô căn mạn tính, trong đó phần còn lại của hệ miễn dịch còn nguyên vẹn; ngay cả với số lượng bạch cầu trung tính <200/μL, nhiễm trùng nghiêm trọng thường không xảy ra, có lẽ vì bạch cầu trung tính đôi khi được sản xuất với số lượng đủ để đáp ứng với nhiễm trùng. Bệnh phổ biến nhất ở phụ nữ.

Giảm bạch cầu trung tính bẩm sinh nặng (SCN, hoặc hội chứng Kostmann) là một nhóm các rối loạn hiếm gặp khác nhau được đặc trưng bởi sự ngừng chín của dòng tủy ở giai đoạn tủy bào trong tủy xương, kết quả là số lượng bạch cầu trung tính tuyệt đối < 200/μL và các nhiễm trùng đáng kể bắt đầu từ khi mới sinh. SCN có thể là di truyền trội hoặc lặn, trên nhiễm sắc thể thường đôi khi liên kết với nhiễm sắc thể X. Một số bất thường di truyền gây SCN đã được xác định, bao gồm các đột biến ảnh hưởng đến enzym elastase bạch cầu trung tính (ELANE/ELA2), HAX1, GFI1, và thụ thể G-CSF (CSF3R). Hầu hết các bệnh nhân SCN sẽ đáp ứng với điều trị yếu tố tăng trưởng kéo dài, với những người đáp ứng kém cần xem xét ghép tế bào gốc. Bệnh nhân SCN có nguy cơ tiến triển hội chứng rối loạn sinh tủy hoặc là lơ xê mi cấp dòng tủy.

Giảm bạch cầu trung tính chu kỳ là một rối loạn sinh tế bào hạt bẩm sinh hiếm gặp, di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường và thường gây ra bởi một đột biến trong gen elastase bạch cầu trung tính (ELANE/ELA2), kết quả là gây apoptosis bất thường. Nó được đặc trưng bởi các dao động định kỳ đều đặn số lượng bạch cầu trung tính ngoại vi. Chu kỳ dao động trung bình là 21 ± 3 ngày.

Giảm bạch cầu do chủng tộc lành tính (BEN) xảy ra ở các thành viên của một số nhóm dân tộc (ví dụ, một số người gốc châu Phi, Trung Đông, và người Do Thái). Họ thường có số lượng bạch cầu trung tính thấp hơn nhưng không tăng nguy cơ lây nhiễm. Trong một số trường hợp, bệnh này có liên quan đến kháng nguyên Duffy của hồng cầu, một số chuyên gia nghĩ rằng giảm bạch cầu ở những quần thể này có liên quan đến việc bảo vệ khỏi bệnh sốt rét.

Giảm bạch cầu trung tính cũng có thể là kết quả của suy tủy xương do các hội chứng bẩm sinh hiếm gặp (ví dụ hội chứng giảm sinh tóc, hội chứng Chédiak-Higashi, rối loạn sừng hóa bẩm sinh, bệnh dự trữ glycogen type IB, hội chứng Shwachman-Diamond, hội chứng WHIM). Giảm bạch cầu trung tính cũng là một đặc điểm của hội chứng rối loạn sinh tủy với các nguyên hồng cầu trong tủy xương, thiếu máu bất sản, rối loạn gammaglobulin máu và đái huyết sắc tố niệu ban đêm.

Giảm bạch cầu trung tính thứ phát

Giảm bạch cầu trung tính thứ phát có thể là kết quả của việc sử dụng một số loại thuốc nhất định, thâm nhiễm tủy xương hoặc thay thế, nhiễm trùng hoặc phản ứng miễn dịch.

Các nguyên nhân phổ biến nhất bao gồm

  • Thuốc

  • Nhiễm trùng và phản ứng miễn dịch

  • Quá trình thâm nhiễm tủy xương

Giảm bạch cầu trung tính do thuốc là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất gây giảm bạch cầu. Thuốc có thể làm giảm quá trình sản sinh bạch cầu thông qua các cơ chế gây độc, đặc ứng hoặc quá mẫn; hoặc chúng có thể làm gia tăng sự phá hủy bạch cầu trung tính ngoại vi thông qua các cơ chế miễn dịch. Chỉ có cơ chế gây độc (ví dụ với phenothiazines) gây giảm bạch cầu trung tính liên quan đến liều. Các phản ứng đặc ứng là không thể đoán trước và xảy ra với nhiều loại thuốc, bao gồm các chế phẩm thuốc hoặc chiết xuất, và độc chất.

Phản ứng quá mẫn rất hiếm và thỉnh thoảng có liên quan đến thuốc chống co giật (ví dụ phenytoin, phenobarbital). Những phản ứng này có thể kéo dài chỉ trong vài ngày hoặc vài tháng hoặc nhiều năm. Thường, viêm gan, viêm thận, viêm phổi hoặc thiếu máu bất sản đi kèm với giảm bạch cầu trung tính do quá mẫn cảm.

Giảm bạch cầu trung tính do thuốc do trung gian miễn dịch gây ra, được cho là phát sinh từ các loại thuốc hoạt động như hapten để kích thích sự hình thành kháng thể, thường kéo dài khoảng 1 tuần sau khi dừng thuốc. Nó có thể là kết quả của aminopyrine, propylthiouracil, penicillin, hoặc các kháng sinh khác.

Giảm bạch cầu trung tính nặng liên quan đến liều xảy ra có thể dự đoán được sau khi dùng thuốc chống hoặc xạ trị gây ức chế sản xuất tủy xương.

Giảm bạch cầu trung tính do sản xuất tủy xương không hiệu quả có thể xảy ra ở thiếu máu tăng nguyên hồng cầu khổng lồ do thiếu vitamin B12 hoặc thiếu chất folate. Thông thường có thiếu máu hồng cầu to và đôi khi giảm tiểu cầu nhẹ xảy ra đồng thời. Rối loạn sinh tủy cũng gây ra sản xuất tế bào không hiệu quả.

Thâm nhiễm tủy xương bởi lơ xê mi, u tủy, u lym phô, hoặc khối u di căn (ví dụ, ung thư vú, ung thư tuyến tiền liệt) có thể làm giảm sản xuất bạch cầu trung tính. Xơ tủy do khối u gây ra có thể làm trầm trọng thêm chứng giảm bạch cầu trung tính. Xơ tủy cũng có thể xảy ra do nhiễm trùng u hạt, bệnh Gaucher, và xạ trị.

Cường lách do nguyên nhân nào cũng có thể dẫn đến giảm bạch cầu trung tính, giảm tiểu cầu, và thiếu máu.

Nhiễm trùng có thể gây giảm bạch cầu trung tính bằng cách làm giảm sản xuất bạch cầu trung tính hoặc bằng cách gây ra sự hủy hoại miễn dịch hoặc sử dụng nhanh các bạch cầu trung tính. Sepsis là một nguyên nhân nghiêm trọng. Giảm bạch cầu trung tính xảy ra với các bệnh do virut ở trẻ em, từ 1 đến 2 ngày đầu sau khi bị ốm và có thể kéo dài từ 3 đến 8 ngày. Giảm bạch cầu trung tính thoáng qua cũng có thể do virus hoặc nội độc tố phân bố lại các bạch cầu trung tính từ máu tuần hoàn tới bể cận biên. Rượu có thể góp phần làm giảm bạch cầu trung tính bằng cách ức chế đáp ứng sinh bạch cầu trung tính của tủy trong một số trường hợp nhiễm trùng (ví dụ, viêm phổi do phế cầu).

Khiếm khuyết miễn dịch có thể gây giảm bạch cầu trung tính.Giảm bạch cầu trung tính tự miễn ở trẻ sơ sinh có thể xảy ra với sự không hòa hợp của kháng nguyên bạch cầu trung tính ở bào thai với mẹ liên quan đến việc kháng thể IgG chống lại bạch cầu trung tính thai nhi của mẹ qua nhau thai (thường là với kháng nguyên HNA-1) đi vào bào thai. Giảm bạch cầu tự miễn có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi và có thể là nguyên nhân của giảm bạch cầu trung tính mạn tính vô căn. Xét nghiệm kháng thể kháng bạch cầu trung tính (miễn dịch huỳnh quang, ngưng kết hoặc đếm tế bào dòng chảy) không phải lúc nào cũng sẵn có hoặc đáng tin cậy.

Giảm bạch cầu trung tính thứ phát mạn tính thường phối hợp với nhiễm HIV do giảm sản xuất bạch cầu và các bạch cầu trung tính bị tăng phá hủy do các kháng thể. Giảm bạch cầu trung tính tự miễn có thể là cấp tính, mạn tính, hoặc tái diễn. Bênh có thể liên quan đến kháng thể chống lại các bạch cầu trung tính đang lưu thông hoặc các tế bào tiền thân trung tính. Bệnh cũng có thể liên quan đến các cytokine (ví dụ, gamma interferon, yếu tố hoại tử khối u) có thể gây ra cái chết theo chương trình (apoptosis) của bạch cầu trung tính. Hầu hết các bệnh nhân giảm bạch cầu tự miễn có bệnh nền là rối loạn tự miễn hoặc rối loạn tăng sinh lym phô (ví dụ:, SLE, Felty).

Triệu chứng và Dấu hiệu

Giảm bạch cầu trung tính không có triệu chứng cho đến khi nhiễm trùng phát triển. Sốt thường là dấu hiệu duy nhất của nhiễm trùng. Có thể không có hoặc dấu hiệu viêm điển hình (đỏ da, sưng, đau, thâm nhiễm, tăng lym phô phản ứng) hoặc âm ỉ. Các triệu chứng khu trú (ví dụ như loét miệng) có thể có nhưng thường âm thầm. Bệnh nhân giảm bạch cầu trung tính do thuốc gây ra do tình trạng quá mẫn có thể bị sốt, phát ban, và hạch to là kết quả của quá mẫn.

Một số bệnh nhân giảm bạch cầu trung tính lành tính vô căn và bạch cầu trung tính < 200/μL không bị nhiễm trùng nặng. Bệnh nhân bị giảm bạch cầu chu kỳ hoặc giảm bạch cầu trung tính bẩm sinh nặng có khuynh hướng bị loét miệng, viêm miệng, viêm họng và hạch to trong trường hợp giảm bạch cầu trung tính trầm trọng. Thường có viêm phổi và nhiễm khuẩn huyết

Chẩn đoán

  • Nghi ngờ trên lâm sàng (nhiễm trùng tái diễn hoặc bất thường)

  • Công thức máu khẳng định với sự biệt hóa.

  • Đánh giá nhiễm trùng bằng nuôi cấy và hình ảnh

  • Xác định cơ chế và nguyên nhân gây giảm bạch cầu trung tính

Cần nghĩ đến giảm bạch cầu trung tính ở những bệnh nhân bị nhiễm trùng thường xuyên, nặng, hoặc bất thường hoặc ở những bệnh nhân có nguy cơ cao (ví dụ như những người tiếp nhận thuốc gây độc tế bào hoặc xạ trị). Xác nhận dựa trên công thức máu với sự khác biệt.

Đánh giá về nhiễm khuẩn

Ưu tiên đầu tiên là xác định xem có nhiễm trùng hay không. Vì nhiễm trùng có thể âm thầm, kiểm tra thể chất đánh giá có hệ thống các điểm nhiễm trùng hay gặp nhất: bề mặt niêm mạc, chẳng hạn như đường tiêu hóa (lợi, họng, hậu môn); phổi; bụng; đường tiết niệu; da và móng tay; các vị trí tiêm truyền và catheter mạch máu.

Nếu bạch cầu trung tính cấp tính hoặc trầm trọng, cần tiến hành nhanh các xét nghiệm.

Nuôi cấy tìm vi khuẩn là phương pháp chính. Cần thực hiện ít nhất 2 nuôi cấy: vi khuẩn và nấm ở những bệnh nhân sốt, nếu bệnh nhân có đặt catherter tĩnh mạch, cần lấy bệnh phẩm nuôi cấy ở vị trí đặt catherter. Nếu bệnh nhân có đặt sonde, cần nuôi cấy nấm và mycobacteria không điển hình. Nếu có loét niêm mạc cần cấy tìm herpes. Các tổn thương da được hút hoặc sinh thiết để lấy tế bào học và nuôi cấy. Cần phân tích và nuôi cấy nước tiểu. Nếu xuất hiện tiêu chảy, cần xét nghiệm phân với mầm bệnh vi khuẩn đường ruột và Clostridium difficile độc tố. Cấy đờm để đánh gíá nhiễm trùng phổi.

Chẩn đoán hình ảnh là hữu ích. Chụp X quang ngực được thực hiện trên tất cả các bệnh nhân. CT ngực cũng có thể cần thiết đối với bệnh nhân suy giảm miễn dịch. CT của xoang có thể hữu ích nếu có triệu chứng hoặc dấu hiệu của viêm xoang (ví dụ như nhức đầu có vị trí, đau răng trên hoặc răng dưới, sưng mặt, chảy nước mũi). Chụp CT bụng thường được thực hiện nếu các triệu chứng (ví dụ, đau) hoặc tiền sử (như phẫu thuật gần đây) nghi ngờ nhiễm khuẩn trong ổ bụng.

Xác định nguyên nhân

Tiếp theo, cần xác đinh cơ chế và nguyên nhân gây giảm bạch cầu. Tiền sử về tất cả các loại thuốc, các chế phẩm khác và tiếp xúc hoặc uống phải độc tố. Khám lâm sàng phát hiện lách to và các dấu hiệu của rối loạn gốc khác (ví dụ, viêm khớp, hạch to).

Nếu không xác định rõ nguyên nhân rõ ràng (ví dụ, hóa trị liệu), thì xét nghiệm quan trọng nhất là

  • Xét nghiệm tủy xương

Xét nghiệm tủy xương xác định xem giảm bạch cầu trung tính có do giảm sản sinh tủy hay thứ phát do tăng hủy hoại hay tăng sử dụng tế bào (được xác định bởi sự sản xuất bình thường hay tăng các tế bào tủy). Xét nghiệm tủy xương cũng có thể chỉ ra nguyên nhân cụ thể của chứng giảm bạch cầu trung tính (ví dụ, Thiếu máu bất sản, xơ tủy, lơ xê mi). Xét nghiệm thêm về tủy xương (ví dụ, phân tích di truyền tế bào, nhuộm đặc biệt và đếm tế bào dòng chảy để phát hiện bệnh lơ xê mi, các bệnh ác tính khác, và nhiễm trùng).

Có thể cần thực hiện thêm các xét nghiệm tùy thuộc vào nghi ngờ chẩn đoán. Ở những bệnh nhân có nguy cơ thiếu dinh dưỡng, cần định lượng nồng độ đồng, folate, và vitamin B12. Xét nghiệm kháng thể kháng bạch cầu trung tính được thực hiện nếu nghĩ đến nguyên nhân giảm bạch cầu miễn dịch. Phân biệt giữa giảm bạch cầu trung tính do kháng sinh và nhiễm trùng đôi khi rất khó khăn. Số lượng bạch cầu ngay trước khi bắt đầu điều trị kháng sinh thường phản ánh sự thay đổi số lượng máu do nhiễm trùng.

Bệnh nhân có tiền sử giảm bạch cầu trung tính mạn tính kể từ khi sơ sinh, có tiền sử sốt tái diễn, viêm lợi mạn tính có số lượng bạch cầu với sự khác biệt thực hiện 3 lần / tuần trong 6 tuần, có thể gợi ý giảm bạch cầu trung tính chu kỳ. Đếm số lượng tiểu cầu và hồng cầu lưới được thực hiện đồng thời. Ở bệnh nhân giảm bạch cầu trung tính chu kỳ thường có giảm bạch cầu ưa acid, hồng cầu lưới, tiểu cầu chu kỳ đồng bộ với bạch cầu trung tính, trong khi các bạch cầu mô nô và lym phô không liên quan.

Điều trị

  • Điều trị các bệnh liên quan (ví dụ như nhiễm trùng, viêm miệng)

  • Đôi khi thuốc kháng sinh dự phòng

  • Các yếu tố tăng trưởng dòng tủy

  • Ngừng tác nhân nghi ngờ gây bệnh (ví dụ, thuốc)

  • Đôi khi sử dụng corticosteroid

Giảm bạch cầu trung tính cấp

Các trường hợp nghi nhiễm trùng luôn được điều trị ngay. Nếu có sốt hoặc hạ huyết áp, do nhiễm trùng nghiêm trọng, cần sử dụng thuốc kháng sinh phổ rộng, liều cao, đường tĩnh mạch. Lựa chọn chế phẩm dựa trên dự đoán nguyên nhân có khả năng lây nhiễm. Bởi vì nguy cơ kháng thuốc, vancomycin chỉ được sử dụng nếu các vi khuẩn Gram dương kháng với các thuốc khác bị nghi ngờ.

Catheter tĩnh mạch thường có khả năng gây nhiễm khuẩn huyết do S. aureus hoặc là Bacillus sp, Corynebacterium sp, hoặc Candida sp nếu có kết quả nuôi cấy cần sử dụng kháng sinh thích hợp. Nhiễm trùng do liên cầu có enzym ly giải đông máu âm tính thường giải quyết bằng kháng sinh đơn liều. Sonde Foley có thể gây ra nhiễm trùng, do đó cần thay hoặc rút sonde nếu bệnh nhân có nhiễm khuẩn tiết niệu.

Nếu nuôi cấy vi khuẩn dương tính, cần sử dụng kháng sinh theo kháng sinh đồ. Nếu bệnh nhân giảm sốt trong vòng 72 giờ, thuốc kháng sinh sẽ được tiếp tục trong ít nhất 7 ngày và cho đến khi bệnh nhân không có triệu chứng hoặc dấu hiệu nhiễm trùng. Khi giảm bạch cầu trung tính thoáng qua (chẳng hạn như sau khi điều trị bằng hóa trị ức chế tủy xương), liệu pháp kháng sinh thường được tiếp tục cho đến khi số lượng neutrophil >500/μL; tuy nhiên, dừng thuốc kháng sinh có thể được xem xét ở những bệnh nhân được có giảm bạch cầu dai dẳng đặc biệt là những người có triệu chứng và dấu hiệu viêm đã được giải quyết, và nuôi cấy âm tính.

Sốt vẫn tồn tại > 72 giờ mặc dù đã điều trị kháng sinh cho thấy nguyên nhân không nhiễm khuẩn, hoặc nhiễm khuẩn kháng thuốc, hoặc siêu vi khuẩn thế hệ 2, hoặc nồng độ kháng sinh trong máu và mô chưa thích hợp, hoặc nhiễm khuẩn khu trú như là abces. Bệnh nhân giảm bạch cầu trung tính có sốt kéo dài được đánh giá lại mỗi 2 đến 4 ngày với khám thực thể, cấy máu và chụp X-quang ngực. Nếu bệnh nhân thể trạng tốt ngoại trừ có sốt, có thể dùng kháng sinh ban đầu và cần xem xét sốt do thuốc. Nếu bệnh nhân suy nhược, nên thay đổi chế độ kháng sinh.

Nhiễm nấm là nguyên nhân có khả năng nhất gây ra sốt và xấu đi liên tục. Điều trị bằng thuốc kháng nấm theo kinh nghiệm nếu vẫn sốt dai dẳng sau 3-4 ngày sử dụng kháng sinh phổ rộng. Thuốc kháng nấm cụ thể (ví dụ fluconazole, caspofungin, voriconazole, posaconazole) phụ thuộc vào nguy cơ (ví dụ thời gian và mức độ giảm bạch cầu trung tính, tiền sử nhiễm nấm, sốt dai dẳng mặc dù sử dụng thuốc kháng nấm phổ rộng hơn) cần thiết do chuyên gia về bệnh truyền nhiễm lựa chọn. Nếu sốt vẫn tồn tại sau 3 tuần điều trị theo kinh nghiệm (gồm 2 tuần điều trị bằng thuốc kháng nấm) và giảm bạch cầu đã dược giải quyết, cần dừng các thuốc và xem xét lại nguyên nhân.

Với bệnh nhân giảm bạch cầu trung tính, do hóa trị với só lượng ≤ 100 / μL có thể điều trị dự phòng kháng sinh bằng fluoroquinolones (levofloxacin, ciprofloxacin) trong > 7 ngày tại một số trung tâm. Phương pháp dự phòng thường được bác sĩ điều trị ung thư sử dụng. Thuốc kháng sinh được tiếp tục cho đến khi số lượng bạch cầu trung tính tăng> 1500 / μL. Cũng có thể dùng liệu pháp kháng nấm cho những bệnh nhân giảm bạch cầu trung bình có nguy cơ nhiễm nấm cao hơn (ví dụ, sau khi ghép tế bào gốc tạo máu, lơ xê mi cấp dòng tủy hoặc một rối loạn sinh tủy, nhiễm nấm trước đó). Lựa chọn thuốc kháng nấm cụ thể nên được hướng dẫn bởi một chuyên gia về bệnh truyền nhiễm. Việc dự phòng kháng sinh và kháng nấm thường không được khuyến cáo đối với những bệnh nhân giảm bạch cầu trung tính không sốt mà không có các yếu tố nguy cơ được dự đoán là sẽ giảm bạch cầu trung tính <7 ngày sau hóa trị liệu.

Các yếu tố tăng trưởng dòng tủy (ví dụ: [G-CSF]) được sử dụng rộng rãi để tăng số lượng bạch cầu trung tính do đó ngăn ngừa nhiễm trùng ở những bệnh nhân giảm bạch cầu trung tính trầm trọng (ví dụ sau khi ghép tế bào gốc tạo máu và điều trị ung thư ). Thuốc đó đắt tiền Tuy nhiên, nếu nguy cơ của giảm bạch cầu trung tính có sốt 30% (theo đánh giá bằng số lượng neutrophil < 500 μL, đã nhiễm trùng ở đợt hóa trị liệu trước đó, có bệnh phối hợp, hoặc độ tuổi > 75), có chỉ định sử dụng các yếu tố tăng trưởng. Nhìn chung, sử dụng yếu tố tăng trưởng bắt đầu khoảng 24 giờ sau khi hoàn thành hóa trị liệu có nhiều lơi ích lâm sàng. Bệnh nhân giảm bạch cầu do phản ứng thuốc cũng có thể có lợi từ các yếu tố tăng trưởng dòng tủy, đặc biệt nếu dự kiến hồi phục chậm. Liều cho G-CSF (filgrastim) là 5 đến 10 mcg / kg tiêm dưới da một lần / ngày, và liều cho pegylated G-CSF (pegfilgrastim) là 6 mg tiêm đưới da mỗi lần một chu kỳ hóa trị liệu.

Glucocorticoids, steroid đồng hoá và vitamin không kích thích sản xuất bạch cầu trung tính nhưng có thể ảnh hưởng đến sự phân bố và tiêu hủy. Nếu nghi ngờ giảm bạch cầu trung tính là do thuốc hoặc độc tố gây ra, cần ngừng tất cả các tác nhân gây bệnh. Nếu giảm bạch cầu xảy ra trong quá trình điều trị với một loại thuốc có thể gây ra số lượng thấp (ví dụ như chloramphenicol), cần chuyển sang kháng sinh khác.

Nước muối hoặc nước súc miệng oxy hóa khử vài giờ một lần, dung dịch rửa (chứa lidocaine nhớt, diphenhydramine, và thuốc kháng acid lỏng), thuốc ngủ gây mê (benzocaine 15 mg 3 hay 4 giờ), hoặc dung dịch rửa bằng chlorhexidine (dung dịch 1%) làm giảm sự khó chịu của viêm miệng với loét miệng-họng. Nấm candida miệng hoặc thực quản được điều trị bằng nystatin (400.000 đến 600.000 đơn vị uống), clotrimazole troche (10 mg hòa tan trong miệng 5 lần một ngày) hoặc các thuốc chống nấm hệ thống (ví dụ fluconazole). Có thể cần chế độ ăn uống nửa cứng hoặc lỏng khi viêm miệng cấp tính hoặc viêm thực quản, và các thuốc giảm đau ( ví dụ lidocaine) có thể là cần thiết để giảm thiểu sự khó chịu.

Giảm bạch cầu mạn tính

Sản xuất bạch cầu trung tính trong giảm bạch cầu bẩm sinh, giảm bạch cầu chu kỳ, và giảm bạch cầu vô căn có thể tăng lên khi dùng G-CSF từ 1 đến 10 mcg / kg sc một lần / ngày. Hiệu quả có thể được duy trì bằng G-CSF hàng ngày hoặc không liên tục trong nhiều tháng hoặc nhiều năm. G-CSF lâu dài cũng đã được sử dụng ở những bệnh nhân khác bị giảm bạch cầu mạn tính, bao gồm những người có rối loạn sinh tủy, HIV và rối loạn tự miễn. Nhìn chung, số lượng bạch cầu trung tính tăng lên, mặc dù lợi ích lâm sàng không rõ ràng, đặc biệt đối với những bệnh nhân không giảm bạch cầu trung tính trầm trọng. Đối với bệnh nhân có rối loạn tự miễn hoặc những người đã ghép cơ quan, cyclosporine cũng có thể có lợi.

Ở một số bệnh nhân bị hủy hoại bạch cầu nhanh do rối loạn tự miễn, corticosteroid (thường là prednisone 0.5 đến 1.0 mg / kg / ngày / ngày) có thể làm tăng bạch cầu trung tính. Sự gia tăng này thường có thể được duy trì bằng liệu pháp G-CSF hàng ngày.

Trước đây, cắt lách đã được sử dụng để làm tăng số lượng bạch cầu trung tính ở một số bệnh nhân lách to hoặc tăng hấp thụ bạch cầu trung tính (ví dụ, hội chứng Felty); tuy nhiên, vì các yếu tố tăng trưởng và các phương pháp điều trị mới khác thường hiệu quả, nên tránh hầu hết các trường hợp cắt lách. Tuy nhiên, cắt lách có thể được xem xét cho những bệnh nhân bị lách to kéo dài hoặc giảm bạch cầu nặng, <500/μL) và có những vấn đê nhiễm trùng nghiêm trọng mà những phương pháp điều trị khác đã thất bại. Bệnh nhân cần được tiêm phòng các bệnh nhiễm trùng do Streptococcus pneumoniae, Neisseria meningitidis, và Haemophilus influenzae trước khi cắt lách do cắt lách dễ làm bệnh nhân bị nhiễm khuản.

Những điểm chính

  • Giảm bạch cầu trung tính dễ gây nhiễm trùng do vi khuẩn và nấm.

  • Nguy cơ nhiễm trùng tỷ lệ thuận với mức độ giảm bạch cầu trung tính; bệnh nhân có số lượng bạch cầu trung tính <500/μL có nguy cơ lớn nhất.

  • Bởi vì đáp ứng viêm rất hạn chế, các phát hiện lâm sàng có thể âm ỉ, mặc dù thường có sốt.

  • Các bệnh nhân sốt giảm bạch cầu trung tính được điều trị theo kinh nghiệm với thuốc kháng sinh phổ rộng trong lúc chờ xác định rõ nhiễm trùng.

  • Kháng sinh dự phòng được chỉ định ở những bệnh nhân có nguy cơ cao.

Các chuyên gia đọc thêm

Cũng quan tâm

TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI

TRÊN CÙNG