MSD Manual

Hãy xác nhận rằng quý vị là chuyên gia chăm sóc sức khỏe

honeypot link

Clindamycin

Theo

Hans P. Schlecht

, MD, MSc, Drexel University College of Medicine;


Christopher Bruno

, MD, Drexel University College of Medicine

Xem lại/Duyệt lại toàn bộ lần cuối Thg1 2015| Sửa đổi nội dung lần cuối cùng Thg1 2015

Clindamycin là kháng sinh lincosamide (xem Lincosamides, Oxazolidinones, và Streptogramins) tác động chủ yếu là kìm khuẩn. Nó liên kết với tiểu đơn vị 50S của ribosome, do đó ức chế sự tổng hợp protein của vi khuẩn.

Dược học

Clindamycin được hấp thu tốt bằng đường uống và có thể tiêm vào tĩnh mạch. Clindamycin lan truyền tốt trong dịch cơ thể ngoại trừ CSF; nó tập trung ở các thực bào. Hầu hết thuốc được chuyển hóa; chất chuyển hóa được bài tiết qua mật và nước tiểu.

Chỉ định

Phổ hoạt tính của clindamycin tương tự với erythromycin macrolide (xem Bảng: Một số sử dụng lâm sàng của Macrolide) ngoại trừ clindamycin

  • Hiệu quả đối với nhiễm trùng do kỵ khí (đặc biệt Bacteroidessp, bao gồm B. fragilis), Staphylococcus aureus kháng methicillin cộng đồng, và kháng macrolid, Streptococcus pneumoniae nhạy cảm clindamycin

  • Không đáng tin để dùng chống lại mycoplasmas, chlamydiae, Chlamydophila sp, và legionellae

trực khuẩn gram âm hiếu khí và enterococci thì kháng

Clindamycin thường được sử dụng cho nhiễm trùng kị khí tuy nhiên, kháng clindamycin đã xuất hiện trong số những sinh vật này ở một số vùng. Bởi vì những bệnh này thường liên quan đến vi khuẩn Gram âm hiếu khí,thêm vào đó là việc sử dụng kháng sinh Clindamycin là một phần của liệu pháp phối hợp cho những trường hợp sau

  • Nhiễm trùng do độc tố của streptococci (vì clindamycin làm giảm sản xuất độc tố của vi khuẩn)

  • Toxoplasmosis gây bệnh ở não

  • Babesiosis

  • Sốt rét Falciparum

  • Pneumocystis jirovecii viêm phổi

Clindamycin có thể được sử dụng cho các bệnh nhiễm trùng (ví dụ như nhiễm trùng da và mô mềm) ở cộng đồng nơi có Staphylococcus aureus kháng methicillin (CA-MRSA) là phổ biến; clindamycin có hữu ích hay không phụ thuộc vào các mô hình đề kháng địa phương.

Clindamycin có thể được sử dụng cho các bệnh nhiễm trùng do chủng nhạy cảm với clindamycinerythromycin. Tuy nhiên, một số chủng CA-MRSA có khả năng nhạy cảm với clindamycin và kháng erythromycin; kháng erythromycin ở những chủng này có thể là do hoạt hoá thải trừ động hoặc do sự thay đổi của erythromycin với đích ribosomal Nếu chủng nhạy với clindamycin trong cộng động có tụ cầu vàng kháng methicillin, kháng với erythromycin vì cơ chế thải trừ thì bệnh nhân có thể đáp ứng với clindamycin Tuy nhiên, nếu chủng bị đề kháng với erythromycin do thay đổi đích ribosomal gắn với erythromycin, bệnh nhân có thể không đáp ứng lâm sàng với clindamycin vì một số đột biến có thể xuất hiện trong quá trình điều trị clindamycin; những đột biến này có khả năng chống lại clindamycinerythromycin do sự thay đổi cấu thành của đích ribosomal. Có nghĩa là sự đề kháng luôn luôn có cho dù có hay không chất cảm ứng như erythromycin

Sự kháng thuốc erythromycin do dòng chảy có thể được phân biệt với sự thay đổi đích ribosome bằng thí nghiệm khuếch tán đĩa đôi (D test) thường được sử dụng. Một đĩa clindamycin được đặt ở một khoảng cách tiêu chuẩn với đĩa erythromycin trên một tấm thạch được phết chủng vi khuẩn tụ cầu vàng kháng methicillin trong cộng đồng. Vùng ức chế tăng trưởng (hình chữ "D") xung quanh đĩa clindamycin, với một vùng phẳng gần đĩa erythromycin cho thấy có khả năng kháng ribosomal. Bệnh nhân nhiễm trùng từ trung bình đến nặng bởi tụ cầu vàng kháng methicillin cộng đồng kháng ribosomal và có test D dương tính không nên điều trị bằng clindamycin

Clindamycin không thể được sử dụng cho các nhiễm trùng thần kinh trung ương (trừ bệnh đậu nành não) bởi vì sự xâm nhập vào não và CSF là rất thấp.

clindamycin tại chỗ được sử dụng cho mụn trứng cá.

Chống chỉ định

Không dùng clindamycin ở những bệnh nhân có phản ứng dị ứng với kháng sinh này, và nên thận trọng khi sử dụng ở những người có tiền sử viêm ruột, viêm loét đại tràng hoặc viêm đại tràng do kháng sinh.

Sử dụng trong thời kỳ mang thai và cho con bú

Clindamycin nằm trong nhóm mang thai B (nghiên cứu trên động vật cho thấy không có rủi ro nhưng chứng cứ của con người là không đầy đủ, hoặc các nghiên cứu trên động vật cho thấy rủi ro và các nghiên cứu của con người không có).

Clindamycin đi vào sữa mẹ. Việc sử dụng trong thời kỳ cho con bú sữa mẹ không được khuyến cáo.

Tác dụng phụ

Ảnh hưởng bất lợi chính là

Clindamycin, penicillin, cephalosporin, và, gần đây nhất, fluoroquinolones có liên quan với tiêu chảy do C. difficile Clindamycin có liên quan với tiêu chảy do C. difficilekhoảng 10% bệnh nhân bất kể liệu trình

Các phản ứng quá mẫn có thể xảy ra. Nếu không uống cùng nước, clindamycin có thể gây viêm thực quản.

Liều cân nhắc

Không cần điều chỉnh liều đối với suy thận. Clindamycin được cho từ 6 đến 8 giờ.

Các chuyên gia đọc thêm

Cũng quan tâm

TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI

TRÊN CÙNG