Béo phì là một rối loạn mạn tính, đa yếu tố, tái phát, đặc trưng bởi trọng lượng cơ thể dư thừa và thường được định nghĩa là chỉ số khối cơ thể (BMI) ≥ 30 kg/m2. Các biến chứng bao gồm các bệnh lý tim mạch (đặc biệt là ở những người có mỡ bụng dư thừa), đái tháo đường, một số loại ung thư, sỏi mật, bệnh gan nhiễm mỡ do rối loạn chuyển hóa, xơ gan, viêm khớp, rối loạn sinh sản ở nam và nữ, rối loạn tâm lý và tử vong sớm. Béo phì được công nhận là một căn bệnh phức tạp và định nghĩa về tình trạng này đang dần được mở rộng để bao gồm các phép đo lượng mỡ thừa và các tiêu chuẩn khách quan về tình trạng thay đổi chức năng của các cơ quan. Điều trị bao gồm thay đổi lối sống (ví dụ: chế độ ăn uống, hoạt động thể chất, hành vi), thuốc chống béo phì và phẫu thuật giảm béo (giảm cân).
(Xem thêm Béo phì ở thanh thiếu niên.)
Tỷ lệ hiện mắc của béo phì (dựa trên chỉ số BMI) ở Hoa Kỳ cao ở mọi nhóm tuổi và đã tăng gần gấp ba lần kể từ khi dịch bệnh béo phì bắt đầu vào cuối những năm 1970 (1, 2); tỷ lệ này được báo cáo là khoảng 40% số người trưởng thành (3). Các xu hướng tương tự đã được báo cáo trên toàn thế giới ở người trưởng thành cũng như trẻ em và thanh thiếu niên (4).
Tại Hoa Kỳ, bệnh béo phì và các biến chứng của tình trạng này gây ra tới 500.000 ca tử vong sớm mỗi năm (5). Ngoài ra, béo phì có liên quan đến tỷ lệ nghỉ làm nhiều hơn, giảm năng suất và chi phí chăm sóc sức khỏe cao hơn. Liên đoàn Béo phì Thế giới ước tính rằng đến năm 2060, tác động kinh tế của tình trạng thừa cân và béo phì sẽ tăng lên hơn 3% tổng sản phẩm quốc nội trên toàn cầu, gây áp lực lớn hơn lên các quốc gia có nguồn lực thấp hơn (6).
Mặc dù béo phì theo truyền thống được xác định bằng ngưỡng BMI, nhưng các tiêu chuẩn lâm sàng về béo phì đang phát triển để bao gồm các biện pháp đánh giá khác về lượng mỡ thừa liên quan đến tình trạng suy giảm chức năng và cơ quan (7).
Tài liệu tham khảo chung
1. Hales CM, Carroll MD, Fryar CD, et al. Prevalence of obesity and severe obesity among adults: United States, 2017–2018. NCHS Data Brief. 2020;(360):1-8.
2. Hales CM, Fryar CD, Carroll MD, et al: Trends in obesity and severe obesity prevalence in US youth and adults by sex and age, 2007-2008 to 2015-2016. JAMA 319 (16):1723–1725, 2018 doi:10.1001/jama.2018.3060.
3. Emmerich SD, Fryar CD, Stierman B, et al. Obesity and Severe Obesity Prevalence in Adults: United States, Tháng 8 năm 2021- Tháng 8 năm 2023. NCHS Data Brief. 2024;(508):10.15620/cdc/159281. doi:10.15620/cdc/159281
4. NCD Risk Factor Collaboration (NCD-RisC). Worldwide trends in underweight and obesity from 1990 to 2022: a pooled analysis of 3663 population-representative studies with 222 million children, adolescents, and adults. Lancet. 2024;403(10.431):1027-1050. doi:10.1016/S0140-6736(23)02750-2
5. Ward ZJ, Willett WC, Hu FB, et al. Excess mortality associated with elevated body weight in the USA by state and demographic subgroup: A modelling study. EClinicalMedicine. 2022;48:101429. Xuất bản ngày 28 tháng 4 năm 2022. doi:10.1016/j.eclinm.2022.101429
6. World Obesity Federation. The economic impact of overweight & obesity 2nd edition with estimates for 161 countries. Global Obesity Observatory. Xuất bản năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2025.
7. Rubino F, Cummings DE, Eckel RH, et al. Definition and diagnostic criteria of clinical obesity [published correction appears in Lancet Diabetes Endocrinol. 2025;13(3):221-262. doi:10.1016/S2213-8587(24)00316-4
Căn nguyên của béo phì
Nguyên nhân gây béo phì có tính đa yếu tố và bao gồm khuynh hướng di truyền cũng như các ảnh hưởng của hành vi, chuyển hóa và nội tiết tố (1). Cơ bản, béo phì là kết quả của sự mất cân bằng kéo dài giữa lượng năng đưa vào và năng lượng tiêu hao, bao gồm năng lượng sử dụng cho các quá trình trao đổi chất cơ bản và năng lượng tiêu hao từ hoạt động thể chất. Tuy nhiên, nhiều yếu tố khác dường như làm tăng khuynh hướng mắc béo phì, bao gồm rối loạn nội tiết (ví dụ: chất bisphenol A, BPA), vi khuẩn đường ruột, chu kỳ ngủ/thức, và các yếu tố môi trường.
Yếu tố di truyền
Tính di truyền của BMI cao ở các nhóm tuổi khác nhau, dao động từ 40 đến 60% (2). Với một vài trường hợp ngoại lệ, béo phì không tuân theo mô hình di truyền Mendel đơn giản mà là sự tương tác phức tạp của nhiều locus. Các yếu tố di truyền có thể ảnh hưởng đến nhiều tín hiệu phân tử và thụ thể được sử dụng bởi các bộ phận của vùng dưới đồi và đường tiêu hóa để điều chỉnh lượng thực phẩm đưa vào (xem thanh bên ). Ví dụ: gen ob mã hóa cho việc sản sinh leptin, đây là chất điều hòa mức độ thèm ăn và tiêu hao năng lượng (3). Các nghiên cứu về bộ gen đã giúp xác định các con đường truyền tín hiệu liên quan đến khuynh hướng béo phì. Những khác biệt về biểu hiện của các phân tử tín hiệu trong con đường leptin-melanocortin (ví dụ: thụ thể melanocortin-4) đặc biệt liên quan đến quá trình kiểm soát trung ương đối với sự thèm ăn. Các yếu tố di truyền có thể được thừa hưởng và biểu hiện di truyền có thể thay đổi do các tình trạng của mẹ trong quá trình phát triển của thai nhi (4). Các điều kiện môi trường như dinh dưỡng, thói quen ngủ và tiêu thụ rượu bia làm thay đổi biểu hiện gen thông qua cơ chế biểu sinh trong các con đường trao đổi chất khác nhau; hiệu ứng này cho thấy khả năng đảo ngược tác động của các yếu tố môi trường và việc tinh chỉnh các mục tiêu điều trị.
Các nhân tố di truyền cũng điều chỉnh năng lượng tiêu hao, bao gồm ti lệ trao đổi chất cơ bản, sự sinh nhiệt bởi chế độ ăn và sự sinh nhiệt liên quan tới hoạt động không chủ động. Các nhân tố di truyền có thể có ảnh hưởng lớn hơn đến việc phân bố của mỡ cơ thể, đặc biệt là mỡ bụng (nó làm tăng nguy cơ của hội chứng chuyển hóa), hơn là khối lượng mỡ của cơ thể.
Yếu tố lối sống và yếu tố hành vi
Trọng lượng tăng khi lượng calo đưa vào vượt quá nhu cầu năng lượng. Các yếu tố quan trọng quyết định lượng năng lượng nạp vào bao gồm:
Kích thước khẩu phần ăn
Độ đậm năng lượng của thực phẩm
Các động lực mang tính hệ thống của yếu tố lối sống và yếu tố hành vi bắt nguồn từ văn hóa cộng đồng và hệ thống kinh tế. Các cộng đồng có khả năng tiếp cận hạn chế với trái cây tươi và rau quả tươi và tỷ lệ tiêu thụ nước ngọt cao hơn thường có tỷ lệ béo phì cao hơn (5). Thực phẩm giàu calo, giàu năng lượng (ví dụ: thực phẩm chế biến sẵn), chế độ ăn nhiều carbohydrate tinh chế và tiêu thụ nước ngọt, nước ép trái cây và rượu sẽ thúc đẩy tăng cân.
Việc tiếp cận các không gian giải trí an toàn (ví dụ: cơ sở hạ tầng dành cho người đi bộ và đi xe đạp, công viên) và sự sẵn có của phương tiện giao thông công cộng có thể khuyến khích hoạt động thể chất và giúp bảo vệ khỏi bị béo phì.
Các yếu tố điều chỉnh
Béo phì ở mẹ trước sinh, hút thuốc lá ở mẹ trước sinh, tăng cân quá mức trong thai kỳ (6) (xem bảng ) và hạn chế tăng trưởng trong tử cung có thể làm rối loạn điều hòa cân nặng và góp phần tăng cân trong thời thơ ấu và sau này. Béo phì ở thời thơ ấu làm cho việc giảm cân trong cuộc sống sau này khó khăn hơn.
Thành phần của hệ vi sinh vật đường ruột cũng có vẻ là một yếu tố quan trọng; việc sử dụng kháng sinh sớm và các yếu tố khác làm thay đổi thành phần của hệ vi sinh vật đường ruột có thể thúc đẩy tăng cân và béo phì ở giai đoạn sau này trong cuộc sống (7).
Tiếp xúc sớm với các chất gây béo phì, một loại hóa chất gây rối loạn nội tiết (ví dụ: khói thuốc lá, bisphenol A, ô nhiễm không khí, chất chống cháy, phthalates, polychlorinated biphenyls) có thể làm thay đổi điểm đặt chuyển hóa thông qua cơ chế biểu sinh hoặc kích hoạt hạt nhân, làm tăng khả năng phát triển bệnh béo phì (8).
Các sự kiện bất lợi trong thời thơ ấu hoặc lạm dụng trong thời thơ ấu làm tăng nguy cơ mắc một số rối loạn, bao gồm cả béo phì. Nghiên cứu về các biến cố bất lợi ở trẻ em của Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh đã chứng minh rằng tiền sử lạm dụng bằng lời nói, thể chất hoặc tình dục khi còn nhỏ dự đoán nguy cơ có chỉ số BMI ≥ 30 sẽ tăng 8% và 17,3% có nguy cơ có chỉ số BMI ≥ 40. Một số loại lạm dụng mang nguy cơ mạnh nhất. Ví dụ: lạm dụng bằng lời nói thường xuyên có nguy cơ gia tăng lớn nhất (88%) khi chỉ số BMI > 40. Việc thường xuyên bị đánh và bị thương làm tăng nguy cơ BMI > 30 lên 71% (9). Các cơ chế được đề xuất đối với mối liên quan giữa lạm dụng và béo phì bao gồm các hiện tượng thần kinh sinh học và hiện tượng biểu sinh (10).
Ngủ không đủ giấc (thường được coi là < 7 giờ/đêm) có thể dẫn đến tăng cân do thay đổi nồng độ hormone gây cảm giác no, cảm giác này sẽ thúc đẩy cơn đói (11). Trong Nghiên cứu đoàn hệ về giấc ngủ của Wisconsin với sự tham gia của 1024 người trưởng thành khỏe mạnh, giảm giấc ngủ tỷ lệ thuận với việc tăng chỉ số BMI. Ở người trưởng thành, chỉ số BMI tăng 3,6% khi thời gian ngủ trung bình giảm từ 8 tiếng thành 5 tiếng (12).
Việc cai thuốc lá có liên quan đến việc tăng cân và có thể khiến bệnh nhân không muốn bỏ thuốc lá (13).
Các loại thuốc, bao gồm glucocorticoid, một số loại thuốc chống trầm cảm (ví dụ: thuốc chống trầm cảm ba vòng, thuốc ức chế monoamine oxidase [MAOI]), một số thuốc chống co giật (ví dụ: axit valproic) và thuốc chống loạn thần không điển hình (ví dụ: risperidone) có thể gây tăng cân (14).
Hiếm khi, một trong những rối loạn sau đây gây tăng cân:
Thay đổi trong cấu trúc và chức năng não do khối u (đặc biệt là u sọ hầu) hoặc nhiễm trùng (đặc biệt là những bệnh ảnh hưởng đến vùng dưới đồi), có thể kích thích việc tiêu thụ lượng calo dư thừa
Tăng tiết insulin do khối u tụy
Tăng cortisol do hội chứng Cushing, nguyên nhân gây ra chứng béo phì chủ yếu ở bụng
Suy giáp (hiếm khi là nguyên nhân gây ra sự tăng cân rõ rệt)
Các rối loạn ăn
Ít nhất 2 hình thức ăn bệnh lý có thể liên quan với béo phì:
Sự rối loạn ăn quá mức là tiêu thụ nhanh chóng một lượng lớn thực phẩm với cảm giác chủ quan mất kiểm soát trong lúc ăn và nỗi buồn sau đó. Rối loạn này không bao gồm các hành vi bù trừ, như nôn. Rối loạn ăn uống vô độ xảy ra ở khoảng 1,5% số nữ giới và 0,3% số nam giới trong suốt cuộc đời của họ trên toàn thế giới (15). Bệnh béo phì thường nặng, thường xuyên tăng hoặc giảm cân đột ngột và kèm theo đó là các rối loạn tâm lý rõ rệt.
Hội chứng ăn đêm bao gồm chán ăn sáng, ăn nhiều buổi tối, và chứng mất ngủ, với bữa ăn vào giữa đêm. Ít nhất 25 đến 50% lượng thức ăn hàng ngày được đưa vào sau bữa ăn tối. Khoảng 10% số người đi điều trị bệnh béo phì nặng có thể có rối loạn này (16). Hiếm khi, một rối loạn tương tự được gây ra bởi việc sử dụng thuốc ngủ như zolpidem.
Hình thức tương tự nhưng mức độ nhẹ hơn có thể góp phần làm tăng cân ở nhiều người hơn. Ví dụ: ăn sau bữa tối có thể góp phần làm tăng cân quá mức ở nhiều người không có hội chứng ăn đêm.
Tài liệu tham khảo về căn nguyên
1. Mahmoud AM: An overview of epigenetics in obesity: The role of lifestyle and therapeutic interventions. Int J Mol Sci 2022;23(3):1341. doi: 10.3390/ijms23031341
2. Nan C, Guo B, Warner C, et al. Heritability of body mass index in pre-adolescence, young adulthood and late adulthood. Eur J Epidemiol. 2012;27(4):247–253. doi: 10.1007/s10654-012-9678-6
3. Núñez-Sánchez MÁ, Jiménez-Méndez A, Suárez-Cortés M, et al. Inherited Epigenetic Hallmarks of Childhood Obesity Derived from Prenatal Exposure to Obesogens. Int J Environ Res Public Health. 2023;20(6):4711. Xuất bản ngày 7 tháng 3 năm 2023. doi:10.3390/ijerph20064711
4. Shehab MJ, Al-Mofarji ST, Mahdi BM, et al. The correlation between obesity and leptin signaling pathways. Cytokine. 2025;192:156970. doi:10.1016/j.cyto.2025.156970
5. Althoff T, Nilforoshan H, Hua J, et al. Large-scale diet tracking data reveal disparate associations between food environment and diet. Nat Commun. 2022;13(1):267. Xuất bản ngày 18 tháng 1 năm 2022. doi:10.1038/s41467-021-27522-y
6. Mannino A, Sarapis K, Moschonis G. The Effect of Maternal Overweight and Obesity Pre-Pregnancy and During Childhood in the Development of Obesity in Children and Adolescents: A Systematic Literature Review. Nutrients. 2022;14(23):5125. Xuất bản ngày 2 tháng 12 năm 2022. doi:10.3390/nu14235125
7.Ajslev TA, Andersen CS, Gamborg M, et al, Childhood overweight after establishment of the gut microbiota: The role of delivery mode, pre-pregnancy weight and early administration of antibiotics. Int J Obes. 2011;35(4): 522–529. doi: 10.1038/ijo.2011.27
8. Heindel JJ, Newbold R, Schug TT, Endocrine disruptors and obesity. Nat Rev Endocrinol. 2015;11(11):653–661. doi: 10.1038/nrendo.2015.163
9. Williamson DF, Thompson TJ, Anda RF, et al: Body weight and obesity in adults and self-reported abuse in childhood. Int J Obes Relat Metab Disord. 2022;26(8):1075–1082. doi: 10.1038/sj.ijo.0802038
10. Anda RF, Felitti VJ, Bremner JD, et al. The enduring effects of abuse and related adverse experiences in childhood. A convergence of evidence from neurobiology and epidemiology. Eur Arch Psychiatry Clin Neurosci. 2006;256(3):174–186, 2006. doi: 10.1007/s00406-005-0624-4
11. St-Onge MP, Grandner MA, Brown D, et al. Sleep Duration and Quality: Impact on Lifestyle Behaviors and Cardiometabolic Health: A Scientific Statement From the American Heart Association. Circulation. 2016;134(18):e367-e386. doi:10.1161/CIR.0000000000000444
12. Taheri S, Lin L, Austin D, et al. Short sleep duration is associated with reduced leptin, elevated ghrelin, and increased body mass index. PLoS Med. 2004;1(3):e62. doi: 10.1371/journal.pmed.0010062
13. Aubin HJ, Farley A, Lycett D, et al. Weight gain in smokers after quitting cigarettes: meta-analysis. BMJ. 2012;345:e4439. Xuất bản ngày 10 tháng 7 năm 2012. doi:10.1136/bmj.e4439
14. Domecq JP, Prutsky G, Leppin A, et al. Clinical review: Drugs commonly associated with weight change: a systematic review and meta-analysis. J Clin Endocrinol Metab. 2015;100(2):363-370. doi:10.1210/jc.2014-3421
15. Keski-Rahkonen A. Epidemiology of binge eating disorder: prevalence, course, comorbidity, and risk factors. Curr Opin Psychiatry. 2021;34(6):525-531. doi:10.1097/YCO.0000000000000750
16. Cleator J, Abbott J, Judd P, et al. Night eating syndrome: implications for severe obesity. Nutr Diabetes. 2012;2(9):e44. Xuất bản ngày 10 tháng 9 năm 2012. doi:10.1038/nutd.2012.16
Các biến chứng của béo phì
Các biến chứng của bệnh béo phì gây ra rối loạn ở hầu hết các hệ cơ quan, bao gồm:
Tim mạch (ví dụ: tăng huyết áp, bệnh động mạch vành, đột quỵ)
Phổi (ví dụ: chứng ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn [OSA])
Nội tiết (ví dụ: tiểu đường, suy giáp, hội chứng chuyển hóa, vô sinh, nồng độ testosterone huyết thanh thấp ở nam giới, hội chứng buồng trứng đa nang ở nữ giới)
Cơ xương khớp (ví dụ: thoái hóa khớp)
Hệ tiêu hóa và gan (ví dụ: trào ngược dạ dày thực quản, sỏi mật, bệnh gan nhiễm mỡ do rối loạn chuyển hóa)
Mô mỡ là một cơ quan nội tiết hoạt động tích cực tiết ra adipokine và axit béo tự do làm tăng tình trạng viêm toàn thân và kháng insulin ở nhiều hệ cơ quan (1).
Các tế bào mỡ nội tạng giải phóng trực tiếp leptin và angiotensin và gây ra chứng tăng huyết áp liên quan đến béo phì chủ yếu do kích hoạt hệ thống renin-angiotensin-aldosterone (2). Ngoài ra, nồng độ insulin tăng cao, xảy ra như một cơ chế bù trừ cho tình trạng kháng insulin, kích thích hệ thần kinh giao cảm, làm tăng co mạch, cũng góp phần gây tăng huyết áp. Rối loạn lipid máu do béo phì gây ra càng làm tăng tốc quá trình xơ vữa động mạch, do đó làm tăng nguy cơ mắc các bệnh tim mạch (ví dụ: bệnh động mạch vành, đột quỵ) (3). Béo phì cũng được chứng minh là một yếu tố nguy cơ độc lập đối với thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch (4) và tình trạng viêm toàn thân mạn tính liên quan đến béo phì được cho là nguyên nhân gây ra tình trạng tiền huyết khối (5).
Bệnh béo phì có thể gây ra ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn về mặt cơ học do lượng mô mỡ tăng lên ở lưỡi và hầu họng làm giảm kích thước đường thở dẫn đến xẹp đường thở trong khi ngủ (6, 7). Các đợt hạ oxy máu gián đoạn lặp đi lặp lại và rối loạn giấc ngủ của ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn cũng làm tăng nguy cơ tăng huyết áp, bệnh động mạch vành và đột quỵ (8). Béo phì cũng có thể gây ra hội chứng tăng thông khí do béo phì (hội chứng Pickwickian) (9).
Nhiều rối loạn nội tiết có vẻ liên quan đến những thay đổi ở trục hạ đồi tuyến yên tuyến thượng thận do kháng insulin (10). Bệnh béo phì cũng được coi là yếu tố nguy cơ đối với nhiều bệnh nội tiết như suy giáp, tăng cortisol hoặc suy sinh dục hoặc cường sinh dục (11).
Bệnh béo phì góp phần vào sự phát triển của thoái hóa khớp thông qua các cơ chế sinh học (tức là do trọng lượng cơ thể dư thừa làm tăng tải trọng lên các khớp) (12) ngoài tình trạng phá hủy sụn khớp vì viêm nhiễm do adipokine (13).
Bệnh béo phì dẫn đến các vấn đề về xã hội, kinh tế và tâm lý do định kiến, phân biệt đối xử, hình ảnh cơ thể không tốt và lòng tự trọng thấp. Ví dụ, nhiều người có thể thiếu công ăn việc làm hoặc bị thất nghiệp.
Bệnh béo phì có liên quan đến các vấn đề tâm lý xã hội bao gồm trầm cảm và gia tăng căng thẳng tâm lý (14).
Tài liệu tham khảo về biến chứng
1. Boden G. Obesity and free fatty acids. Endocrinol Metab Clin North Am. 2008;37(3):635-ix. doi:10.1016/j.ecl.2008.06.007
2. Landsberg L, Aronne LJ, Beilin LJ, et al. Obesity-related hypertension: pathogenesis, cardiovascular risk, and treatment: a position paper of The Obesity Society and the American Society of Hypertension. J Clin Hypertens (Greenwich). 2013;15(1):14-33. doi:10.1111/jch.12049
3. Powell-Wiley TM, Poirier P, Burke LE, et al. Obesity and Cardiovascular Disease: A Scientific Statement From the American Heart Association. Circulation. 2021;143(21):e984-e1010. doi:10.1161/CIR.0000000000000973
4. Rahmani J, Haghighian Roudsari A, Bawadi H, et al. Relationship between body mass index, risk of venous thromboembolism and pulmonary embolism: A systematic review and dose-response meta-analysis of cohort studies among four million participants. Thromb Res. 2020;192:64-72. doi:10.1016/j.thromres.2020.05.014
5. Vilahur G, Ben-Aicha S, Badimon L. New insights into the role of adipose tissue in thrombosis. Cardiovasc Res. 2017;113(9):1046-1054. doi:10.1093/cvr/cvx086
6. Veasey SC, Rosen IM. Obstructive Sleep Apnea in Adults. N Engl J Med. 2019;380(15):1442-1449. doi:10.1056/NEJMcp1816152
7. Schwartz AR, Patil SP, Squier S, et al. Obesity and upper airway control during sleep. J Appl Physiol (1.985). 2010;108(2):430-435. doi:10.1152/japplphysiol.00919.2009
8. Yeghiazarians Y, Jneid H, Tietjens JR, et al. Obstructive Sleep Apnea and Cardiovascular Disease: A Scientific Statement From the American Heart Association [published correction appears in Circulation.2021;144(3):e56-e67. doi:10.1161/CIR.0000000000000988
9. Mokhlesi B, Masa JF, Brozek JL, et al. Evaluation and Management of Obesity Hypoventilation Syndrome. An Official American Thoracic Society Clinical Practice Guideline 2019;200(3):e6-e24. doi:10.1164/rccm.201905-1071ST
10. Janssen JAMJL. New Insights into the Role of Insulin and Hypothalamic-Pituitary-Adrenal (HPA) Axis in the Metabolic Syndrome. Int J Mol Sci. 2022;23(15):8178. Xuất bản ngày 25 tháng 7 năm 2022. doi:10.3390/ijms23158178
11. van Hulsteijn LT, Pasquali R, Casanueva F, et al. Prevalence of endocrine disorders in obese patients: systematic review and meta-analysis. Eur J Endocrinol. 2020;182(1):11-21. doi:10.1530/EJE-19-0666
12. Thijssen E, van Caam A, van der Kraan PM. Obesity and osteoarthritis, more than just wear and tear: pivotal roles for inflamed adipose tissue and dyslipidaemia in obesity-induced osteoarthritis. Rheumatology (Oxford). 2015;54(4):588-600. doi:10.1093/rheumatology/keu464
13. Nedunchezhiyan U, Varughese I, Sun AR, et al. Obesity, Inflammation, and Immune System in Osteoarthritis. Front Immunol. 2022;13:907750. Xuất bản ngày 4 tháng 7 năm 2022. doi:10.3389/fimmu.2022.907750
14. Steptoe A, Frank P. Obesity and psychological distress. Philos Trans R Soc Lond B Biol Sci. 2023;378(1.888):20220225. doi:10.1098/rstb.2022.0225
Chẩn đoán béo phì
Chỉ số khối cơ thể (BMI)
Chu vi vòng eo
Phân tích thành phần cơ thể
Ở người trưởng thành, BMI, được định nghĩa bằng cân nặng (kg) chia cho bình phương chiều cao (m2), được sử dụng để sàng lọc tình trạng thừa cân hoặc béo phì:
Thừa cân = 25 đến 29,9 kg/m2
Béo phì loại I = 30 đến 34,9 kg/m2
Béo phì loại II = 35 đến 39,9 kg/m2
Béo phì độ III = ≥ 40 kg/m2
Các phân loại béo phì này hữu ích trong việc xác định những người có nguy cơ có các hậu quả sức khỏe nghiêm trọng đã nêu ở trên, nhưng bản thân các phân loại này không đủ để xác định khi nào lượng mỡ thừa trở thành vấn đề đáng lo ngại về sức khỏe.
BMI là một công cụ được sử dụng phổ biến, có thể dễ dàng tính toán và có mối tương quan với bệnh chuyển hóa và khối lượng mỡ trong các nghiên cứu về dân số ở người. Tuy nhiên, chỉ số BMI là một công cụ sàng lọc thô sơ và có những hạn chế ở nhiều quần thể phụ, đặc biệt là do nó không phân biệt được giữa khối lượng cơ nạc và khối lượng mỡ. Phương pháp này có xu hướng chẩn đoán quá mức tình trạng thừa cân và béo phì ở những bệnh nhân có cơ bắp phát triển quá mức và chẩn đoán thiếu chính xác ở những bệnh nhân bị mất cơ do lão hóa. Một số chuyên gia cho rằng điểm cắt BMI nên khác nhau dựa trên chủng tộc, giới tính và độ tuổi. Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization, WHO) và Liên đoàn Tiểu đường Quốc tế đề xuất điểm giới hạn thấp hơn đối với người gốc Á so với những người thuộc các dân tộc khác (1).
Để có cách tiếp cận toàn diện hơn trong việc chẩn đoán và phân loại bệnh béo phì trên lâm sàng, đã có đề xuất rằng chỉ số BMI cần phải được bổ sung bằng các phép đo nhân trắc học bổ sung (ví dụ: chu vi vòng eo, tỷ lệ vòng eo trên vòng hông hoặc tỷ lệ vòng eo trên chiều cao) hoặc bằng cách đo trực tiếp lượng mỡ cơ thể nếu có sẵn (ví dụ: đo hấp thụ tia X năng lượng kép) (2). Ngoài ra, nếu chỉ số BMI > 40 kg/m2, có thể giả định có lượng mỡ thừa trong cơ thể mà không cần phải đo đạc nhân trắc học để xác nhận.
Phân loại béo phì được đề xuất bao gồm (2):
Bệnh béo phì giai đoạn tiền lâm sàng: Tình trạng thừa mỡ trong cơ thể liên quan đến mức độ nguy cơ sức khỏe khác nhau; làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch, một số loại ung thư và tiểu đường loại 2; không có bằng chứng về suy giảm chức năng của các cơ quan hoặc mô.
Bệnh béo phì trên lâm sàng: Một bệnh mạn tính do tích tụ mỡ thừa; đặc trưng bởi sự thay đổi chức năng các cơ quan và/hoặc giảm khả năng thực hiện các hoạt động hàng ngày.
Chu vi vòng eo và có hội chứng chuyển hóa có vẻ dự đoán nguy cơ bị các biến chứng chuyển hóa và biến chứng tim mạch tốt hơn chỉ số BMI (3). Chu vi vòng eo làm tăng nguy cơ bị các biến chứng khác nhau do béo phì tùy theo nhóm dân tộc và giới tính (4).
Phân tích thành phần cơ thể
Thành phần cơ thể – phần trăm mỡ và cơ của cơ thể – cũng được xem xét khi chẩn đoán béo phì. Mặc dù có thể không cần thiết trong thực hành lâm sàng thông thường, phân tích thành phần cơ thể có thể hữu ích nếu các bác sĩ lâm sàng nghi ngờ BMI tăng cao là do cơ hoặc mỡ quá thừa.
Nam giới được coi là béo phì khi lượng mỡ trong cơ thể > 25%. Ở nữ giới, ngưỡng này là > 32%.
Tỷ lệ mỡ trong cơ thể có thể được ước tính bằng cách đo độ dầy nếp gấp da (thường là trên cơ tam đầu) hoặc ở vùng cơ giữa vùng cánh tay trên.
Phân tích trở kháng điện sinh học (BIA) có thể ước tính tỷ lệ phần trăm mỡ cơ thể đơn giản và không xâm lấn. BIA ước tính trực tiếp tỷ lệ phần trăm của tổng lượng nước cơ thể; tỷ lệ phần trăm mỡ cơ thể được suy ra gián tiếp. BIA là đáng tin cậy nhất ở người khỏe mạnh và ở những người chỉ có một vài rối loạn mạn tính không làm thay đổi tỷ lệ phần trăm của tổng lượng nước cơ thể (ví dụ, béo phì mức độ vừa, đái tháo đường). Việc đo lường BIA có đặt ra rủi ro ở những người mang máy khử rung tim được cấy ghép là không rõ ràng.
Trọng lượng dưới nước (thuỷ tĩnh) là phương pháp chính xác nhất để đo tỷ lệ phần trăm mỡ cơ thể. Nó được sử dụng trong nghiên cứu hơn là trong chăm sóc lâm sàng do tốn thời gian và kinh phí. Cần phải thở ra hoàn toàn mới có thể đo được chính xác trọng lượng dưới nước.
Các phương thức chụp hình, bao gồm chụp CT, MRI, và X quang hấp thụ năng lượng kép (DXA), cũng có thể ước lượng được tỷ lệ phần trăm và sự phân bố mỡ cơ thể nhưng thường chỉ được sử dụng cho nghiên cứu.
Kiểm tra khác
Bệnh nhân béo phì cần phải được sàng lọc các bệnh lý đi kèm thường gặp, chẳng hạn như ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn (OSA), tiểu đường, rối loạn lipid máu, tăng huyết áp, bệnh gan nhiễm mỡ và trầm cảm. Các công cụ sàng lọc có thể hữu ích; ví dụ: đối với hội chứng ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn (OSA), các bác sĩ lâm sàng có thể sử dụng một công cụ như bảng câu hỏi STOP-BANG (xem bảng ) và thường là chỉ số ngưng thở-giảm thở (tổng số lần ngưng thở hoặc giảm thở xảy ra mỗi giờ ngủ). Ngừng thở tắc nghẽn khi ngủ thường là không được chẩn đoán, và chứng béo phì làm tăng nguy cơ này.
Tài liệu tham khảo về chẩn đoán
1. WHO Expert Consultation: Appropriate body-mass index for Asian populations and its implications for policy and intervention strategies. Lancet. 2004;363(9.403):157-163. doi:10.1016/S0140-6736(03)15268-3
2. Rubino F, Cummings DE, Eckel RH, et al. Definition and diagnostic criteria of clinical obesity [published correction appears in Lancet Diabetes Endocrinol. 2025;13(3):221-262. doi:10.1016/S2213-8587(24)00316-4
3. Ross R, Neeland IJ, Yamashita S, et al: Waist circumference as a vital sign in clinical practice: a Consensus Statement from the IAS and ICCR Working Group on Visceral Obesity. Nat Rev Endocrinol. 2020;16(3):177-189. doi:10.1038/s41574-019-0310-7
4. Luo J, Hendryx M, Laddu D, et al. Racial and ethnic differences in anthropometric measures as risk factors for diabetes. Diabetes Care. 2019;42(1):126-133. doi:10.2337/dc18-1413
Điều trị béo phì
Quản lý chế độ ăn
Hoạt động thể chất
Can thiệp hành vi
Thuốc chống béo phì
Phẫu thuật giảm béo
Giảm cân thậm chí từ 5% đến 10% giúp cải thiện sức khỏe tổng thể, giúp làm giảm nguy cơ phát sinh các biến chứng tim mạch (ví dụ: tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, kháng insulin) và giúp giảm mức độ nặng của các biến chứng này (1), đồng thời có thể làm giảm mức độ nặng của các biến chứng và các rối loạn bệnh lý đi kèm khác như ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn, bệnh gan nhiễm mỡ, vô sinh và trầm cảm.
Hỗ trợ từ các chuyên gia chăm sóc sức khỏe, bạn bè và thành viên gia đình, cùng với các chương trình có cấu trúc khác nhau, có thể giúp làm giảm cân và duy trì cân nặng. Nhấn mạnh béo phì là một rối loạn mạn tính, mà không phải là một vấn đề thẩm mỹ do thiếu tự chủ, giúp trao quyền cho bệnh nhân tìm kiếm dịch vụ chăm sóc bền vững và các bác sĩ lâm sàng cung cấp dịch vụ chăm sóc đó. Sử dụng ngôn ngữ hướng tới con người, chẳng hạn như "người có béo phì" thay vì "người béo phì", giúp tránh gán nhãn cho bệnh nhân theo căn bệnh của họ và chống lại sự kỳ thị.
Chế độ ăn
Ăn cân bằng là quan trọng cho việc giảm và duy trì cân nặng.
Các chiến lược bao gồm:
Ăn các bữa nhỏ và tránh hoặc lựa chọn cẩn thận các đồ ăn nhẹ
Thay thế hoa quả tươi và rau và salad cho carbohydrate tinh chế và thực phẩm chế biến
Dùng nước uống thay cho nước giải khát hoặc nước hoa quả
Hạn chế tiêu thụ rượu đến mức độ vừa phải
Đưa các sản phẩm từ sữa không hoặc ít béo vào, các sản phẩm này là một phần của chế độ ăn uống lành mạnh và giúp cung cấp đủ lượng vitamin D
Chế độ ăn tối ưu để giảm cân từ lâu đã là một chủ đề tranh luận. Chế độ ăn ít calo, nhiều chất xơ kèm theo hạn chế calo vừa phải và kết hợp protein nạc có vẻ mang lại kết quả lâu dài tốt nhất (2). Các thực phẩm có chỉ số đường huyết thấp (xem bảng ) và dầu cá biển hoặc chất béo không bão hoà đơn từ thực vật (ví dụ dầu ô liu) làm giảm nguy cơ rối loạn tim mạch và đái tháo đường.
Sử dụng các bữa ăn thay thế có thể giúp giảm và duy trì cân nặng; các sản phẩm này có thể được sử dụng định kỳ hoặc liên tục.
Không nên duy trì các chế độ ăn quá hạn chế hoặc sẽ dẫn đến mất cân lâu dài. Chế độ ăn giảm lượng calo xuống < 50% mức tiêu hao năng lượng cơ bản (BEE), được mô tả là chế độ ăn rất ít, có thể chỉ có 800 kcal/ngày.
Tiêu hao năng lượng và tốc độ chuyển hóa thay đổi tùy theo chế độ ăn uống và hoạt động. Chế độ ăn kiêng hạn chế có thể giúp giảm cân ở mức độ vừa phải trong thời gian ngắn; tuy nhiên, nồng độ các hormone như leptin, insulin, polypeptide ức chế dạ dày (gastric inhibitory polypeptide, GIP) và ghrelin thay đổi để giúp tăng cân trở lại. Trong một phân tích dài hạn về chế độ ăn ít calo, từ một phần ba đến hai phần ba số người ăn kiêng đã tăng cân nhiều hơn số cân họ đã giảm ban đầu (3).
Hoạt động thể chất
Tập thể dục làm tăng tiêu hao năng lượng, tỉ lệ trao đổi chất cơ bản và sinh nhiệt từ chế độ ăn. Tập thể dục dường như điều chỉnh sự ngon miệng tương đồng hơn với nhu cầu năng lượng. Những lợi ích khác liên quan đến hoạt động thể chất bao gồm:
Tăng độ nhạy cảm của insulin
Cải tiến cấu hình lipid
Huyết áp thấp
Thân thể khỏe mạnh tốt hơn
Cải thiện sức khỏe tâm lý
Giảm nguy cơ ung thư vú và ung thư đại tràng
Tăng tuổi thọ trung bình
Tập thể dục, bao gồm những bài tập tăng sức bền (sức đề kháng) làm tăng khối cơ. Bởi vì khi nghỉ mô cơ đốt cháy nhiều năng lượng hơn mô mỡ, tăng khối lượng cơ tạo ra sự gia tăng kéo dài trong tỉ lệ trao đổi chất cơ bản. Bài tập mà thú vị và thư giãn có nhiều khả năng được duy trì. Sự kết hợp giữa tập thể dục nhịp điệu và tập luyện sức đề kháng tốt hơn so với tập đơn lẻ. Các hướng dẫn đề xuất hoạt động thể chất 150 phút/tuần để có lợi cho sức khỏe và 300 đến 360 phút/tuần để giảm và duy trì cân nặng. Phát triển lối sống với hoạt động thể lực có thể giúp giảm cân và duy trì cân nặng.
Can thiệp hành vi
Các bác sĩ lâm sàng có thể đề xuất nhiều biện pháp can thiệp hành vi khác nhau để giúp bệnh nhân giảm cân (4). Các các thiệp này bao gồm:
Hỗ trợ
Tự theo dõi
Kiểm soát căng thẳng
Quản lý dự phòng
Giải quyết vấn đề
Kiểm soát các kích thích
Hỗ trợ có thể đến từ một nhóm, bạn bè hoặc các thành viên trong gia đình. Tham gia vào một nhóm hỗ trợ có thể tăng sự gắn bó với các thay đổi lối sống và do đó thúc đẩy giảm cân. Càng tham gia thường xuyên vào các cuộc họp nhóm, sự hỗ trợ, động cơ và sự giám sát sẽ càng cao hơn và họ cũng thấy trách nhiệm cao hơn, kết quả là sẽ giảm cân nhiều hơn. Bệnh nhân có thể nhận được hỗ trợ bằng cách sử dụng mạng xã hội để kết nối với nhau và với bác sĩ lâm sàng.
Tự theo dõi có thể bao gồm lưu trữ 1 bản ghi thực phẩm (bao gồm số lượng calo trong các thực phẩm), cân đều đặn, và quan sát và ghi lại các hành vi. Một thông tin hữu ích khác là ghi lại thời gian và địa điểm tiêu thụ thực phẩm, sự có mặt hay vắng mặt của người khác, và tâm trạng khi đó. Các nhà lâm sàng có thể cung cấp phản hồi về cách bệnh nhân có thể cải thiện thói quen ăn uống của họ.
Quản lý căng thẳng bao gồm huấn luyến các bệnh nhân xác định các tình huống căng thẳng và phát triển các chiến lược quản lý căng thẳng mà không cần phải ăn (ví dụ đi bộ, thiền, thở sâu).
Quản lý đột xuất bao gồm cung cấp những phần thưởng hữu hình cho những hành vi tích cực (ví dụ như tăng thời gian đi bộ hoặc giảm tiêu thụ một số loại thực phẩm nhất định). Phần thưởng có thể do người khác trao tặng (ví dụ: từ các thành viên của nhóm hỗ trợ hoặc chuyên gia chăm sóc sức khỏe) hoặc do chính người đó tự trao tặng (ví dụ: mua quần áo mới hoặc vé xem hòa nhạc). Khen thưởng bằng lời (sự tán dương) cũng có thể có ích.
Giải quyết vấn đề bao gồm nhận dạng và lập kế hoạch cho các tình huống làm tăng nguy cơ ăn không lành mạnh (ví dụ đi du lịch, đi ra ngoài ăn tối) hoặc làm giảm cơ hội cho hoạt động thể dục (ví dụ lái xe đi chơi xa).
Kiểm soát các kích thích bao gồm nhận dạng những trở ngại đối với ăn lành mạnh và một lối sống tích cực và phát triển các chiến lược để vượt qua chúng. Ví dụ: mọi người có thể tránh đến các nhà hàng thức ăn nhanh hoặc tránh trữ đồ ngọt trong nhà. Để có một lối sống tích cực hơn, họ có thể tiếp nhận một hoạt động ưa thích (ví dụ, làm vườn) đăng ký vào một nhóm các hoạt động (ví dụ, lớp tập luyện, nhóm thể thao), đi bộ nhiều hơn, tạo thói quen đi thang bộ thay vì thang máy và đỗ xe ở cuối bãi đậu xe (sẽ phải đi bộ xa hơn).
Các tài nguyên dựa trên công nghệ như ứng dụng dành cho thiết bị di động và các thiết bị công nghệ khác cũng có thể giúp tuân thủ các thay đổi về lối sống và giảm cân. Các ứng dụng có thể giúp bệnh nhân đặt mục tiêu giảm cân, theo dõi tiến bộ của họ, theo dõi tiêu thụ thực phẩm và ghi lại hoạt động thể lực.
Thuốc chống béo phì
Nên xem xét điều trị bằng thuốc để điều trị béo phì cho những người có BMI > 27 kg/m2 kèm theo bệnh lý đi kèm hoặc 30 kg/m2 mà không có các bệnh lý đi kèm (5). Trước khi kê đơn thuốc, các bác sĩ lâm sàng phải xác định các bệnh lý đi kèm có thể bị ảnh hưởng bởi thuốc (ví dụ: tiểu đường, rối loạn co giật, rối loạn sử dụng opioid) và các loại thuốc dùng đồng thời có thể gây tăng cân. Bệnh nhân luôn cần được tư vấn về việc thay đổi lối sống và cần phải tham khảo ý kiến chuyên gia dinh dưỡng, kết hợp với liệu pháp giảm cân y tế.
Hầu hết các loại thuốc chống béo phì đều thuộc một trong các nhóm sau:
Thuốc dựa trên hormone kích thích dinh dưỡng (NuSH)
Thuốc kích thích hệ thần kinh trung ương hoặc thuốc giảm cân (ví dụ: phentermine)
Thuốc chống trầm cảm, thuốc ức chế tái hấp thu dopamine hoặc thuốc đối kháng opioid (ví dụ: bupropion, naltrexone)
Thuốc tiêu hóa (ví dụ: orlistat, thuốc chủ vận peptide giống glucagon 1 [GLP-1])
Khác (ví dụ: topiramate, metformin, thuốc ức chế chất đồng vận chuyển natri-glucose 2 [SGLT2])
Các loại thuốc giống hoặc tăng cường các hormone tự nhiên để điều chỉnh sự thèm ăn và cân bằng nội môi (ví dụ: thuốc chủ vận GLP-1) được phân loại là thuốc "dựa trên hormone kích thích bởi chất dinh dưỡng" (NuSH).
Giảm cân, tác dụng lên các bệnh đi kèm và các tác dụng bất lợi khác nhau rất nhiều giữa các loại thuốc.
Bệnh nhân phải được cảnh báo rằng việc ngừng dùng thuốc chống béo phì lâu dài có thể dẫn đến tăng cân trở lại.
Các loại thuốc cụ thể bao gồm:
Orlistat
Phentermine
Phentermine/topiramate
Naltrexone/bupropion
Liraglutide
Semaglutide
Tirzepatide
Orlistat ức chế lipase tuyến tụy, giảm hấp thu chất béo ở ruột và cải thiện đường huyết và lipid. Vì thuốc orlistat không bị hấp thụ nên hiếm gặp các ảnh hưởng toàn thân. Đầy hơi, phân sống, và tiêu chảy là thông thường nhưng có khuynh hướng hết trong năm thứ hai của điều trị. Nên uống 3 lần mỗi ngày trong các bữa ăn có chất béo. Vitamin bổ sung nên được dùng ít nhất 2 giờ trước hoặc sau khi dùng orlistat. Kém hấp thu và ứ mật là chống chỉ định; hội chứng ruột kích thích và các rối loạn tiêu hóa khác có thể làm cho orlistat khó dung nạp. Orlistat có sẵn không cần kê đơn.
Phentermine là thuốc ức chế sự thèm ăn tác động lên hệ thần kinh trung ương. Các tác dụng bất lợi thường gặp bao gồm tăng huyết áp và nhịp tim, mất ngủ, lo âu và táo bón. Không nên sử dụng phentermine ở những bệnh nhân có rối loạn tim mạch từ trước, tăng huyết áp được kiểm soát kém, cường giáp hoặc có tiền sử rối loạn sử dụng chất gây nghiện. Dùng 2 lần/ngày có thể giúp kiểm soát sự thèm ăn tốt hơn suốt cả ngày.
Sự phối hợp giữa phentermine và topiramate (được sử dụng để điều trị các rối loạn co giật và đau nửa đầu) được phê duyệt để sử dụng lâu dài. Bởi vì có nguy cơ gây ra các khuyết tật bẩm sinh, phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ chỉ nên dùng hợp chất này nếu họ đang sử dụng phương pháp tránh thai và được kiểm tra hàng tháng xem có thai không. Các tác dụng bất lợi tiềm ẩn khác bao gồm táo bón, rối loạn giấc ngủ, suy giảm nhận thức, rối loạn vị giác và tăng nhịp tim. Dữ liệu dài hạn cho thấy có cải thiện tổng thể về các bệnh đồng mắc bao gồm cải thiện các biến số tim mạch và chuyển hóa (6).
Các viên nén phóng thích Naltrexone/bupropion kéo dài có thể được sử dụng như một chất giảm cân bổ sung. Naltrexone (được sử dụng để giúp cai rượu) là một chất đối kháng opioid và được cho là ngăn chặn phản hồi tiêu cực đối với các con đường cảm giác no trong não. Bupropion (được sử dụng để điều trị trầm cảm và hỗ trợ cai thuốc lá) có thể gây giảm ăn do hoạt động adrenergic và dopaminergic ở vùng dưới đồi. Các tác dụng bất lợi thường gặp nhất của bupropion bao gồm buồn nôn, nôn ói, nhức đầu và tăng nhẹ huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương. Chống chỉ định với bupropion bao gồm tăng huyết áp không kiểm soát được và có tiền sử hoặc có các yếu tố nguy cơ co giật vì bupropion làm giảm ngưỡng co giật.
Liraglutide là thuốc chủ vận thụ thể peptide 1 (GLP-1) giống glucagon được sử dụng ban đầu trong điều trị bệnh tiểu đường típ 2 (7). Liraglutide làm tăng giải phóng insulin trung gian glucose từ tụy để kiểm soát đường huyết; liraglutide cũng kích thích cảm giác no và giảm lượng thực phẩm ăn vào. Liraglutide được tiêm hàng ngày và chuẩn độ liều trong vòng 5 tuần. Các tác dụng bất lợi bao gồm buồn nôn và nôn; liraglutide có cảnh báo về nguy cơ viêm tụy cấp và u tế bào C tuyến giáp. Không nên sử dụng liraglutide cho bệnh nhân có tiền sử cá nhân hoặc tiền sử gia đình mắc ung thư tuyến giáp thể tủy hoặc hội chứng đa u nội tiết loại 2.
Semaglutide là một loại thuốc chủ vận thụ thể GLP-1 được phê duyệt để điều trị bệnh tiểu đường loại 2. Semaglutide làm tăng giải phóng insulin qua trung gian glucose và làm giảm cảm giác thèm ăn cũng như năng lượng tiêu thụ thông qua tác động lên các trung tâm thèm ăn ở vùng dưới đồi. Semaglutide 2,4 mg tiêm dưới da đã làm giảm trọng lượng cơ thể trung bình là 14,9% ở thời điểm 68 tuần so với 2,4% ở bệnh nhân được điều trị bằng giả dược (8). Bệnh nhân dùng semaglutide cũng có những cải thiện lớn hơn về các yếu tố nguy cơ tim mạch cũng như hoạt động thể chất theo báo cáo của bệnh nhân. Giống như liraglutide, các tác dụng bất lợi phổ biến nhất của semaglutide bao gồm buồn nôn và tiêu chảy, các tác dụng này thường thoáng qua và từ mức độ nhẹ đến mức độ trung bình. Các cảnh báo đối với semaglutide bao gồm nguy cơ bị khối u tế bào C tuyến giáp, hạ đường huyết và viêm tụy. Ngoài ra, không nên sử dụng thuốc này cho bệnh nhân có tiền sử cá nhân hoặc tiền sử gia đình mắc hội chứng đa u nội tiết loại 2 (MEN 2) hoặc ung thư tuyến giáp thể tủy.
Tirzepatide là dạng phối hợp giữa polypeptide ức chế dạ dày (GIP) và thuốc chủ vận GLP-1 được sử dụng để điều trị bệnh tiểu đường loại 2. Các thử nghiệm giai đoạn 3 đã chứng minh có giảm cân đáng kể và bền vững ở những bệnh nhân không mắc bệnh tiểu đường (9). Các cải thiện về bệnh tim mạch chuyển hóa cũng được ghi nhận (10). Thuốc này có thể gây viêm tụy, hạ đường huyết và có khả năng gây ra các khối u tế bào C của tuyến giáp (dựa trên dữ liệu trên động vật chứ không phải trên người) và không nên dùng cho bệnh nhân có tiền sử cá nhân hoặc tiền sử gia đình mắc ung thư tuyến giáp thể tủy hoặc hội chứng đa u nội tiết loại 2 (11).
Tất cả các thuốc chủ vận GLP-1 đều có liên quan đến các tác dụng bất lợi như buồn nôn, nôn và làm chậm quá trình làm rỗng dạ dày, có thể làm tăng nguy cơ bị hít sặc. Các triệu chứng này thường có xu hướng thuyên giảm theo thời gian. Trước đây, Lực lượng đặc nhiệm về nhịn ăn trước phẫu thuật của Hiệp hội Gây mê Hoa Kỳ khuyến nghị ngừng sử dụng thuốc chủ vận GLP-1 dùng hàng ngày vào ngày phẫu thuật và các loại thuốc dùng hàng tuần trước thời điểm phẫu thuật 1 tuần (12). Các hướng dẫn cập nhật hiện nay đề xuất rằng hầu hết bệnh nhân có thể tiếp tục dùng các loại thuốc này trước khi phẫu thuật với thời gian nhịn ăn kéo dài, cân nhắc giữa nguy cơ bị hít sặc và nguy cơ bị tăng đường huyết có khả năng xảy ra (13, 14).
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng thuốc chống béo phì có thể an toàn và hiệu quả để làm giảm cân sau phẫu thuật giảm béo nếu cân nặng tăng trở lại. Nghiên cứu về việc sử dụng thuốc chống béo phì (ví dụ: thuốc chủ vận thụ thể GLP-1) là một phương pháp điều trị tạm thời trước khi tiến hành phẫu thuật chuyển hóa và phẫu thuật giảm béo vẫn đang được tiến hành (15). Nhiều trung tâm cung cấp dịch vụ chăm sóc giảm cân toàn diện bao gồm cả điều trị nội khoa và ngoại khoa thông qua các chương trình đa ngành.
Hầu hết các phương pháp điều trị giảm cân không kê đơn đều không được khuyến nghị vì các phương pháp này chưa được chứng minh là có hiệu quả. Ví dụ về các phương pháp điều trị như vậy là brindleberry, L-Carnitine, chitosan, pectin, chiết xuất hạt nho, hạt dẻ ngựa, crom picolinate, fucus vesiculosus và ginkgo biloba. Một số (ví dụ, caffeine, ephedrine, guarana, phenylpropanolamine) có nhiều tác dụng bất lợi hơn là lợi ích của chúng. Ngoài ra, một số phương pháp điều trị này bị pha trộn hoặc chứa các chất có hại bị Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ cấm (ví dụ: cây ma hoàng, cam đắng, sibutramine).
Phẫu thuật
Phẫu thuật giảm béo là điều trị hiệu quả nhất cho bệnh nhân béo phì mức độ nặng.
Tài liệu tham khảo về điều trị
1. Arnett DK, Blumenthal RS, Albert, MA, et al. 2019 ACC/AHA guideline on the primary prevention of cardiovascular disease: A report of the American College of Cardiology/American Heart Association Task Force on Clinical Practice Guidelines. Circulation. 2019;140(11):e596-e646. doi: 10.1161/CIR.0000000000000678
2. Kim JY. Optimal Diet Strategies for Weight Loss and Weight Loss Maintenance. J Obes Metab Syndr. 2021;30(1):20-31. doi:10.7570/jomes20065
3. Mann T, Tomiyama AJ, Westling E, et al. Medicare's search for effective obesity treatments: Diets are not the answer. Am Psychol. 2007;62(3):220–233. doi: 10.1037/0003-066X.62.3.220
4. US Preventive Services Task Force. Behavioral weight loss interventions to prevent obesity-related morbidity and mortality in adults. JAMA. 2018;320 (11):1163–1171. doi: 10.1001/jama.2018.13022
5. Garvey WT, Mechanick JI, Brett EM, et al. American Association of Clinical Endocrinologists and the American College of Endocrinology comprehensive clinical practice guidelines for medical care of patients with obesity. Endocr Pract. 2016;22 Suppl 3:1–203. doi: 10.4158/EP161365.GL
6. Garvey WT, Ryan DH, Look M, et al. Two-year sustained weight loss and metabolic benefits with controlled-release phentermine/topiramate in obese and overweight adults (SEQUEL): a randomized, placebo-controlled, phase 3 extension study. Am J Clin Nutr. 2012;95(2):297-308. doi:10.3945/ajcn.111.024927
7. Mehta A, Marso SP, Neeland, IJ. Liraglutide for weight management: A critical review of the evidence. Obes Sci Pract. 2017;3(1):3–14. doi: 10.1002/osp4.84
8. Wilding JPH, Batterham RL, Calanna S, et al. Once-weekly semaglutide in adults with overweight or obesity. N Engl J Med. 2021;18;384(11):989. doi: 10.1056/NEJMoa2032183
9. Aronne LJ, Sattar N, Horn DB, et al. Continued Treatment With Tirzepatide for Maintenance of Weight Reduction in Adults With Obesity: The SURMOUNT-4 Randomized Clinical Trial. JAMA. 2024;331(1):38-48. doi:10.1001/jama.2023.24945
10. Jastreboff AM, Aronne LJ, Ahmad NN, et al. Tirzepatide once weekly for the treatment of obesity. N Engl J Med. 2022;21;387 (3):205–216. doi: 10.1056/NEJMoa2206038
11. Bezin J, Gouverneur A, Pénichon M, et al. GLP-1 Receptor Agonists and the Risk of Thyroid Cancer. Diabetes Care. 2023;46(2):384-390. doi:10.2337/dc22-1148
12. Joshi GP, Abdelmalak BB, Weigel WA, et al. American Society of Anesthesiologists consensus-based guidance on preoperative management of patients (adults and children) on glucagon-like peptide-1 (GLP-1) receptor agonists. American Society of Anesthesiologists 2023.
13. El-Boghdadly K, Dhesi J, Fabb P, et al. Elective peri-operative management of adults taking glucagon-like peptide-1 receptor agonists, glucose-dependent insulinotropic peptide agonists and sodium-glucose cotransporter-2 inhibitors: a multidisciplinary consensus statement: A consensus statement from the Association of Anaesthetists, Association of British Clinical Diabetologists, British Obesity and Metabolic Surgery Society, Centre for Perioperative Care, Joint British Diabetes Societies for Inpatient Care, Royal College of Anaesthetists, Society for Obesity and Bariatric Anaesthesia and UK Clinical Pharmacy Association. Anaesthesia. 2025;80(4):412-424. doi:10.1111/anae.16541
14. Kindel TL, Wang AY, Wadhwa A, et al. Multisociety clinical practice guidance for the safe use of glucagon-like peptide-1 receptor agonists in the perioperative period. Surg Obes Relat Dis. 2024;20(12):1183-1186. doi:10.1016/j.soard.2024.08.033
15. Mok J, Mariam OA, Brown A, et al. Safety and efficacy of liraglutide, 3,0 mg, once daily vs placebo in patients with poor weight loss following metabolic surgery: The BARI-OPTIMISE randomized clinical trial. JAMA Surg. 2023;158(10):1003–1011. doi:10.1001/jamasurg.2023.2930
Quần thể đặc biệt béo phì
Béo phì là mối quan tâm đặc biệt ở trẻ em và người trưởng thành.
Trẻ em
Béo phì ở trẻ em được định nghĩa là chỉ số BMI lớn hơn phân vị thứ 95. Đối với trẻ béo phì, các biến chứng dễ phát triển hơn vì thời gian mắc bệnh kéo dài hơn. Nhiều trẻ em và thanh thiếu niên thuộc nhóm thừa cân hoặc béo phì. (Xem thêm Béo phì ở thanh thiếu niên.) Tương tự như người lớn, các biến chứng liên quan đến béo phì ở trẻ em bao gồm tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, tiểu đường và các vấn đề về khớp.
Các yếu tố nguy cơ của béo phì ở trẻ sơ sinh là nhẹ cân lúc sinh (1) và mẹ bị béo phì, bệnh tiểu đường và hút thuốc.
Sau tuổi dậy thì, thực phẩm đưa vào tăng; ở trẻ trai, lượng calo dư thừa được sử dụng để tăng sự lắng đọng protein, nhưng ở trẻ gái, dự trữ chất béo tăng.
Đối với trẻ em béo phì, các biến chứng về tâm lý (ví dụ: lòng tự trọng thấp, khó khăn trong giao tiếp xã hội, trầm cảm) và các biến chứng về cơ xương khớp có thể phát sinh sớm. Một số biến chứng về cơ xương, chẳng hạn như trượt đầu trên xương đùi, đặc trưng ở trẻ em. Các biến chứng sớm khác có thể bao gồm ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn, kháng insulin, tăng lipid máu và bệnh gan nhiễm mỡ liên quan đến rối loạn chuyển hóa (MASLD) (trước đây gọi là viêm gan nhiễm mỡ không do rượu). Nguy cơ biến chứng tim mạch, hô hấp, chuyển hóa, gan, và các biến chứng liên quan đến béo phì khác tăng lên khi những trẻ em này trưởng thành.
Nguy cơ béo phì kéo dài đến tuổi trưởng thành phụ thuộc một phần vào thời điểm béo phì phát sinh lần đầu tiên. Trong một phân tích tổng hợp của một số nghiên cứu đoàn hệ lớn, 55% số trẻ em béo phì tiếp tục béo phì ở tuổi thiếu niên và 70% số trẻ em béo phì tiếp tục béo phì ở tuổi 30 (2).
Điều trị béo phì ở trẻ em và thanh thiếu niên bao gồm thay đổi lối sống và, đối với trẻ em bị bệnh béo phì nặng, phẫu thuật chuyển hóa và phẫu thuật giảm béo. Tham gia vào các hoạt động thể chất trong thời thơ ấu có thể thúc đẩy một lối sống năng động suốt đời. Hạn chế các hoạt động tĩnh tại (ví dụ, xem TV, sử dụng máy tính hoặc thiết bị cầm tay) có thể giúp ích. Tránh dùng thuốc và phẫu thuật nhưng nếu biến chứng của bệnh béo phì đe dọa tính mạng thì có thể bảo đảm việc này.
Các biện pháp kiểm soát cân nặng và phòng ngừa béo phì ở trẻ em có thể có các lợi ích lớn nhất cho sức khỏe cộng đồng. Các biện pháp nên được thực hiện trong gia đình, trường học và chăm sóc ban đầu. Tuy nhiên, việc điều chỉnh lối sống thường không dẫn đến giảm cân vĩnh viễn.
Hướng dẫn từ Viện Hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ (AAP) khuyến nghị rằng trẻ em và thanh thiếu niên bị bệnh béo phì nặng (theo định nghĩa là chỉ số BMI ≥ 40 hoặc BMI > 35 kèm theo các biến chứng sức khỏe nghiêm trọng liên quan đến béo phì) nên được điều trị bằng phẫu thuật chuyển hóa và phẫu thuật giảm béo và việc điều trị cần phải có sự tham gia của một nhóm đa ngành. Các hiệp hội phẫu thuật chuyển hóa và giảm béo lớn đều có những khuyến nghị tương tự; tuy nhiên, phẫu thuật chuyển hóa và giảm béo không thường được sử dụng ở trẻ em và thanh thiếu niên. Các rào cản bao gồm sự kỳ thị đối với phẫu thuật giảm béo ở quần thể này và thiếu các trung tâm và bác sĩ lâm sàng được đào tạo để chăm sóc trẻ em và thanh thiếu niên mắc bệnh béo phì (3).
Người cao tuổi
Tại Hoa Kỳ, tỷ lệ người cao tuổi bị béo phì đang ngày càng tăng.
Với tuổi già, mỡ cơ thể tăng và được tái phân bố vào vùng bụng, và khối lượng cơ bị mất, ở mức lớn, bởi vì không hoạt động thể chất, nhưng giảm hormone nam và hormone tăng trưởng (được đồng hóa) và các cytokines viêm sinh ra khi béo phì có thể đóng một vai trò.
Nguy cơ bị các biến chứng phụ thuộc vào:
Sự phân bố mỡ cơ thể (tăng chủ yếu là mỡ phân bố ở vùng bụng)
Khoảng thời gian và mức độ nghiêm trọng của béo phì
Liên quan thiếu cơ
Tăng vòng bụng, đề xuất phân bố mỡ bụng, dự đoán tỉ lệ mắc bệnh (ví dụ, tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh động mạch vành) và nguy cơ tử vong tốt hơn ở người cao tuổi so với BMI. Với sự già hóa, chất béo có xu hướng tích nhiều hơn trong vùng eo.
Đối với người lớn tuổi, bác sĩ có thể khuyến nghị giảm lượng calo nạp vào và tăng hoạt động thể chất. Tuy nhiên, nếu những bệnh nhân lớn tuổi mong muốn giảm đáng kể lượng calo đưa vào, chế độ ăn của họ nên được bác sĩ giám sát. Hoạt động thể chất cũng cải thiện sức mạnh cơ, tính dẻo dai, sức khỏe tổng thể và giảm nguy cơ phát triển các rối loạn mạn tính như đái tháo đường. Hoạt động nên bao gồm các bài tập tăng cường sức mạnh, giữ thăng bằng và sức bền.
Phẫu thuật chuyển hóa và giảm béo trước đây ít được sử dụng hơn ở những bệnh nhân cao tuổi. Trong một nghiên cứu hồi cứu lớn so sánh kết quả ở bệnh nhân < 65 tuổi với bệnh nhân ≥ 65 tuổi được phẫu thuật cắt tạo hình dạ dày hình ống hoặc nối tắt dạ dày, tỷ lệ biến chứng giữa các nhóm là tương tự nhau. Mặc dù ở thời điểm ban đầu, những bệnh nhân cao tuổi có xu hướng có điểm số của Hiệp hội Gây mê Hoa Kỳ (American Society of Anesthesiologists, ASA) cao hơn và có nhiều bệnh đi kèm hơn, nhưng tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong sau phẫu thuật không khác nhau giữa các nhóm. Ở nhóm ≥ 65 tuổi, đã có tác động tích cực của phẫu thuật giảm béo đối với việc giảm cân và các bệnh đi kèm liên quan đến béo phì nhưng ít rõ rệt hơn so với nhóm < 65 tuổi. Nhìn chung, dữ liệu cho thấy rằng không nên coi tuổi tác là yếu tố chống chỉ định duy nhất đối với phẫu thuật chuyển hóa và giảm béo (4).
Tài liệu tham khảo về quần thể đặc biệt
1. Jornayvaz FR, Vollenweider P, Bochud M, et al. Low birth weight leads to obesity, diabetes and increased leptin levels in adults: The CoLaus study. Cardiovasc Diabetol. 2016;15:73. doi: 10.1186/s12933-016-0389-2
2. Simmonds M, Llewellyn A, Owen ACG, Woolacott N. Predicting adult obesity from childhood obesity: A systematic review and meta-analysis. Obes Rev. 2016;17(2):95–107. doi: 10.1111/obr.12334 Xuất bản điện tử ngày 23 tháng 12 năm 2015.
3. Elkhoury D, Elkhoury C, Gorantla VR. Improving access to child and adolescent weight loss surgery: A review of updated National and International Practice Guidelines. Cureus. 2023;15 (4):e38117. doi: 10.7759/cureus.38117
4. Iranmanesh P, Boudreau V, Ramji K, et al. Outcomes of bariatric surgery in elderly patients: A registry-based cohort study with 3-year follow-up. Int J Obes (Lond). 2022;46(3):574-580. doi:10.1038/s41366-021-01031-w
Tiên lượng về béo phì
Nếu không được điều trị, béo phì sẽ có xu hướng tiến triển. Xác suất và mức độ nặng của các biến chứng tỷ lệ thuận với:
Khối lượng chất béo tuyệt đối
Sự phân bố chất béo
Khối lượng cơ tuyệt đối
Sau khi giảm cân, trong vòng 5 năm hầu hết mọi người quay trở lại trọng lượng của họ trước khi điều trị, và do đó, béo phì đòi hỏi một chương trình quản lý suốt đời tương tự như các rối loạn mạn tính khác. Ngoài ra, khi ngừng dùng thuốc chống béo phì, bệnh nhân có xu hướng tăng cân trở lại.
Phòng ngừa béo phì
Hoạt động thể lực đều đặn và ăn lành mạnh cải thiện sức khoẻ tổng thể, ngăn ngừa đái tháo đường và béo phì. Ngay cả khi không giảm cân, tập luyện làm giảm nguy cơ rối loạn tim mạch. Chế độ ăn chất xơ giảm nguy cơ ung thư đại tràng và các rối loạn tim mạch.
Ngủ tốt và có chất lượng, quản lý căng thẳng và giảm lượng cồn đưa vào cũng rất quan trọng. Tuy nhiên, nhiều yếu tố sinh học và kinh tế xã hội nằm ngoài tầm kiểm soát của con người.
Nếu có thể, bệnh nhân nên tránh các loại thuốc có liên quan đến tăng cân. Các loại thuốc thường gây tăng cân bao gồm một số thuốc chống loạn thần (ví dụ: risperidone, lithium, quetiapine, olanzapine), thuốc chống trầm cảm (ví dụ: citalopram, duloxetine), thuốc hỗ trợ giấc ngủ (ví dụ: zolpidem, trazodone), thuốc chống co giật (ví dụ: gabapentin) và glucocorticoid.
Những điểm chính
Béo phì làm tăng nguy cơ mắc nhiều vấn đề sức khỏe phổ biến và gây ra tới 300.000 ca tử vong sớm mỗi năm ở Hoa Kỳ, khiến cho tình trạng này, chỉ đứng sau hút thuốc lá, là nguyên nhân gây tử vong có thể phòng ngừa được.
Lượng calo đưa vào quá mức và ít hoạt động thể chất góp phần lớn vào sự béo phì, nhưng tính nhạy cảm di truyền và các rối loạn khác nhau (bao gồm rối loạn ăn) cũng có thể góp phần.
Sàng lọc những bệnh nhân qua chỉ số BMI và đo chu vi vòng eo và, khi có chỉ định phân tích thành phần cơ thể, bằng cách đo độ dày lớp mỡ dưới da hoặc sử dụng phân tích trở kháng điện sinh học.
Sàng lọc bệnh nhân béo phì để phát hiện các rối loạn phổ biến đi kèm, chẳng hạn như ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn, tiểu đường, rối loạn lipid máu, tăng huyết áp, bệnh gan nhiễm mỡ và trầm cảm.
Động viên bệnh nhân giảm thậm chí từ 5 đến 10% trọng lượng cơ thể bằng cách thay đổi chế độ ăn của họ, tăng hoạt động thể lực và sử dụng các can thiệp hành vi nếu có thể.
Cân nhắc dùng thuốc chống béo phì nếu BMI ≥ 30 hoặc nếu BMI ≥ 27 kèm theo các biến chứng (ví dụ: tăng huyết áp, kháng insulin); tuy nhiên, đối với béo phì nặng, phẫu thuật là hiệu quả nhất.
Động viên tất cả bệnh nhân luyện tập, ăn lành mạnh, ngủ đủ giấc, và quản lý căng thẳng.
