Hội chứng suy hô hấp ở trẻ sơ sinh

(Bệnh Màng Hyaline) Bệnh màng trong

TheoArcangela Lattari Balest, MD, University of Pittsburgh, School of Medicine
Xem xét bởiAlicia R. Pekarsky, MD, State University of New York Upstate Medical University, Upstate Golisano Children's Hospital
Đã xem xét/Đã chỉnh sửa đã sửa đổi Thg 9 2025
v1089937_vi

Hội chứng suy hô hấp là do thiếu hụt hoặc bất hoạt chất hoạt động bề mặt phổi ở trẻ sơ sinh, thường gặp nhất ở trẻ sinh non. Yếu tố nguy cơ gia tăng với mức độ non tháng. Các triệu chứng và dấu hiệu bao gồm thở rên, co kéo cơ hô hấp, sử dụng cơ hô hấp phụ, cánh mũi phập phồng sớm ngay sau sinh. Chẩn đoán sau sinh bao gồm lâm sàng và chụp X-quang. Điều trị bao gồm liệu pháp chất hoạt động bề mặt, hỗ trợ hô hấp khi cần thiết và các biện pháp ngăn ngừa sự phát triển của loạn sản phế quản phổi sau này.

(Xem thêm Tổng quan các rối loạn hô hấp chu sinh.)

Sự mở rộng thay đổi sinh lý đi kèm với quá trình sinh đẻ, đôi khi làm biểu hiện những dấu hiệu không có vấn đề gì khi ở trong tử cung. Vì lý do đó, một bác sĩ lâm sàng có kỹ năng hồi sức sơ sinh cần phải tham gia vào mỗi ca sinh. Tuổi thaicác tham số tăng trưởng giúp xác định nguy cơ bệnh lý sơ sinh.

Nguyên nhân của hội chứng suy hô hấp ở trẻ sơ sinh

Chất hoạt động bề mặt không được sản sinh ra với số lượng đầy đủ cho đến giai đoạn tương đối muộn của thai kỳ (tuần 34 đến 36); do đó, nguy cơ bị hội chứng suy hô hấp (RDS) tăng lên khi tuổi thai giảm dần. Mặc dù thường là bệnh của trẻ sinh non, ngay cả trẻ sinh đủ tháng (37 tuần đến 38 tuần 6 ngày) cũng có nguy cơ bị RDS cao hơn trẻ sinh ở tuần thứ 39 của thai kỳ hoặc muộn hơn (1).

Trẻ sơ sinh trưởng thành hơn cũng có thể bị thiếu hụt chất hoạt động bề mặt do đột biến ở gen mã hóa các protein là chất hoạt động bề mặt hoặc các protein cần thiết cho quá trình gắn kết và vận chuyển chất hoạt động bề mặt (gen protein chất hoạt động bề mặt [SP-BSP-C] và gen vận chuyển cassette gắn kết ATP A3 [ABCA3] hoặc bệnh của mẹ như tiểu đường (loại 1, loại 2 hoặc tiểu đường thai kỳ) (1, 2).

Các yếu tố nguy cơ khác đã được báo cáo đối với RDS bao gồm tuổi mẹ cao, đau tử cung, sinh mổ và giới tính nam (3, 4).

Tài liệu tham khảo về căn nguyên

  1. 1. Yildiz Atar H, Baatz JE, Ryan RM. Molecular Mechanisms of Maternal Diabetes Effects on Fetal and Neonatal Surfactant. Children (Basel). 2021;8(4):281. Xuất bản ngày 6 tháng 4 năm 2021. doi:10.3390/children8040281

  2. 2. Nogee LM. Genetic causes of surfactant protein abnormalities. Curr Opin Pediatr. 2019;31(3):330-339. doi:10.1097/MOP.0000000000000751

  3. 3. Gould AJ, Ding JJ, Recabo O, et al. Risk factors for respiratory distress syndrome among high-risk early-term and full-term deliveries. J Matern Fetal Neonatal Med. 2022;35(26):10401-10405. doi:10.1080/14767058.2022.2128657

  4. 4. Dani C, Reali MF, Bertini G, et al. Risk factors for the development of respiratory distress syndrome and transient tachypnoea in newborn infants. Italian Group of Neonatal Pneumology. Eur Respir J. 1999;14(1):155-159. doi:10.1034/j.1399-3003.1999.14a26.x

Sinh lý bệnh của hội chứng suy hô hấp ở trẻ sơ sinh

Chất hoạt động bề mặt phổi là hỗn hợp phospholipid và lipoprotein do các tế bào phổi loại II tiết ra (xem Chức năng phổi ở trẻ sơ sinh). Nó làm giảm sức căng bề mặt của màng nước phủ các phế nang, do đó làm giảm xu hướng xẹp lại của các phế nang và giảm các hoạt động cần thiết để làm giãn nở phế nang.

Khi thiếu chất surfactant, cần phải có áp suất lớn hơn để mở các phế nang. Nếu không có áp suất đưởng thở đủ lớn, các phế nang sẽ bị xẹp lan toả, khởi động quá trình viêm và phù phổi. Vì máu đi qua các phần phổi phế nang bị xẹp sẽ không được oxy hóa (hình thành một dòng shunt phải - trái trong phổi), trẻ sẽ bị thiếu oxy máu. Độ đàn hồi của phổi giảm, do đó làm tăng công thở. Trong những trường hợp nặng, cơ hoành và cơ liên sườn bị mỏi, dẫn đến giảm thông khí, giữ lại carbon dioxide và nhiễm toan hô hấp.

Các biến chứng của RDS

Các biến chứng của RDS bao gồm tràn khí màng phổi và các hội chứng rò rỉ không khí khác, xuất huyết nội sọ, loạn sản phế quản phổi, nhiễm trùng huyếtviêm phổi và tử vong (1, 2).

Tài liệu tham khảo về sinh bệnh học

  1. 1. Sun H, Xu F, Xiong H, et al. Characteristics of respiratory distress syndrome in infants of different gestational ages. Lung. 2013;191(4):425-433. doi:10.1007/s00408-013-9475-3

  2. 2. Ogata ES, Gregory GA, Kitterman JA, Phibbs RH, Tooley WH. Pneumothorax in the respiratory distress syndrome: incidence and effect on vital signs, blood gases, and pH. Pediatrics. 1976;58(2):177-183.

Triệu chứng và dấu hiệu của hội chứng suy hô hấp ở trẻ sơ sinh

Các triệu chứng RDS dấu hiệu bao gồm thở nhanh, thở rên, gắng sức xuất hiện ngay lập tức hoặc trong vòng vài giờ sau khi sinh, với rút lõm hõm ức, rút lõm lồng ngực, cánh mũi phập phồng. Khi xẹp phổi và suy hô hấp tiến triển, các triệu chứng trở nên trầm trọng hơn, xuất hiện tím, li bì, thở không đều, ngưng thở, và cuối cùng dẫn đến suy tim nếu phổi không đủ khả năng giãn nở, thông khí và trao đổi oxy.

Trẻ sơ sinh có cân nặng < 1000 g có thể có phổi không đủ khỏe nên không thể bắt đầu hoặc duy trì hô hấp trong phòng sinh.

Khi khám, âm thanh hơi thở giảm và có thể nghe thấy tiếng ran nổ.

Chẩn đoán hội chứng suy hô hấp ở trẻ sơ sinh

  • Khí máu động mạch (hạ oxy máu và tăng CO2 máu)

  • Chụp X-quang ngực

  • Cấy máu, dịch não tủy và cấy dịch hút khí quản

Chẩn đoán RDS dựa trên biểu hiện lâm sàng, bao gồm nhận biết các yếu tố nguy cơ; khí máu động mạch hoặc khí máu mao mạch cho thấy tình trạng hạ oxy máu và tăng CO2 máu; và phim chụp X-quang ngực. Phim chụp X-quang ngực cho thấy tình trạng xẹp phổi lan tỏa được mô tả theo cách cổ điển là có hình ảnh kính mờ với hình ảnh chụp phế quản có bóng khí có thể nhìn thấy và phổi giãn nở ít; hình ảnh này có mối liên quan không chắc chắn đến mức độ nặng trên lâm sàng.

Chẩn đoán phân biệt bao gồm:

Trẻ sơ sinh thường cần phải cấy máu. Nuôi cấy dịch não tủy không được thực hiện thường quy sau khi sinh vì tỷ lệ bị viêm màng não liên quan đến nhiễm trùng huyết khởi phát sớm ở mức thấp, nhưng có thể thực hiện trong một số trường hợp nhất định (ví dụ: nuôi cấy máu dương tính với trực khuẩn gram âm, lo ngại về nhiễm trùng huyết khởi phát muộn) (1). Về mặt lâm sàng, viêm phổi do liên cầu khuẩn nhóm B rất khó phân biệt với RDS; do đó, cần bắt đầu dùng kháng sinh theo kinh nghiệm trong khi chờ các kết quả nuôi cấy.

Sàng lọc

Kiểm tra độ trưởng thành của phổi thai nhi qua nước ối, trước đây được dùng để dự đoán khả năng bị RDS, không được khuyến nghị để đưa ra quyết định về việc sinh nở trong bất kỳ tình huống lâm sàng nào. Đặc biệt, kết quả xét nghiệm có nguy cơ thấp không phải là dấu hiệu cho việc sinh nở theo ý muốn trước 39 tuần tuổi thai (2, 3).

Tài liệu tham khảo về chẩn đoán

  1. 1. Srinivasan L, Harris MC, Shah SS. Lumbar puncture in the neonate: Challenges in decision making and interpretation. Semin Perinatol. 2012;36(6):445–453. doi:10.1053/j.semperi.2012.06.007

  2. 2. Johnson LM, Johnson C, Karger AB. End of the line for fetal lung maturity testing. Clin Biochem. 2019;71:74-76. doi:10.1016/j.clinbiochem.2019.07.003

  3. 3. ACOG Committee Opinion No. 765: Avoidance of Nonmedically Indicated Early-Term Deliveries and Associated Neonatal Morbidities. Obstet Gynecol. 2019;133(2):e156-e163. doi:10.1097/AOG.0000000000003076

Điều trị hội chứng suy hô hấp ở trẻ sơ sinh

  • Chất hoạt động bề mặt nếu có chỉ định

  • O2 hỗ trợ khi cần thiết

  • Hỗ trợ thông khí khi cần thiết, ưu tiên các chiến lược không xâm lấn

Phương pháp điều trị đặc hiệu cho RDS là liệu pháp chất hoạt động bề mặt. Liệu pháp này có thể được thực hiện qua đường nội khí quản bằng ống nội khí quản, nhưng việc đưa chất hoạt động bề mặt ít xâm lấn (LISA) qua một ống thông nhỏ được đưa vào khí quản cũng được chấp nhận. Chất hoạt động bề mặt cũng có thể được đưa vào qua đường thở qua mặt nạ trên thanh môn hoặc mặt nạ thanh quản (1–3).

Chất hoạt động bề mặt giúp đẩy nhanh quá trình phục hồi và giảm nguy cơ tràn khí màng phổi, khí phế thũng kẽ phổi, xuất huyết não thất, loạn sản phế quản phổi và tử vong ở trẻ sơ sinh tại bệnh viện và ở độ tuổi 1 tuổi (4). Các phương án thay thế chất hoạt động bề mặt bao gồm các sản phẩm có nguồn gốc từ bò và lợn cũng như các sản phẩm tổng hợp.

Chất hoạt động bề mặt có thể được sử dụng để dự phòng (ví dụ: dùng cho tất cả trẻ sơ sinh dưới một độ tuổi thai nhất định) hoặc có chọn lọc (ví dụ: chỉ dùng cho trẻ sơ sinh cần đặt nội khí quản). Tiêu chuẩn dùng thuốc rất cụ thể theo từng trung tâm.

Các kỹ thuật thông khí ít xâm lấn hơn, chẳng hạn như áp lực đường thở dương liên tục (CPAP) qua mũi hoặc thông khí áp lực dương không xâm lấn hoặc gián đoạn qua mũi (NIPPV), được ưu tiên vì giảm nguy cơ tử vong và phát sinh tình trạng loạn sản phế quản phổi, ngay cả ở trẻ sinh rất non tháng (1, 2, 5–7). Tuy nhiên, một số trẻ vẫn cần thở máy để có đủ thông khí và/hoặc oxy hóa.

Độ đàn hồi của phổi có thể cải thiện nhanh chóng sau khi điều trị. Nếu trẻ sơ sinh được thở máy, áp lực hít vào tối đa của máy thở có thể cần phải giảm nhanh chóng để giảm nguy cơ rò rỉ không khí vào phổi. Các thông số khác của máy thở (ví dụ: tỷ lệ oxy hít vào [FiO2], nhịp thở) cũng có thể cần phải giảm.

Tài liệu tham khảo về điều trị

  1. 1. Durlak W, Thébaud B. BPD: Latest Strategies of Prevention and Treatment. Neonatology. 2024;121(5):596-607. doi:10.1159/000540002

  2. 2. Abiramalatha T, Ramaswamy VV, Bandyopadhyay T, et al. Interventions to Prevent Bronchopulmonary Dysplasia in Preterm Neonates: An Umbrella Review of Systematic Reviews and Meta-analyses. JAMA Pediatr. 2022;176(5):502-516. doi:10.1001/jamapediatrics.2021.6619

  3. 3. Kakkilaya V, Gautham KS. Should less invasive surfactant administration (LISA) become routine practice in US neonatal units?. Pediatr Res. 2023;93(5):1188-1198. doi:10.1038/s41390-022-02265-8

  4. 4. Challis P, Nydert P, Håkansson S, Norman M. Association of Adherence to Surfactant Best Practice Uses With Clinical Outcomes Among Neonates in Sweden. JAMA Netw Open. 2021;4(5):e217269. Xuất bản ngày 3 tháng 5 năm 2021. doi:10.1001/jamanetworkopen.2021.7269

  5. 5. Mahmoud RA, Schmalisch G, Oswal A, Christoph Roehr C. Non-invasive ventilatory support in neonates: An evidence-based update. Paediatr Respir Rev. 2022;44:11-18. doi:10.1016/j.prrv.2022.09.001

  6. 6. Blennow M, Bohlin K. Surfactant and noninvasive ventilation. Neonatology. 2015;107(4):330–336. doi:10.1159/000381122

  7. 7. Chen IL, Chen HL. New developments in neonatal respiratory management. Pediatr Neonatol. 2022;63(4):341-347. doi:10.1016/j.pedneo.2022.02.002

Tiên lượng hội chứng suy hô hấp ở trẻ sơ sinh

Tiên lượng khi có điều trị tốt; tỷ lệ tử vong ở Hoa Kỳ là khoảng 6% vào năm 2014 (1). Với sự hỗ trợ thông khí đầy đủ, chất surfactant dần dần sẽ bắt đầu được sản xuất và một khi sản xuất bắt đầu, RDS sẽ phục hồi trong vòng 4 hoặc 5 ngày. Tuy nhiên, trong thời gian đó, thiếu O2 máu trầm trọng có thể dẫn đến suy đa tạng và tử vong.

Mức độ sinh non càng cao thì nguy cơ bị loạn sản phế quản phổi (bệnh phổi mạn tính ở trẻ sinh non) càng cao (2).

Tài liệu tham khảo về tiên lượng

  1. 1. Donda K, Vijayakanthi N, Dapaah-Siakwan F, Bhatt P, Rastogi D, Rastogi S. Trends in epidemiology and outcomes of respiratory distress syndrome in the United States. Pediatr Pulmonol. 2019;54(4):405-414. doi:10.1002/ppul.24241

  2. 2. Sun H, Xu F, Xiong H, et al. Characteristics of respiratory distress syndrome in infants of different gestational ages. Lung. 2013;191(4):425-433. doi:10.1007/s00408-013-9475-3

Phòng ngừa hội chứng suy hô hấp ở trẻ sơ sinh

Khi thai nhi phải chào đời trước 34 tuần tuổi thai, việc cho bệnh nhân mang thai dùng betamethasone hoặc dexamethasone trước khi sinh sẽ kích thích sản sinh ra chất hoạt động bề mặt ở thai nhi và làm giảm nguy cơ bị RDS hoặc làm giảm mức độ nặng của bệnh (1). (Xem Chuyển dạ sinh non.)

Trẻ sơ sinh sinh ra ở tuần thai < 30 tuần, đặc biệt là những trẻ không được tiếp xúc với glucocorticoid trước khi sinh, có nguy cơ cao bị RDS. Cùng với các chiến lược thông khí không xâm lấn, bao gồm CPAP, liệu pháp chất hoạt động bề mặt chọn lọc sớm (được cung cấp trong vòng 1 đến 2 tiếng sau khi sinh cho trẻ sơ sinh có các dấu hiệu của RDS) có vẻ vượt trội hơn về mặt hiệu quả và tác dụng bất lợi so với việc sử dụng chất hoạt động bề mặt dự phòng phổ biến chỉ dựa trên tuổi thai (2–6).

Tài liệu tham khảo về phòng ngừa

  1. 1. McGoldrick E, Stewart F, Parker R, Dalziel SR. Antenatal corticosteroids for accelerating fetal lung maturation for women at risk of preterm birth. Cochrane Database Syst Rev. 2020;12(12):CD004454. Xuất bản ngày 25 tháng 12 năm 2020. doi:10.1002/14651858.CD004454.pub4

  2. 2. Abiramalatha T, Ramaswamy VV, Bandyopadhyay T, et al. Interventions to Prevent Bronchopulmonary Dysplasia in Preterm Neonates: An Umbrella Review of Systematic Reviews and Meta-analyses. JAMA Pediatr. 2022;176(5):502-516. doi:10.1001/jamapediatrics.2021.6619

  3. 3. Murphy MC, Miletin J, Klingenberg C, et al. Prophylactic Oropharyngeal Surfactant for Preterm Newborns at Birth: A Randomized Clinical Trial. JAMA Pediatr. 2024;178(2):117-124. doi:10.1001/jamapediatrics.2023.5082

  4. 4. Dargaville PA, Kamlin COF, Orsini F, et al. Effect of Minimally Invasive Surfactant Therapy vs Sham Treatment on Death or Bronchopulmonary Dysplasia in Preterm Infants With Respiratory Distress Syndrome: The OPTIMIST-A Randomized Clinical Trial. JAMA. 2021;326(24):2478-2487. doi:10.1001/jama.2021.21892

  5. 5. Göpel W, Rausch TK, Mitschdörfer B, et al. A randomised controlled trial in preterm infants comparing prophylactic with selective "less invasive surfactant administration" (pro.LISA). Trials. 2023;24(1):612. Xuất bản ngày 26 tháng 9 năm 2023. doi:10.1186/s13063-023-07603-7

  6. 6. Rojas-Reyes MX, Morley CJ, Soll R. Prophylactic versus selective use of surfactant in preventing morbidity and mortality in preterm infants. Cochrane Database Syst Rev. 2012;2012(3):CD000510. Xuất bản ngày 14 tháng 3 năm 2012. doi:10.1002/14651858.CD000510.pub2

Những điểm chính

  • Hội chứng suy hô hấp (RDS) là do thiếu hụt chất hoạt động bề mặt phổi, thường xảy ra ở trẻ sơ sinh sinh non; tình trạng thiếu hụt trở nên trầm trọng hơn khi trẻ sinh non.

  • Khi thiếu surfactant, các phế nang bị đóng hoặc không mở được, và phổi bị xẹp lan toả, gây viêm và phù phổi.

  • Ngoài gây suy hô hấp, RDS còn làm tăng nguy cơ bị xuất huyết não thất, tràn khí màng phổi áp lực, loạn sản phế quản phổi, nhiễm trùng huyết và viêm phổi, cũng như tử vong.

  • Chẩn đoán lâm sàng và chụp X-quang ngực; loại trừ viêm phổi và nhiễm trùng huyết bằng các nuôi cấy thích hợp.

  • Hỗ trợ hô hấp khi cần thiết và điều trị bằng hỗ trợ thông khí không xâm lấn và chất hoạt động bề mặt (nếu có chỉ định).

  • Cho bệnh nhân mang thai dùng nhiều liều betamethasone hoặc dexamethasone nếu thời gian cho phép và phải sinh con trong khoảng từ tuần thứ 24 đến tuần thứ 34 của thai kỳ; glucocorticoid kích thích sản sinh ra chất hoạt động bề mặt ở thai nhi và giảm nguy cơ và/hoặc mức độ nặng của RDS.

quizzes_lightbulb_red
Test your KnowledgeTake a Quiz!