Theo dõi và xét nghiệm trên Bệnh nhân bị bệnh nặng

TheoCherisse Berry, MD, Rutgers Health, New Jersey Medical School
Xem xét bởiDavid A. Spain, MD, Department of Surgery, Stanford University
Đã xem xét/Đã chỉnh sửa đã sửa đổi Thg 10 2025
v924325_vi

Việc theo dõi bệnh nhân được hồi sức tích cực có thể không liên tục và dựa trên quan sát trực tiếp và khám thực thể, tần suất tùy thuộc vào tình trạng bệnh của bệnh nhân. Các loại theo dõi khác là theo dõi liên tục, do các thiết bị không xâm lấn (ví dụ: máy đo nồng độ oxy trong máu) hoặc xâm lấn (ví dụ: đường truyền trung tâm) đưa ra. Các thiết bị theo dõi thường phát ra báo động nếu phát hiện các thông số sinh lý bất thường. Mỗi khoa hồi sức tích cực (ICU) phải tuân theo các quy trình nghiêm ngặt để xác định việc theo dõi thích hợp nhằm đảm bảo ứng phó kịp thời với các báo động (1). Khi thiết bị hồi sức tích cực được cải tiến và số lượng cũng như tần suất báo động tăng lên, một hiện tượng gọi là "mệt mỏi vì báo động" đã được nhận ra, đó là việc nhân viên ở khoa hồi sức tích cực phải tiếp xúc quá nhiều với báo động, gây ra tình trạng mất nhạy cảm và dẫn đến bỏ lỡ báo động hoặc ứng phó chậm trễ (2).

Việc theo dõi thường bao gồm đo các sinh hiệu (nhiệt độ, huyết áp, mạch và nhịp thở), độ bão hòa oxy (thường bằng máy đo nồng độ oxy qua da), định lượng lượng dịch vào và ra, cân nặng hàng ngày cũng như các thông số khác dựa trên tình trạng lâm sàng (ví dụ: áp lực nội sọ, huyết áp động mạch phổi hoặc huyết áp tâm thu và tâm trương). Huyết áp có thể được ghi lại bằng máy đo huyết áp tự động hoặc có thể sử dụng ống thông động mạch để theo dõi huyết áp liên tục.

Tài liệu tham khảo chung

  1. 1. Sandau KE, Funk M, Auerbach A, et al. Update to Practice Standards for Electrocardiographic Monitoring in Hospital Settings: A Scientific Statement From the American Heart Association. Circulation. 2017;136(19):e273-e344. doi:10.1161/CIR.0000000000000527

  2. 2. Lewandowska K, Weisbrot M, Cieloszyk A, Mędrzycka-Dąbrowska W, Krupa S, Ozga D. Impact of Alarm Fatigue on the Work of Nurses in an Intensive Care Environment-A Systematic Review. Int J Environ Res Public Health. 2020;17(22):8409. Xuất bản ngày 13 tháng 11 năm 2020. doi:10.3390/ijerph17228409

Xét nghiệm máu

Bệnh nhân ở khoa hồi sức tích cực thường phải xét nghiệm máu hàng ngày. Nhìn chung, các xét nghiệm trong phòng thí nghiệm tập trung vào tình trạng lâm sàng và có thể bao gồm công thức máu (CBC), chức năng thận và chức năng gan và các chất điện giải (ví dụ: natri, kali, magie, photphat và canxi ion hóa) (1). Bệnh nhân đang được nuôi dưỡng qua đường tiêm truyền cần phải có theo dõi chức năng gan và hồ sơ đông máu để theo dõi bệnh về gan liên quan đến nuôi dưỡng qua đường tiêm truyền (2). Các xét nghiệm khác (ví dụ: nuôi cấy máu để phát hiện nhiễm trùng nghi ngờ) được thực hiện khi cần thiết. Tuy nhiên, việc lấy máu từ tĩnh mạch thường xuyên sẽ gây đau và có thể gây thiếu máu do nguyên nhân y khoa. Việc đặt ống thông tĩnh mạch trung tâm hoặc ống thông động mạch giúp lấy mẫu máu dễ dàng hơn mà không cần phải chích kim ở mạch máu ngoại biên nhiều lần, nhưng cần phải cân nhắc đến nguy cơ bị các biến chứng.

Có sẵn các thiết bị xét nghiệm tại giường cho một số xét nghiệm máu, cho phép xét nghiệm và có kết quả nhanh chóng ngay tại giường bệnh hoặc khoa của bệnh nhân (đặc biệt là ở khoa hồi sức tích cực, khoa cấp cứu và phòng phẫu thuật). Các xét nghiệm phổ biến bao gồm xét nghiệm sinh hóa máu, glucose, khí máu động mạch (ABG), CBC, các chất chỉ điểm sinh học về tim và xét nghiệm đông máu. Nhiều thiết bị này cho ra kết quả trong vòng < 2 phút và cần phải có < 0,5 mL máu.

Tài liệu tham khảo về xét nghiệm máu

  1. 1. Eaton KP, Levy K, Soong C, et al. Evidence-Based Guidelines to Eliminate Repetitive Laboratory Testing. JAMA Intern Med. 2017;177(12):1833-1839. doi:10.1001/jamainternmed.2017.5152

  2. 2. Nowak K. Parenteral Nutrition-Associated Liver Disease. Clin Liver Dis (Hoboken). 2020;15(2):59-62. doi:10.1002/cld.888

Theo dõi tim mạch

Việc theo dõi tim ở bệnh nhân hồi sức tích cực thường được thực hiện bằng hệ thống 3 dây dẫn; tín hiệu thường được truyền đến trạm theo dõi trung tâm bằng một máy phát vô tuyến nhỏ đeo trên người bệnh nhân. Các hệ thống tự động báo động khi phát hiện tần số và nhịp bất thường và lưu lại để kiểm tra sau đó.

Một số máy theo dõi tim mạch chuyên dụng theo dõi các thông số nâng cao hơn liên quan đến thiếu máu mạch vành, mặc dù lợi ích lâm sàng của chúng không rõ ràng. Các thông số này bao gồm theo dõi liên tục đoạn ST và biến thiên nhịp tim. Mất khả năng biến đổi nhịp tim bình thường báo hiệu tình trạng giảm hoạt động của thần kinh thực vật và có thể gây thiếu máu cục bộ động mạch vành và tăng nguy cơ bị tử vong.

Theo dõi ống thông động mạch phổi

Việc sử dụng ống thông động mạch phổi (PAC hoặc ống thông Swan-Ganz) có thể có lợi cho bệnh nhân ở khoa hồi sức tích cực có tình trạng huyết động không ổn định phức tạp, đặc biệt là ở những bệnh nhân suy tim. Ống thông có bóng ở đầu, di chuyển theo dòng máu, được đưa qua tĩnh mạch trung tâm qua tim phải lên động mạch phổi. Ống thông thường chứa một số cổng có thể theo dõi áp lực hoặc tiêm truyền dịch. Một số loại PAC mang một cảm biến để đo độ bão hòa oxy tĩnh mạch trung tâm. Dữ liệu từ PAC được sử dụng chủ yếu để xác định lưu lượng tim và tiền gánh. Tiền gánh được ước tính chủ yếu dựa vào áp lực động mạch phổi bít. Tuy nhiên, tiền gánh có thể xác định chính xác hơn bằng thể tích cuối tâm trương tâm thất phải, được đo bằng các cảm biến nhiệt đáp ứng nhanh với nhịp tim.

Việc sử dụng PAC theo thường quy chưa được chứng minh là có thể làm giảm tỷ lệ mắc bệnh và tử vong (1). Điều này có thể giải thích là do các biến chứng của liên quan đến PAC và do đọc sai kết quả thu được. Chính vì thế, nhiều bác sĩ cho rằng PAC, khi kết hợp với các dữ liệu đo được khách quan với lâm sàng, hỗ trợ điều trị nhất định cho các bệnh nhân bị bệnh nặng. Giống như nhiều kỹ thuật đo chức năng sống, giá trị thay đổi theo thời gian thường có ý nghĩa hơn một giá trị bất thường đơn độc. Các chỉ định có thể của PAC được liệt kê trong bảng .

Bảng

Thủ thuật

Ống thông động mạch phổi (PAC) được luồn vào thông qua một ống thông đặc biệt ở tĩnh mạch dưới đòn (thường là bên trái), tĩnh mạch cảnh trong (thường là bên phải) hoặc ít gặp hơn là tĩnh mạch đùi. Việc luồn bóng vào được thực hiện khi bóng (ở đầu ống thông) đã xì hơi. Một khi đầu ống thông tới tĩnh mạch chủ trên, bơm bóng lên để dòng máu sẽ đẩy ống thông đi. Vị trí của đầu ống thông thường được xác định bằng cách theo dõi áp suất trong tim và trong mạch máu lớn (xem bảng ) hoặc đôi khi bằng phương pháp chụp X quang huỳnh quang.

Ống thông vào thất phải được chỉ điểm bằng tăng áp lực tâm thu đột ngột lên khoảng 30 mmHg; áp lực tâm trương không thay đổi so với áp lực tĩnh mạch chủ trên và nhĩ phải. Khi ống thông vào đến động mạch phổi, áp lực tâm thu không thay đổi, nhưng áp lực tâm trương tăng cao trên áp lực cuối tâm trương thất phải hoặc áp lực tĩnh mạch trung tâm (CVP); tức là áp lực xung (sự khác biệt giữa áp lực tâm thu và tâm trương) thu hẹp lại. Ống thông tiếp tục trôi cho đến khi đầu bóng mắc lại ở đoạn xa động mạch phổi. Sau khi bóng đã vào đúng chỗ trong động mạch phổi, cần làm xẹp bóng. Chụp X-quang ngực để xác nhận vị trí đặt là đúng.

Bảng
Bảng

Áp lực tâm thu (bình thường, 15 đến 30 mmHg) và áp lực tâm trương (bình thường, 5 đến 13 mmHg) được đo khi bóng xẹp. Áp lực tâm trương tương đồng với áp lực bít, mặc dù áp lực tâm trương có thể cao hơn áp lực bít khi có tăng sức cản mạch phổi hậu quả của bệnh phổi nguyên phát (như xơ phổi, tăng áp động mạch phổi).

Áp lực động mạch phổi bít (áp lực bịt động mạch phổi)

Khi bóng được bơm căng, áp suất ở đầu ống thông động mạch phổi sẽ phản ánh áp suất ngược tĩnh của các tĩnh mạch phổi. Không được để bóng căng > 30 giây nhằm tránh tắc mạch phổi. Thông thường, áp lực động mạch phổi bít (PAOP) xấp xỉ bằng áp lực trung bình nhĩ trái, do đó xấp xỉ bằng áp lực cuối tâm trương thất trái (LVEDP). Áp lực cuối tâm trương thất trái phản ánh thể tích cuối tâm trương thất trái (LVEDV). Thể tích cuối tâm trương thất trái đại diện cho tiền gánh, đó là tham số đích đích thực. Có nhiều yếu tố khiến cho áp lực động mạch phổi bít phản ánh thể tích cuối tâm trương thất trái không chính xác. Những yếu tố này bao gồm:

Khó khăn về kỹ thuật do bơm bóng căng quá mức, vị trí ống thông không chính xác, áp lực phế nang vượt quá áp lực tĩnh mạch phổi, hoặc tăng áp lực động mạch phổi nặng (có thể làm cho quả bóng khó bít).

Tăng áp lực động mạch phổi bít xảy ra trong suy tim trái. Giảm áp lực động mạch phổi bít xảy ra khi giảm thể tích máu hoặc giảm tải trước.

Oxy tĩnh mạch trộn

Máu tĩnh mạch trộn bao gồm máu từ tĩnh mạch chủ trên và tĩnh mạch chủ dưới đi qua tim phải đến động mạch phổi. Máu có thể được lấy mẫu từ cổng xa của ống thông động mạch phổi (độ bão hòa oxy tĩnh mạch hỗn hợp [SvO2]), nhưng một số ống thông có tích hợp các cảm biến sợi quang đo trực tiếp độ bão hòa oxy. SvO2 thường là 65 đến 75% (2).

Nguyên nhân gây ra tình trạng SmvO2 thấp bao gồm cung cấp oxy không đủ (ví dụ: thiếu máu, bệnh phổi, carboxyhemoglobin huyết, cung lượng tim thấp) và nhu cầu chuyển hóa mô tăng lên. Độ bão hòa oxy trong máu động mạch trừ đi độ bão hòa oxy trong máu tĩnh mạch hỗn hợp (SaO2 - SvO2) biểu thị lượng oxy được các mô lấy ra. Chênh lệch giữa độ bão hòa oxy trong máu động mạch và độ bão hòa oxy trong máu tĩnh mạch hỗn hợp quyết định mức độ đầy đủ của việc cung cấp oxy và sử dụng oxy mô ở ngoại biên (3).

Cung lượng tim (CO)

Cung lượng tim được đo bằng cách tiêm tấn công bằng nước đá lạnh liên tục hoặc pha loãng nhiệt độ ấm liên tục (xem Đo cung lượng tim và lưu lượng máu). Chỉ số tim được tính bằng chia cung lượng tim theo diện tích da cơ thể để điều chỉnh theo kích thước bệnh nhân (xem bảng ).

Công cụ tính toán lâm sàng
Công cụ tính toán lâm sàng
Công cụ tính toán lâm sàng

Các biến số khác có thể được tính từ cung lượng tim. Các bệnh lý này bao gồm:

  • Trở kháng mạch hệ thống

  • Sức cản của mạch máu phổi

  • Công nhát bóp tống máu của thất phải (RVSW)

  • Công nhát bóp tống máu của thất trái (LVSW)

Bảng
Bảng

Các biến chứng

Ống thông động mạch phổi có thể khó đưa vào. Các loạn nhịp tim, đặc biệt là loạn nhịp thất, là biến chứng phổ biến nhất. Nhồi máu phổi sau khi bơm bóng quá mức hoặc bơm liên tục, thủng động mạch phổi, thủng thành tim, tổn thương van tim, và viêm nội tâm mạc có thể xảy ra. Hiếm khi, ống thông có thể cuộn tròn thành một nút trong tâm thất phải (đặc biệt ở bệnh nhân suy tim, bệnh cơ tim hoặc tăng áp lực phổi).

Ước tính có khoảng 0,03 đến 0,2% số trường hợp được đặt ống thông động mạch phổi bị vỡ động mạch phổi (4). Biến chứng nguy kịch này thường gây tử vong và xảy ra ngay lập tức khi bơm bóng chèn lần đầu hoặc trong lần kiểm tra áp lực sau đó. Do đó, nhiều bác sĩ thích theo dõi áp lực tâm trương động mạch phổi, có thể được sử dụng làm chỉ số đo thay thế cho áp lực động mạch phổi bít (5).

Tài liệu tham khảo về theo dõi ống thông động mạch phổi

  1. 1. Hadian M, Pinsky MR. Evidence-based review of the use of the pulmonary artery catheter: impact data and complications. Crit Care. 2006;10 Suppl 3(Suppl 3):S8. doi:10.1186/cc4834

  2. 2. Squara P. Central venous oxygenation: when physiology explains apparent discrepancies. Crit Care. 2014;18(6):579. doi:10.1186/s13054-014-0579-9

  3. 3. Shepherd SJ, Pearse RM. Role of central and mixed venous oxygen saturation measurement in perioperative care. Anesthesiology. 2009;111(3):649-656. doi:10.1097/ALN.0b013e3181af59aa

  4. 4. American Society of Anesthesiologists Task Force on Pulmonary Artery Catheterization. Practice guidelines for pulmonary artery catheterization: an updated report by the American Society of Anesthesiologists Task Force on Pulmonary Artery Catheterization. Anesthesiology. 2003;99(4):988-1014. doi:10.1097/00000542-200310000-00036

  5. 5. Papolos AI, Kenigsberg BB, Singam NSV, et al. Pulmonary Artery Diastolic Pressure as a Surrogate for Pulmonary Capillary Wedge Pressure in Cardiogenic Shock. J Card Fail. 2024;30(6):853-856. doi:10.1016/j.cardfail.2024.02.021

Đánh giá cung lượng tim không xâm nhập

Các phương pháp khác để xác định cung lượng tim, chẳng hạn như siêu âm tại giường, theo dõi bằng Doppler ở thực quản và trở kháng sinh học ngực, có thể được sử dụng để tránh các biến chứng của ống thông động mạch phổi (PAC). Mặc dù các phương pháp này có khả năng là hữu ích, nhưng không có phương pháp nào đáng tin cậy bằng ống thông động mạch phổi.

Siêu âm tại giường

Siêu âm tại giường là phương pháp không thể thiếu trong hồi sức tích cực để chẩn đoán nhanh các bất thường về chức năng và giải phẫu. Thiết bị siêu âm cầm tay có thể di chuyển được và do đó tiết kiệm thời gian và loại bỏ việc cần phải vận chuyển bệnh nhân ra khỏi khoa hồi sức tích cực. Đôi khi các thiết bị siêu âm này có thể loại bỏ việc cần phải sử dụng các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh thông thường. Sử dụng siêu âm một cách hợp lý sẽ làm giảm mức phơi nhiễm bức xạ ion hóa. Trong điều trị giai đoạn cấp tính, siêu âm tại giường đặc biệt hữu ích để đánh giá vùng bụng, ngực và tim. Đôi khi nó có thể được sử dụng để chẩn đoán huyết khối tĩnh mạch sâu.

Siêu âm bụng có thể được sử dụng để xác định dịch tự do (ngoài mạch máu), thường là một phần của quá trình đánh giá tập trung bằng siêu âm trong chấn thương (đánh giá tập trung bằng siêu âm trong chấn thương – thường được thực hiện trong quá trình đánh giá chấn thương và hồi sức). Ở bệnh nhân chấn thương bị hạ huyết áp, dịch tự do có thể là máu. Khi bệnh nhân chỉ đáp ứng tạm thời hoặc không đáp ứng với truyền máu, dịch tự do có thể là dấu hiệu cần can thiệp bằng phẫu thuật. Siêu âm cũng có thể được sử dụng để đánh giá các cơ quan khác trong ổ bụng.

Siêu âm tim rất cần thiết để đánh giá giải phẫu cũng như tình trạng huyết động bằng cách đánh giá kích thước buồng tim, chuyển động của thành tim, khả năng co bóp và phân suất tống máu. Đánh giá tập trung nhanh bằng siêu âm tim (FREE) là một ví dụ về đánh giá siêu âm theo cấu trúc và động. Đánh giá tập trung nhanh bằng siêu âm tim được thực hiện bằng cách sử dụng 4 cửa sổ siêu âm tim tiêu chuẩn: trục dài cạnh ức, trục ngắn cạnh ức, cửa sổ đỉnh và cửa sổ dưới xương ức. FREE đánh giá phân suất tống máu thất trái (EF), thể tích nhát bóp (SV), cung lượng tim (CO) và chỉ số tim (CI) và cho phép đánh giá bệnh nhân bị hạ huyết áp (1). Trong đánh giá bệnh nhân bị hạ huyết áp, siêu âm là không thể thiếu để xác nhận những dấu hiệu sau:

  • Giảm thể tích máu: Ngay cả khi tĩnh mạch chủ dưới có vẻ đầy (có thể xảy ra ở bệnh nhân thở nhanh), tình trạng giảm thể tích tuần hoàn được gợi ý bởi tình trạng tăng huyết áp trái và gần như không có máu ở cuối tâm thu.

  • Rối loạn chức năng tâm thất trái: Rối loạn chức năng thất trái được gợi ý bởi các bất thường chuyển động của thành tim và giảm phân suất tống máu hoặc đo được (do một bác sĩ có kinh nghiệm đánh giá kích thước tổng thể và sự co giãn rõ ràng và sự dày lên của các thành thất trái).

  • Suy thất phải: Tâm thất phải phải có kích thước bằng 60% tâm thất trái, hình tam giác và có bề mặt bên trong nhám (do các cơ bám da và cơ nhú tạo thành). Tâm thất phải giãn ra cho thấy suy tâm thất phải và có thể gợi ý thuyên tắc động mạch phổi.

  • Tràn dịch màng ngoài timchèn ép tim làm giảm cung lượng tim do giảm lượng máu hồi lưu tĩnh mạch và tiền gánh.

Siêu âm ngực có thể được sử dụng để xác định dịch màng phổi (ví dụ: tràn máu màng phổi) và tràn khí màng phổi với độ nhạy và giá trị dự báo âm tính cao hơn so với phim chụp X-quang thông thường. Ví dụ: mất khả năng trượt phổi ở một vùng trải dài trên 3 khoang liên sườn trước và đường chữ A (các ảnh giả theo chiều ngang) đều có độ nhạy gần 100% và khi được hiển thị hình ảnh cùng nhau, có độ đặc hiệu cao đối với tràn khí màng phổi. Độ hồi âm của dịch màng phổi và những thay đổi ở màng phổi và nhu mô phổi kế cận ở vùng sau bên cũng giúp xác định nguyên nhân gây ra dịch màng phổi. (Xem Cách khám E-FAST.)

Siêu âm tại giường cũng hữu ích trong việc tìm kiếm huyết khối tĩnh mạch sâu và đôi khi xác định tổn thương cơ quan trong ổ bụng (ví dụ: vỡ lách).

Máy theo dõi Doppler thực quản (EDM)

Thiết bị này là một ống thông mềm được đưa qua đường miệng hoặc mũi họng vào thực quản và đặt ở sau tim. Đầu dò lưu lượng Doppler ở đầu của ống thông đó cho phép theo dõi liên tục cung lượng tim và thể tích nhát bóp (2, 3). Không giống như ống thông động mạch phổi xâm lấn, việc đặt máy theo dõi Doppler ở thực quản (EDM) không gây tràn khí màng phổi, loạn nhịp tim hoặc nhiễm trùng. Máy theo dõi Doppler ở thực quản có thể chính xác hơn ống thông động mạch phổi ở một số bệnh nhân có các tổn thương van tim, các khuyết tật ở vách ngăn, loạn nhịp tim hoặc tăng áp động mạch phổi (4). Tuy nhiên, máy theo dõi Doppler ở thực quản có thể cung cấp thông tin không nhất quán vì những thay đổi nhỏ về tư thế của bệnh nhân hoặc ống thông có thể tạo ra các dạng sóng bị suy yếu và do đó cho kết quả đọc không chính xác.

Trở kháng sinh học lồng ngực

Hệ thống trở kháng sinh học ngực sử dụng các điện cực tại chỗ ở phía trước ngực và cổ để đo trở kháng điện của ngực. Giá trị trở kháng điện thay đổi theo từng nhịp đập theo thể tích máu trong lồng ngực và do đó có thể ước tính cung lượng tim (5). Hệ thống này không xâm lấn và đưa ra các giá trị nhanh chóng (trong vòng 2 đến 5 phút); tuy nhiên, kỹ thuật này rất nhạy cảm với sự thay đổi ở nơi có tiếp xúc điện cực với bệnh nhân. Trở kháng sinh học lồng ngực có giá trị hơn trong việc phát hiện những thay đổi cung lượng tim của một bệnh nhân cụ thể so với đo cung lượng tim chính xác.

Tài liệu tham khảo về đánh giá cung lượng tim không xâm lấn

  1. 1. Murthi SB, Hess JR, Hess A, et al. Focused rapid echocardiographic evaluation versus vascular catheter-based assessment of cardiac output and function in critically ill trauma patients. J Trauma Acute Care Surg. 2012;72 (5):1158–1164. doi: 10.1097/TA.0b013e31824d1112

  2. 2. Cholley BP, Singer M. Esophageal Doppler: noninvasive cardiac output monitor. Echocardiography. 2003;20(8):763-769. doi:10.1111/j.0742-2822.2003.03033.x

  3. 3. Dark PM, Singer M. The validity of trans-esophageal Doppler ultrasonography as a measure of cardiac output in critically ill adults. Intensive Care Med. 2004;30(11):2060-2066. doi:10.1007/s00134-004-2430-2

  4. 4. Eachempati SR, Barie PS. Minimally invasive and noninvasive diagnosis and therapy in critically ill and injured patients. Arch Surg. 1999;134(11):1189-1196. doi:10.1001/archsurg.134.11.1189

  5. 5. Moshkovitz Y, Kaluski E, Milo O, Vered Z, Cotter G. Recent developments in cardiac output determination by bioimpedance: comparison with invasive cardiac output and potential cardiovascular applications. Curr Opin Cardiol. 2004;19(3):229-237. doi:10.1097/00001573-200405000-00008

Theo dõi áp lực nội sọ (ICP)

Theo dõi áp lực nội sọ là tiêu chuẩn cho những bệnh nhân bị chấn thương đầu kín nặng và đôi khi được sử dụng cho một số rối loạn não khác, chẳng hạn như trong một số trường hợp được chọn của não úng thủytăng huyết áp nội sọ tự phát (giả u não) hoặc trong xử trí sau phẫu thuật hoặc xử trí sau thuyên tắc dị dạng động tĩnh mạch. Các thiết bị này được sử dụng để theo dõi ICP (thường là 5 đến 15 mm Hg) và để tối ưu hóa áp lực tưới máu não (áp lực trung bình trừ áp lực nội sọ). Thông thường, áp lực tưới máu não phải giữ > 60 mm Hg.

Một số máy theo dõi áp lực nội soi có sẵn. Dẫn lưu ngoài não thất (EVD) là phương pháp hữu ích nhất; một ống thông được đặt qua hộp sọ vào não thất (ống thông sàn não thất). Thiết bị này được ưa thích vì ống thông cũng có thể dẫn lưu dịch não tủy (CSF) và do đó giảm áp lực nội sọ. Tuy nhiên, dẫn lưu ngoài não thất cũng là phương pháp xâm lấn nhất, có tỷ lệ nhiễm trùng cao nhất và khó đặt nhất. Đôi khi, dẫn lưu ngoài não thất bị tắc nghẽn do phù não nặng.

Các loại thiết bị nội sọ khác bao gồm máy theo dõi trong nhu mô, chốt dưới màng nhện, chốt dưới màng cứng và chốt ngoài màng cứng được chèn giữa hộp sọ và màng cứng qua đó cảm biến áp suất được đưa qua. Trong số này, máy đo áp lực mô não thường được sử dụng nhiều hơn. Tất cả các thiết bị đo áp lực nội sọ thường phải được thay hoặc rút sau 5 đến 7 ngày vì nguy cơ nhiễm trùng.

Quang phổ cận hồng ngoại (NIRS)

Quang phổ cận hồng ngoại là phương pháp không xâm lấn để theo dõi liên tục quá trình oxy hóa và tưới máu ở các cơ quan đích. Các cảm biến quang phổ cận hồng ngoại thường được đặt trên da phía trên mô mục tiêu (ví dụ: da đầu để theo dõi mức độ oxy hóa và tưới máu não qua sọ, cơ sinh đôi cẳng chân để đánh giá mức độ oxy hóa mô ngoại biên) (1). Quang phổ cận hồng ngoại có thể được sử dụng để xác định các chỉ số tự điều hòa não như chỉ số oxy hóa não (Cox), chỉ số oxy mô (Tox) và chỉ số thể tích hemoglobin (HVx) (2). Quang phổ cận hồng ngoại cũng có thể giúp chẩn đoán các hội chứng khoang cấp tính (ví dụ: trong chấn thương) hoặc thiếu máu cục bộ sau khi tái tạo bằng cách chuyển mô tự do và có thể hữu ích trong việc theo dõi sau phẫu thuật ghép bắc cầu mạch máu ở chi dưới. Theo dõi quang phổ cận hồng ngoại về pH ruột non có thể được sử dụng để đánh giá mức độ hồi sức đầy đủ.

Tài liệu tham khảo về quang phổ cận hồng ngoại

  1. 1. Ali J, Cody J, Maldonado Y, Ramakrishna H. Near-Infrared Spectroscopy (NIRS) for Cerebral and Tissue Oximetry: Analysis of Evolving Applications. J Cardiothorac Vasc Anesth. 2022;36(8 Pt A):2758-2766. doi:10.1053/j.jvca.2021.07.015

  2. 2. Viderman D, Abdildin YG. Near-Infrared Spectroscopy in Neurocritical Care: A Review of Recent Updates. World Neurosurg. 2021;151:23-28. doi:10.1016/j.wneu.2021.04.054

quizzes_lightbulb_red
Test your KnowledgeTake a Quiz!