Chấn thương do áp lực

(Vết loét; Vết loét do tì đè; Vết loét do tư thế nằm; Decubiti; Vết loét do tì đè)

TheoJoshua S. Mervis, MD, Tufts University School of Medicine;
Tania J. Phillips, MD, Boston University School of Medicine
Xem xét bởiJoseph F. Merola, MD, MMSc, UT Southwestern Medical Center
Đã xem xét/Đã chỉnh sửa đã sửa đổi Thg 9 2025
v966936_vi

Tổn thương do tì đè là những vùng hoại tử và thường bị loét (còn gọi là loét do tì đè), nơi các mô mềm bị ép giữa phần nhô ra của xương và bề mặt cứng bên ngoài. Chúng có nguyên nhân là do áp suất cơ học không được tăng cường kết hợp với lực ma sát, lực cắt và độ ẩm. Các yếu tố nguy cơ bao gồm > 65 tuổi, suy giảm lưu thông và tưới máu tổ chức, cố định, suy dinh dưỡng, giảm cảm giác, và không tự chủ.

Tổn thương do tì đè được định nghĩa là tổn thương tại chỗ ở da và/hoặc mô bên dưới, thường ở phần xương nhô ra, do áp lực riêng lẻ hoặc kết hợp với lực cắt (1). Tổn thương do tì đè ảnh hưởng đến 3 triệu người lớn ở Hoa Kỳ hàng năm, với tỷ lệ hiện mắc từ 5% đến 15% ở những bệnh nhân nằm viện. Tuy nhiên, tỷ lệ hiện mắc có thể cao hơn đáng kể ở một số môi trường chăm sóc dài hạn và các khoa hồi sức tích cực (2).

"Tổn thương do tì đè" đã thay thế "loét do tì đè" trở thành thuật ngữ được Ủy ban tư vấn về chấn thương do tì đè quốc gia (NPIAP) khuyến nghị, vì tổn thương da liên quan đến tì đè có thể không dẫn đến loét da ở giai đoạn đầu (xem thêm Hệ thống phân loại giai đoạn).

Tài liệu tham khảo chung

  1. 1. Haesler E, ed. National Pressure Ulcer Advisory Panel, European Pressure Ulcer Advisory Panel and Pan Pacific Pressure Injury Alliance. Prevention and Treatment of Pressure Ulcers: Quick Reference Guide. Cambridge Media; 2014.

  2. 2. Mervis JS, Phillips TJ. Pressure ulcers: Pathophysiology, epidemiology, risk factors, and presentation. J Am Acad Dermatol 81(4):881-890, 2019 doi: 10.1016/j.jaad.2018.12.069

Nguyên nhân của thương tổn do tì đè

Các yếu tố nguy cơ của thương tổn do tì đè bao gồm:

  • Tuổi > 65 (có thể do giảm mỡ dưới da, giảm lưu lượng máu mao mạch và các thay đổi thoái hóa khác ở da liên quan đến tuổi tác) (1)

  • Giảm khả năng vận động (ví dụ: do nằm viện kéo dài, nghỉ ngơi tại giường, hôn mê, chấn thương tủy sống, an thần, suy nhược làm giảm khả năng cử động tự phát và/hoặc suy giảm nhận thức)

  • Tiếp xúc với chất kích thích da (ví dụ, do tiểu không tự chủ và/hoặc đại tiện không tự chủ)

  • Khả năng chữa lành vết thương kém (ví dụ: do thiếu dinh dưỡng, tiểu đường, suy giảm tưới máu mô do bệnh động mạch ngoại biên, bất động, suy tĩnh mạch)

  • Giảm cảm giác

Ở trẻ em, tổn thương do tì đè có thể xảy ra với những khiếm khuyết thần kinh nặng như tật nứt đốt sống, bại não và chấn thương tủy sống.

Một số thang đánh giá (ví dụ: , Thang đánh giá Braden) đã được phát triển để dự đoán nguy cơ tổn thương do tì đè (2). Thang đo Norton được sử dụng để xác định xem bệnh nhân có nguy cơ cao bị loét do tì đè hay không dựa trên tổng điểm của năm tiêu chuẩn: tình trạng thể chất, tình trạng tâm thần, hoạt động, khả năng vận động và không tự chủ. Thang đo Braden được sử dụng để đánh giá nguy cơ dựa trên tổng điểm của sáu hạng mục: nhận thức cảm giác, độ ẩm, hoạt động, khả năng vận động, dinh dưỡng và ma sát/cắt (3). Mặc dù việc sử dụng các loại thang đánh giá này được coi là điều trị tiêu chuẩn, nhưng vẫn chưa được chứng minh là có thể giảm thiểu tổn thương do tì đè so với việc chỉ đánh giá lâm sàng có chuyên môn. Tuy nhiên, việc sử dụng thang đánh giá nguy cơ cùng với đánh giá lâm sàng có chuyên môn vẫn được khuyến nghị.

Bảng
Bảng

Tài liệu tham khảo về căn nguyên

  1. 1. Farage MA, Miller KW, Elsner P, Maibach HI: Characteristics of the aging skin. Adv Wound Care (New Rochelle) 2(1):5–10, 2013 doi: 10.1089/wound.2011.0356

  2. 2. Qaseem A, Mir TP, Starkey M, Denberg TD; Clinical Guidelines Committee of the American College of Physicians. Risk assessment and prevention of pressure ulcers: a clinical practice guideline from the American College of Physicians. Ann Intern Med. 2015;162(5):359-369. doi:10.7326/M14-1567

  3. 3. Bergstrom N, Braden BJ, Laguzza A, Holman V: The Braden scale for predicting pressure sore risk. Nurs Res 36(4):205–210, 1987.

Sinh lý bệnh của thương tổn do tì đè

Các yếu tố chính gây thương tổn do tì đè là

  • Sức ép: Khi các mô mềm bị tì đè trong thời gian dài giữa các phần xương nhô ra và bề mặt bên ngoài, tắc nghẽn mạch máu nhỏ với tình trạng thiếu máu cục bộ mô và thiếu oxy sẽ xảy ra (1) Áp lực vượt quá áp lực mao mạch bình thường (khoảng từ 12 đến 32mm Hg) dẫn đến giảm oxy và làm giảm tuần hoàn của mô bị ảnh hưởng. Nếu tình trạng chèn ép không thuyên giảm, thương tổn do tì đè có thể xuất hiện sau 3 đến 4 giờ. Điều này thường xảy ra nhất đối với xương cùng, ụ ngồi, mấu chuyển, mắt cá, và gót chân, nhưng thương tổn do tì đè có thể phát triển ở mọi nơi.

  • Ma sát: Ma sát (cọ xát vào quần áo hoặc khăn trải giường) có thể dẫn đến phát sinh tình trạng loét da bằng cách gây ra tình trạng xói mòn tại chỗ và các chỗ rách lớp biểu bì và lớp hạ bì nông.

  • Lực mài: Lực cắt, chẳng hạn như lực tác động khi bệnh nhân trượt xuống bề mặt nghiêng, gây căng thẳng và tổn thương các mô hỗ trợ bằng cách khiến các mô sâu hơn (cơ và lớp dưới da) di chuyển theo trọng lực chống lại sức cản của các mô nông hơn vẫn tiếp xúc với bề mặt bên ngoài. Sự đối lập của các lực này có thể cản trở lưu lượng máu đến khu vực bị thương tổn, dẫn đến nguy cơ chấn thương. Lực mài góp phần gây thương tổn do tì đè nhưng không phải là nguyên nhân trực tiếp.

  • Độ ẩm: Độ ẩm quá mức (ví dụ như đổ mồ hôi, tiểu không tự chủ) có thể góp phần gây tổn thương và hoại tử da, từ đó có thể gây loét và làm trầm trọng thêm các vết thương do tì đè.

Vì cơ dễ bị thiếu máu cục bộ khi bị chèn ép hơn so với da nên tình trạng thiếu máu cục bộ và hoại tử cơ có thể gây ra một số chấn thương do tì đè do bị ép trong thời gian dài.

Tình trạng thiếu máu cục bộ gây ra một loạt các phản ứng viêm, bao gồm thâm nhiễm bạch cầu trung tính và phù nề. Ngoài ra, khi tái tưới máu, căng thẳng cơ học làm trầm trọng thêm tổn thương mô, đặc biệt là ở cơ và mô dưới da (2), với mức độ và độ sâu của tổn thương được điều chỉnh theo các yếu tố nội tại như độ dày của da, độ cứng của mô và phản ứng của mạch máu (3). Các yếu tố nội tại này đặc biệt bị ảnh hưởng ở những bệnh nhân có nguy cơ (ví dụ: tuổi > 65 tuổi, trẻ sơ sinh [4]).

Tài liệu tham khảo về sinh lý bệnh

  1. 1. Gefen A. The complex interplay between mechanical forces, tissue response and individual susceptibility to pressure ulcers. J Wound Care. 2024;33(9):620-628. doi:10.12968/jowc.2024.0023

  2. 2. Van Damme N, Van Hecke A, Remue E, et al. Physiological processes of inflammation and edema initiated by sustained mechanical loading in subcutaneous tissues: A scoping review. Wound Repair Regen. 2020;28(2):242-265. doi:10.1111/wrr.12777

  3. 3. Sree VD, Rausch MK, Tepole AB. Linking microvascular collapse to tissue hypoxia in a multiscale model of pressure ulcer initiation. Biomech Model Mechanobiol. 2019;18(6):1947-1964. doi:10.1007/s10237-019-01187-5

  4. 4. de Bengy AF, Lamartine J, Sigaudo-Roussel D, et al. Newborn and elderly skin: two fragile skins at higher risk of pressure injury. Biol Rev Camb Philos Soc. 2022;97(3):874-895. doi:10.1111/brv.12827

Triệu chứng và dấu hiệu của thương tổn do tì đè

Thương tổn do tì đè ở bất kỳ giai đoạn nào cũng có thể gây đau hoặc ngứa nhưng thường không được bệnh nhân nhận biết hoặc cảm giác bị kém chú ý.

Hệ thống phân chia

Một số hệ thống phân chia tồn tại. Hệ thống được sử dụng rộng rãi nhất là của Ban cố vấn về chấn thương do áp lực quốc gia (NPIAP), phân loại tổn thương do tì đè thành bốn giai đoạn (từ 1 đến 4) theo độ sâu của tổn thương mô. Tuy nhiên, phân số giai đoạn không có nghĩa là sự tiến triển tuyến tính của chấn thương áp lực. Thương tổn do tì đè không phải lúc nào cũng biểu hiện giai đoạn I và sau đó tiến lên các giai đoạn cao hơn. Đôi khi, dấu hiệu đầu tiên là thương tổn sâu, hoại tử giai đoạn 3 hoặc 4. Trong thương tổn do tì đè phát triển nhanh, mô dưới da có thể hoại tử trước khi biểu bì bị trợt thượng bì. Do đó, một thương tổn nhỏ có thể thực sự đại diện cho hoại tử và tổn thương sâu dưới da. Tương tự, thang điểm không ngụ ý rằng quá trình lành vết thương tiến triển từ giai đoạn 4 đến giai đoạn 1. Hệ thống phân loại NPIAP cập nhật cũng bao gồm các định nghĩa về thương tổn do tì đè sâu, mô mềm, liên quan đến thiết bị y tế và màng nhầy (1).

Giai đoạn I vết thương do tì đè biểu hiện dưới dạng da còn nguyên vẹn với ban đỏ không thể bào mòn, thường là nổi rõ trên xương. Thay đổi màu sắc có thể không rõ ràng ở những người da sẫm màu. Tổn thương này cũng có thể ấm hơn, lạnh hơn, cứng hơn, mềm hơn, hoặc căng hơn các mô liền kề hoặc đối diện. Một vết loét thực sự (một khiếm khuyết của da vào lớp hạ bì) vẫn chưa xuất hiện. Tuy nhiên, loét có thể xảy ra khi chịu tì đè, lực cắt, ma sát và/hoặc độ ẩm liên tục.

Thương tổn do tì đè giai đoạn 2 đặc trưng bởi tình trạng mất da dày một phần, mất lớp biểu bì (trợt hoặc mụn nước) có hoặc không có vết loét thực sự (khiếm khuyết vượt quá mức độ của lớp biểu bì); mô dưới da không bị lộ ra. Thương tổn nông với nền màu hồng đến màu đỏ. Không có mô hoại tử ở đáy. Giai đoạn 2 cũng bao gồm mụn nước nguyên vẹn hoặc vỡ một phần do áp lực. (LƯU Ý: Các nguyên nhân liên quan không do áp lực gây trợt, loét, hoặc phồng rộp, như rách da, bỏng băng, ẩm ướt, và trợt, loại trừ khỏi giai đoạn 2.)

Thương tổn do tì đè giai đoạn 3 biểu hiện bằng tình trạng mất toàn bộ độ dày da, liên quan đến mô dưới da kéo dài xuống (nhưng không bao gồm) cân cơ bên dưới. Các vết loét có hình dạng giống như miệng hố nhưng không lộ ra cơ hoặc xương bên dưới.

Thương tổn do tì đè giai đoạn 4 biểu hiện bằng tình trạng mất toàn bộ độ dày da kèm theo tình trạng phá hủy rộng rãi, hoại tử mô và lộ ra cơ, gân hoặc xương bên dưới.

Các thương tổn do tì đè không thể phân giai đoạn đặc trưng bởi tình trạng mất toàn bộ độ dày da trong đó mức độ tổn thương mô không thể xác định được vì bị che khuất bởi các mảnh vụn, chất nhầy hoặc mảng mô chết đóng vảy. Nếu lớp vảy hoặc mảng mô chết đóng vảy được loại bỏ, thương tổn do tì đè giai đoạn 3 hoặc giai đoạn 4 sẽ được bộc lộ. Tuy nhiên, các tổn thương ổn định, không thay đổi với mảng mô chết đóng vảy khô không bao giờ nên được cắt bỏ chỉ vì mục đích phân loại giai đoạn.

Thương tổn do tì đè mô sâu đặc trưng bởi da còn nguyên vẹn hoặc không còn nguyên vẹn với vùng tổn thương cục bộ ở mô bên dưới do tì đè quá mức và/hoặc lực cắt tại giao diện cơ-xương. Các phát hiện bao gồm vùng da màu tím đến màu hạt dẻ của da còn nguyên vẹn, và mụn nước, bọng nước đầy máu hoặc chất nhầy. Khu vực này có thể cảm thấy cứng hơn, nhầy hơn, ấm hơn, hoặc mát hơn so với các mô xung quanh. Trong bối cảnh này, thuật ngữ tổn thương áp lực mô sâu không nên được sử dụng để mô tả các bệnh lý mạch máu, chấn thương, bệnh lý thần kinh hoặc da.

Thương tổn do tì đè liên quan đến thiết bị y tế kết quả từ việc sử dụng các thiết bị được thiết kế và áp dụng cho mục đích điều trị (ví dụ, trụ, nẹp). Sử dụng lâu dài các thiết bị y tế được đặt kém, không vừa vặn có thể gây ra thương tổn do tì đè lên da hoặc niêm mạc. Tổn thương thường phù hợp với mô hình hoặc hình dạng của thiết bị. Thương tổn đó phải được phân loại theo hệ thống phân loại giai đoạn NPIAP. Thương tổn do tì đè liên quan đến thiết bị y tế đã được mở rộng để bao gồm thương tổn do thiết bị bảo hộ cá nhân (PPE), bao gồm khẩu trang, mặt nạ áp lực dương liên tục (CPAP), ống oxy và các thiết bị khác được sử dụng để ngăn ngừa hoặc kiểm soát các tình trạng hô hấp như như là COPD hoặc COVID-19.

Tổn thương áp lực niêm mạc xuất hiện trên màng nhầy, nơi các thiết bị y tế đã được sử dụng (ví dụ, hàm giả, ống nội khí quản). Do giải phẫu của mô, những tổn thương này không thể xác định được.

Khi ước tính độ sâu của thương tổn do tì đè cho mục đích của giai đoạn, điều quan trọng là phải tính đến vị trí giải phẫu, đặc biệt là trong trường hợp thương tổn giai đoạn 3. Ví dụ: sống mũi, tai, chẩm và mắt cá có mô dưới da tối thiểu và do đó, thương tổn do tì đè ở những vị trí đó rất nông. Tuy nhiên, chúng vẫn được xếp loại là giai đoạn 3 vì chúng có ý nghĩa như các thương tổn sâu hơn ở giai đoạn 3 ở những vị trí có nhiều mô dưới da (ví dụ vùng xương cùng).

Biểu hiện của chấn thương do tì đè Giai đoạn từ 1 đến 4
Tổn thương do tì đè giai đoạn 1 (mông)
Tổn thương do tì đè giai đoạn 1 (mông)

Ảnh chụp thương tổn do tì đè giai đoạn 1 này cho thấy vết đỏ không thể bong ra nhưng không bị nứt ở da.

Ảnh chụp thương tổn do tì đè giai đoạn 1 này cho thấy vết đỏ không thể bong ra nhưng không bị nứt ở da.

Ảnh của Gordian Medical, Inc. dba American Medical Technologies; sử dụng với sự cho phép.

Tổn thương do tì đè giai đoạn 2
Tổn thương do tì đè giai đoạn 2

Bệnh nhân này bị thương tổn do tì đè giai đoạn 2 ở vùng trên của mông phải (mũi tên). Có mất lớp biểu bì và lớp nền ban đỏ. Mô dưới da không bị lộ ra ngoài. Lưu ý các vùng xung quanh thương tổn do tì đè ở giai đoạn 1 (ví dụ: xem đầu mũi tên) có ban đỏ không nhạt màu khi ấn trên lớp biểu bì còn nguyên vẹn.

Bệnh nhân này bị thương tổn do tì đè giai đoạn 2 ở vùng trên của mông phải (mũi tên). Có mất lớp biểu bì và lớp nền ban

... đọc thêm

BOILERSHOT PHOTO/THƯ VIỆN HÌNH ẢNH KHOA HỌC

Tổn thương do tì đè giai đoạn 3 (bàn chân)
Tổn thương do tì đè giai đoạn 3 (bàn chân)

Bức ảnh thương tổn do tì đè giai đoạn 3 này cho thấy da bị mất toàn bộ độ dày nhưng không bộc lộ cơ hoặc xương.

Bức ảnh thương tổn do tì đè giai đoạn 3 này cho thấy da bị mất toàn bộ độ dày nhưng không bộc lộ cơ hoặc xương.

Roberto A. Penne-Casanova/THƯ VIỆN HÌNH ẢNH KHOA HỌC

Thương tổn do tì đè giai đoạn 3 (nền cột sống)
Thương tổn do tì đè giai đoạn 3 (nền cột sống)

Bức ảnh thương tổn do tì đè giai đoạn 3 này cho thấy mô dưới da nhưng không có cơ hoặc xương.

Bức ảnh thương tổn do tì đè giai đoạn 3 này cho thấy mô dưới da nhưng không có cơ hoặc xương.

BÁC SĨ BARRY SLAVEN/THƯ VIỆN HÌNH ẢNH KHOA HỌC

Tổn thương do tì đè giai đoạn 4 (đầu gối)
Tổn thương do tì đè giai đoạn 4 (đầu gối)

Bức ảnh thương tổn do tì đè giai đoạn 4 này cho thấy các cấu trúc sâu có thể nhìn thấy được, chẳng hạn như gân và khớp.

Bức ảnh thương tổn do tì đè giai đoạn 4 này cho thấy các cấu trúc sâu có thể nhìn thấy được, chẳng hạn như gân và khớp.

Ảnh của Gordian Medical, Inc. dba American Medical Technologies; sử dụng với sự cho phép.

Ngọc trai & cạm bẫy

  • Nghi ngờ tổn thương mô sâu hơn là biểu hiện trên lâm sàng ở những bệnh nhân có thương tổn do tì đè.

Tài liệu tham khảo về định nghĩa giai đoạn

  1. 1. Editors of Nursing: Pressure ulcers get new terminology and staging definitions. Nursing 47(3):68–69, 2017. doi: 10.1097/01.NURSE.0000512498.50808.2b

Biến chứng của thương tổn do tì đè

Các thương tổn do tì đè là một ổ chứa cho các vi khuẩn kháng thuốc kháng sinh mắc phải trong bệnh viện. Số lượng vi khuẩn cao trong vết thương có thể làm suy yếu đáp ứng miễn dịch hoặc cản trở quá trình chữa lành mô bình thường. Nhiễm trùng là biến chứng phổ biến nhất của thương tổn do tì đè. Nhiễm trùng bao gồm viêm mô tế bào, áp xe, viêm bao hoạt dịch nhiễm trùng, viêm khớp nhiễm trùngviêm cân hoại tử. Nếu vết thương chậm lành mặc dù đã điều trị đúng cách, cần phải nghi ngờ bệnh nền là viêm tủy xương (có ở tới 32% số bệnh nhân) hoặc hiếm khi là ung thư biểu mô tế bào vảy trong vết loét (loét Marjolin).

Các biến chứng tại chỗ khác của tình trạng tổn thương do tì đè không lành bao gồm vôi hóa mô và các đường xoang, có thể nông hoặc nối vết loét do tì đè với các cấu trúc sâu liền kề (ví dụ: các đường xoang từ vết loét ở xương cùng đến ruột).

Biến chứng nhiễm trùng toàn thân có thể bao gồm vãng khuẩn huyết, viêm màng nãoviêm nội tâm mạc. Nguy cơ gặp phải những biến chứng này tăng lên tùy theo mức độ nặng của thương tổn do tì đè. 

Chẩn đoán thương tổn do tì đè

  • Chủ yếu là bệnh sử và khám thực thể

  • Đánh giá dinh dưỡng

  • Hiếm khi, các nghiên cứu chẩn đoán hình ảnh (chụp MRI có hoặc không có chất cản quang)

Chẩn đoán tổn thương do tì đè dựa trên đánh giá lâm sàng. Một chấn thương do áp lực thường được xác định bởi sự xuất hiện đặc trưng của nó và bởi vị trí của nó trên xương. Bàn tay là điểm nguồn phổ biến nhất, tiếp theo là đầu. Thương tổn do suy động mạch và tĩnh mạch hoặc bệnh thần kinh do tiểu đường có thể giống với thương tổn do tì đè, đặc biệt là ở các chi dưới và cũng có thể trở nên trầm trọng hơn do các yếu tố tương tự (tức là lực cắt, ma sát và độ ẩm) gây ra hoặc làm trầm trọng thêm thương tổn do tì đè.

Độ sâu và mức độ của thương tổn do tì đè có thể khó xác định. Việc xếp loại giai đoạn và chụp ảnh vết thương là điều cần thiết để theo dõi sự tiến triển hoặc lành tổn thương. Có thang điểm đánh giá lành tổn thương. Thang đánh giá loét do tì đè để chữa lành (PUSH), được thiết kế làm một công cụ bổ sung cho hệ thống phân loại giai đoạn NPIAP, đã được nhiều cơ sở áp dụng (1).

Nuôi cấy vết thương định kỳ không được khuyến cáo vì tất cả các thương tổn do tì đè đều có vi khuẩn cư trú.

Đánh giá dinh dưỡng được khuyến cáo ở những bệnh nhân có các thương tổn do tì đè, đặc biệt là những người có các thương tổn do tì đè giai đoạn 3 hoặc 4. Đánh giá tình trạng dinh dưỡng được thực hiện tốt nhất thông qua bệnh sử và khám thực thể do các chất chỉ điểm về máu truyền thống như albumin và tiền albumin không đáng tin cậy khi tự xác định tình trạng dinh dưỡng (2). Suy dinh dưỡng cần đánh giáđiều trị.

Vết thương không lành có thể xảy ra do điều trị không đầy đủ nhưng sự xuất hiện của các vết thương này có thể làm dấy lên nghi ngờ về một biến chứng. Nhiễm trùng bên dưới khi xuất hiện triệu chứng căng, ban đỏ của da xung quanh, chảy máu, hoặc mùi hôi. Sốt và tăng bạch cầu có thể làm tăng nghi ngờ về viêm mô tế bào, vãng khuẩn huyết hoặc bệnh nền là viêm tủy xương. Nếu nghi ngờ bị viêm tủy xương, cần tiến hành xét nghiệm công thức máu và cấy máu cũng như tốc độ máu lắng, protein C phản ứng và/hoặc procalcitonin. Chẩn đoán viêm tủy xương được xác định bằng sinh thiết xương và nuôi cấy, nhưng việc này không phải lúc nào cũng khả thi.

Chẩn đoán hình ảnh thiếu mối liên quan với độ nhạy và độ đặc hiệu cao. MRI rất nhạy cảm nhưng không cụ thể và có thể giúp xác định phạm vi lan rộng của các thương tổn do tì đè. MRI tiêm thuốc cản quang gadolinium có thể giúp xác định việc thoát hoặc chảy dịch các vùng xoang.

Tài liệu tham khảo về chẩn đoán

  1. 1. National Pressure Injury Advisory Panel. Pressure Ulcer Scale for Healing. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2025.

  2. 2. Bharadwaj S, Ginoya S, Tandon P, et al. Malnutrition: Laboratory markers vs nutritional assessment. Gastroenterol Rep (Oxf) 4(4):272–280, 2016 doi: 10.1093/gastro/gow013

Điều trị thương tổn do tì đè

  • Giảm áp lực

  • Chăm sóc vết thương trực tiếp

  • Quản lý đau

  • Kiểm soát nhiễm trùng

  • Đánh giá nhu cầu dinh dưỡng

  • Phẫu thuật hoặc trị liệu bổ sung

Nên áp dụng phương pháp tiếp cận đa chiều để điều trị các thương tổn do tì đè. Giảm tì đè (thông qua việc thay đổi vị trí thường xuyên, sử dụng bề mặt hỗ trợ phù hợp và giảm ma sát và độ ẩm) cũng như chăm sóc vết thương trực tiếp (tức là băng bó, cắt lọc và làm sạch vết thương) là các phương án điều trị tiêu chuẩn (1). Có thể cần phải kiểm soát đau bằng thuốc giảm đau và điều trị nhiễm trùng vết thương bằng thuốc kháng sinh. Việc bổ sung dinh dưỡng cho những bệnh nhân bị thiếu hụt protein cũng cần được thực hiện. Phẫu thuật điều trị chỉ dành cho các vết loét ở giai đoạn tiến triển hoặc rộng.

Giảm áp lực

Giảm tì đè mô được thực hiện thông qua việc cẩn thận về tư thế của bệnh nhân, sử dụng thiết bị bảo vệ và bề mặt hỗ trợ (2, 3).

Việc thay đổi tư thế thường xuyên (và chọn đúng vị trí) là yếu tố quan trọng nhất để duy trì việc giảm tì đè. Nên sử dụng lịch trình viết tay để hướng dẫn và ghi chép lại quá trình thay đổi tư thế của bệnh nhân. Bệnh nhân nằm liệt giường cần phải được xoay người ít nhất 2 giờ một lần và nên được đặt ở góc 30° so với nệm khi nằm nghiêng (nằm nghiêng) để tránh tì đè trực tiếp vào mấu chuyển (4). Đầu giường phải được nâng lên ở mức tối thiểu để tránh tác động của lực cắt (tức là lực mà bệnh nhân có thể gặp phải khi cần thay đổi tư thế). Khi thay đổi vị trí của bệnh nhân, cần phải sử dụng thiết bị nâng (ví dụ khung Stryker) hoặc khăn trải giường thay vì lôi kéo bệnh nhân để tránh ma sát không cần thiết. Bệnh nhân được đặt trong ghế nên được thay đổi vị trí mỗi giờ và khuyến khích tự thay đổi vị trí mỗi 15 phút.

Đệm bảo vệ như gối, đệm xốp và miếng bảo vệ gót chân có thể được đặt giữa và/hoặc dưới đầu gối, hai mắt cá chân và gót chân khi bệnh nhân nằm ngửa hoặc nằm nghiêng. Bệnh nhân bị cố định xương gãy thì vùng hở nên được tách khỏi khuôn thạch cao tại các vị trí áp lực. Đệm ghế mềm nên được cung cấp cho bệnh nhân có thể ngồi trên ghế.

Các bề mặt nâng đỡ phía dưới bệnh nhân nằm trên giường có thể được thay đổi để giảm áp lực. Các bề mặt này có thể tĩnh hoặc động. Các bề mặt thường kết hợp với các biện pháp khác nhau khi điều trị thương tổn do tì đè. Các bề mặt nâng đỡ được phân loại theo cơ chế hoạt động có cần điện hay không. Các bề mặt tĩnh không cần điện, trong khi bền mặt động thì cần điện.

Các bề mặt tĩnh bao gồm lớp phủ đệm chứa không khí, bọt, gel và nước bên dưới và đệm lò xo. Nệm hình khay trứng không có lợi. Nói chung, bề mặt tĩnh tăng diện tích hỗ trợ bề mặt và giảm áp lực và lực mài. Các bề mặt tĩnh truyền thống được sử dụng cho phòng chống thương tổn do tì đè hoặc thương tổn do tì đè giai đoạn I.

Các bề mặt động bao gồm nệm xen kẽ không khí, đệm không khí ở dưới, và đệm không khí. Ngoài việc giảm tì đè, một số loại nệm động còn tăng diện tích hỗ trợ, giảm nhiệt và thúc đẩy làm mát, đồng thời giảm lực cắt. Nệm chuyển đổi dòng không khí có các tế bào không khí được bơm xen kẽ và xì hơi bởi một máy bơm, do đó dịch chuyển áp lực hỗ trợ từ vị trí này sang vị trí khác. Nệm không khí bên dưới là những chiếc đệm có khả năng thấm khí, nó liên tục được thổi phồng không khí; dòng không khí có tác dụng làm khô bề mặt mô. Những tấm đệm chuyên dụng này được chỉ định cho bệnh nhân có các thương tổn do tì đè giai đoạn 1, những người tăng áp trên bề mặt tĩnh và cho bệnh nhân có các thương tổn do tì đè giai đoạn 3 hoặc 4. Nệm không khí hóa lỏng (không khí cao) có chứa các hạt bọc silicon hóa lỏng khi không khí được bơm qua giường. Ưu điểm của bề mặt hỗ trợ động bao gồm giảm độ ẩm và làm mát. Những tấm nệm này được chỉ định cho những bệnh nhân bị thương tổn do tì đè ở giai đoạn 3 và 4 không lành hoặc có nhiều thương tổn ở thân mình (xem bảng ).

So với một số bề mặt tĩnh (ví dụ: bọt), bề mặt không khí phản ứng (ví dụ: nệm không khí xen kẽ) có thể làm giảm nguy cơ bị loét do tì đè và có thể làm tăng khả năng lành vết loét hoàn toàn, tuy nhiên mức độ chắc chắn của bằng chứng hiện có là thấp (5). 

Việc giảm ma sát bằng cách sử dụng chất bảo vệ như vaselin đã được chứng minh là có thể giảm ma sát do thiết bị bảo vệ cá nhân gây ra ngay sau khi sử dụng. Tuy nhiên, cần phải bôi lại thường xuyên (mỗi giờ) để duy trì hiệu quả bảo vệ, hạn chế khả năng hữu ích của các chất bảo vệ đó.

Các chiến lược làm giảm độ ẩm, chẳng hạn như giải quyết kịp thời tình trạng tiểu tiện không tự chủ và giữ cho da sạch, khô và được bảo vệ khỏi độ ẩm quá mức bằng cách sử dụng kem hoặc băng bảo vệ thích hợp, cũng có thể giúp ngăn ngừa sự phát triển của tổn thương da liên quan đến độ ẩm và tổn thương do tì đè.

Bảng
Bảng

Chăm sóc vết thương trực tiếp

Chăm sóc vết thương gồm làm sạch, tẩy rửa và băng vết thương.

Việc vệ sinh cần phải được thực hiện ngay từ đầu và sau mỗi lần thay băng. Nước muối sinh lý thường là lựa chọn tốt nhất để làm dung dịch làm sạch. Làm sạch thường liên quan đến tưới nước ở áp suất đủ để loại bỏ vi khuẩn mà không làm tổn thương mô; ống tiêm, chai bóp, hoặc hệ thống điều áp điện có thể được sử dụng. Tưới nước cũng có thể giúp loại bỏ các mô hoại tử. Ngoài ra, có thể sử dụng ống tiêm 35 ml và catheter tĩnh mạch 18-gauge. Tưới nước nên tiếp tục cho đến khi không còn mảnh vụn nào. Thuốc sát trùng và dung dịch rửa sát trùng (ví dụ: iốt, hydro peroxide, natri hypoclorit) có thể phá hủy mô hạt khỏe mạnh và tế bào sừng, do đó cần phải tránh sử dụng. Tuy nhiên, các chất làm sạch vết thương có axit hypoclorit đã được phát triển có tác dụng làm giảm gánh nặng vi khuẩn mà không làm suy yếu chức năng tế bào bình thường và do đó có thể được sử dụng trong nhiều bối cảnh điều trị (6).

Làm sạch là cần thiết để loại bỏ mô hoại tử. Mô hoại tử là nơi phát triển của vi khuẩn, ngăn lành vết thương. Các phương pháp bao gồm:

  • Khử trùng cơ học: Phương pháp này bao gồm thủy liệu pháp (ví dụ bồn tạo sóng, rửa tạo nhịp đập) và thông thường nhất băng ướt đến khô. Làm sạch vết thương bằng cách tưới nước ở áp suất vừa đủ cũng có thể loại bỏ các mảnh vỡ. Phương pháp cắt lọc cơ học loại bỏ các mảnh vụn hoại tử trên bề mặt vết thương và chỉ nên thực hiện trên các vết thương có dịch tiết rất lỏng. Trong phương pháp băng ướt-khô, dịch tiết và mô hoại tử sẽ bám vào băng gạc khi băng khô, do đó việc tháo băng sẽ làm sạch vết thương; phương pháp này phải được sử dụng thận trọng vì việc thay băng rất đau và có thể loại bỏ mô hạt khỏe mạnh bên dưới (tức là mô cần thiết cho quá trình lành vết thương).

  • (Phẫu thuật) làm sạch bằng dao: Phương pháp này liên quan đến việc sử dụng một dao mổ vô trùng hoặc kéo để loại bỏ hoạt tử khô và hoại tử dày. Một lượng nhỏ vảy da hoặc mô có thể được loại bỏ ở giường bệnh nhân, nhưng các khu vực rộng hoặc sâu (ví dụ, nếu xương, gân hoặc khớp nằm bên dưới) cần loại bỏ trong phòng mổ.

  • Làm sạch tự động: Băng tổng hợp (hydrocolloids/hydrogel) hoặc băng bán kín (film trong suốt) được sử dụng để tạo điều kiện phân hủy các mô hoại tử bởi các enzym trong vết thương. Làm sạch tự động có thể được sử dụng cho các vết thương nhỏ hơn và ít có dịch. Không nên sử dụng phương pháp này nếu nghi ngờ nhiễm trùng vết thương.

  • Làm sạch bằng enzym: Những bệnh nhân bị xơ hóa hoặc hoại tử nhẹ có thể điều trị bằng kỹ thuật này (sử dụng collagenase, papain, fibrinolysin, deoxyribonuclease, hoặc streptokinase/streptodornase). Phương pháp này cũng có thể được sử dụng cho những bệnh nhân có người chăm sóc không được đào tạo để thực hiện phẫu thuật cắt lọc cơ học hoặc cho những bệnh nhân không thể chịu đựng được phẫu thuật. Phương pháp này là hiệu quả nhất sau khi mở dọc cận thân vết thương với một con dao để tăng sự thâm nhập.

  • Cắt lọc mô hoại tử sinh học: Liệu pháp giòi trong y tế rất hữu ích để loại bỏ các mô hoại tử chết một cách có chọn lọc; giòi (ấu trùng ruồi) chỉ ăn mô chết. Phương pháp này là hữu ích nhất ở những bệnh nhân đã lộ xương, gân và khớp trong vết thương, nơi chống chỉ định làm sạch bằng dao.

Băng có tác dụng bảo vệ vết thương và tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình lành vết thương. Băng cần phải được sử dụng cho các thương tổn do tì đè ở giai đoạn 1 do ma sát hoặc tiểu tiện không tự chủ và cho tất cả các thương tổn do tì đè khác (xem bảng ).

Trong giai đoạn I, thương tổn do tì đè chịu ma sát gia tăng, điều trị bằng màng trong suốt là đủ. Đối với những vết thương có ít dịch tiết, màng trong suốt hoặc hydrogel, là băng polyme liên kết chéo có dạng tấm hoặc gel, được sử dụng để bảo vệ vết thương khỏi bị nhiễm trùng và tạo ra môi trường ẩm giúp tối ưu hóa quá trình chữa lành sinh lý. Màng trong suốt hoặc hydrogel nên được thay đổi sau mỗi 3 đến 7 ngày.

Hydrocoloid, kết hợp gelatin, pectin và carboxymethylcellulose ở dạng tấm mỏng và bột, được chỉ định cho các thương tổn do tì đè có dịch tiết nhẹ và có thể để tại chỗ trong tối đa 1 tuần tùy thuộc vào lượng dịch thoát ra.

Alginate (dẫn xuất từ ​​rong biển polysaccharide có axit alginic), có dạng miếng đệm, dây, ruy băng và băng sợi tạo gel, được chỉ định để hấp thụ dịch tiết nhiều. Alginat cũng có đặc tính cầm máu hiệu quả trong việc kiểm soát chảy máu sau phẫu thuật cắt lọc. Cả hai loại băng này đều có thể sử dụng trong tối đa 7 ngày nhưng phải thay sớm hơn nếu bị thấm đẫm.

Băng bọt có thể được sử dụng trong các vết thương với mức độ dịch tiết khác nhau và cung cấp một môi trường ẩm bảo vệ để chữa lành vết thương. Băng dạng bọt thường có thể giữ nguyên vị trí trong vòng 7 ngày nhưng phải thay khi đã thấm đẫm. Các phiên bản không thấm nước bảo vệ da khỏi sự không tự chủ.

Bảng
Bảng

Quản lý đau

Thương tổn do tì đè có thể gây ra đau đáng kể. Đau nên được theo dõi thường xuyên bằng cách sử dụng một thang đo mức độ đau.

Điều trị đau cơ bản là điều trị chính thương tổn đó, nhưng thuốc chống viêm không steroid (NSAID) hoặc acetaminophen rất hữu ích để điều trị đau từ nhẹ đến trung bình. Nếu có thể, cần phải tránh dùng thuốc phiện vì thuốc an thần có thể gây tình trạng bất động. Tuy nhiên, các thuốc opioid hoặc các chế phẩm không opioid bôi tại chỗ như hỗn hợp thuốc gây tê tại chỗ có thể cần thiết trong quá trình thay băng và làm sạch.

Ở những bệnh nhân suy giảm nhận thức, những thay đổi về các sinh hiệu có thể được dùng làm chỉ báo về đau (ví dụ: nhịp tim nhanh, nhịp thở nhanh).

Kiểm soát nhiễm trùng

Chấn thương do áp lực cần được đánh giá liên tục về các dấu hiệu nhiễm khuẩn như tăng ban đỏ, mùi hôi, ấm áp, chảy dịch, sốt và số lượng bạch cầu cao. Lành vết thương kém làm tăng nguy cơ nhiễm trùng. Những dấu hiệu bất thường này cho thấy cần phải tiến hành nuôi cấy vết thương. Tuy nhiên, vì tất cả loét do áp lực bị bội nhiễm, nên cần thận trọng khi giả thích kết quả, điều trị dựa vào số lượng vi khuẩn hơn là sự có mặt của vi khuẩn.

Nhiễm trùng da nông hoặc có quần cư nghiêm trọng có thể được điều trị tại chỗ bằng các loại thuốc như bạc sulfadiazine, mupirocin, polymyxin B và metronidazole. Nên thận trọng khi sử dụng bạc sulfadiazine và các chất bôi ngoài da có màu đục tương tự vì các chất này có thể làm giảm khả năng nhìn thấy vết thương bên dưới và khó loại bỏ.

Cần phải cho dùng kháng sinh theo đường toàn thân để điều trị viêm mô tế bào, vãng khuẩn huyết hoặc viêm tủy xương. Cần phải tiến hành nuôi cấy mô và/hoặc nuôi cấy máu, sau đó bắt đầu dùng kháng sinh theo kinh nghiệm cho đến khi có kết quả mọc vi khuẩn trên môi trường nuôi cấy và kết quả về độ nhạy. Sau đó, việc điều trị cần phải được thu hẹp lại cho phù hợp dựa trên kết quả mọc trên môi trường nuôi cấy mô và kết quả về độ nhạy. Nuôi cấy mô luôn được ưu tiên hơn nuôi cấy que tăm bông lấy mẫu bệnh bề mặt khi có thể. Việc hạn chế sử dụng kháng sinh phổ rộng rất quan trọng để giúp ngăn ngừa tác dụng bất lợi, giảm thiểu tình trạng kháng thuốc của vi khuẩn và hạn chế sự phá vỡ hệ vi sinh vật đường ruột và da.

Đánh giá nhu cầu dinh dưỡng

Bằng chứng từ nhiều nghiên cứu khác nhau (bao gồm cả các thử nghiệm lâm sàng) nhấn mạnh tầm quan trọng của các biện pháp can thiệp bằng dinh dưỡng cá nhân hóa trong việc kiểm soát thương tổn do tì đè (7). Tình trạng thiếu dinh dưỡng gặp phổ biến ở những bệnh nhân có loét tì đè và là một yếu tố nguy cơ dẫn đến lành vết thương chậm. Các chất chỉ điểm về tình trạng thiếu dinh dưỡng bao gồm albumin < 3,5 g/dL (< 35 g/L) hoặc cân nặng < 80% mức lý tưởng. Protein ăn vào từ 1,25 đến 1,5 g/kg/ngày, đôi khi cần bổ sung đường uống, mũi dạ dày hoặc đường tiêm, là điều cần thiết để chữa bệnh đạt tối ưu.

Điều trị bổ trợ

Nhiều liệu pháp bổ sung để thúc đẩy quá trình chữa bệnh đang được đánh giá và lợi ích của các liệu pháp này vẫn chưa chắc chắn (3). Các liệu pháp này bao gồm như sau:

  • Trị liệu vết thương bằng áp suất âm (đóng vết thương bằng chân không hoặc VAC): Liệu pháp này được sử dụng để áp dụng lực hút vào vết thương. Nó có thể được sử dụng để làm sạch vết thương. Vẫn chưa có bằng chứng chất lượng cao về hiệu quả, nhưng liệu pháp điều trị vết thương bằng áp lực âm đã cho thấy một số hứa hẹn trong các nghiên cứu nhỏ.

  • Các yếu tố tăng trưởng tái tổ hợp tại chỗ: Một số bằng chứng cho thấy các yếu tố tăng trưởng tái tổ hợp tại chỗ (ví dụ: yếu tố tăng trưởng thần kinh, yếu tố tăng trưởng có nguồn gốc từ tiểu cầu) tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình lành vết thương.

  • Các sản phẩm dựa trên tế bào và mô: Chất nền tế bào và chất nền không tế bào (tức là chất thay thế da) đã được sử dụng để điều trị nhiều loại vết thương mạn tính và được báo cáo là có hiệu quả đối với các thương tổn do tì đè ở giai đoạn tiến triển, nhưng bằng chứng còn sơ bộ và chưa có thử nghiệm phân nhóm ngẫu nhiên.

  • Liệu pháp kích thích điện: Liệu pháp kích thích điện kết hợp với liệu pháp băng vết thương tiêu chuẩn có thể làm lành vết thương.

  • Liệu pháp oxy tăng áp: Liệu pháp này chưa được xác định là phương pháp điều trị tiêu chuẩn và vai trò của nó vẫn đang được nghiên cứu. Đó có thể được coi là phương pháp điều trị bổ sung trong một số trường hợp vết thương mạn tính không lành khó chữa.

  • Siêu âm điều trị: Đôi khi, siêu âm được sử dụng, nhưng không có bằng chứng rõ ràng nào về lợi ích hay tác hại.

  • Điện từ, quang trị liệu (laser), nhiệt, xoa bóp: Không có bằng chứng nào hỗ trợ hiệu quả của các phương pháp điều trị này.

Phẫu thuật

Các chỗ khuyết lớn cần phải phẫu thuật để đóng lại, đặc biệt là khi có liên quan đến việc lộ ra các cấu trúc cơ xương bên dưới.

Ghép da có ích cho các khiếm khuyết lớn, nông. Tuy nhiên, do ghép không làm tăng cung máu nên phải tiến hành các biện pháp để ngăn ngừa áp lực phát triển đến mức thiếu máu và suy nhược.

Các vạt da, bao gồm vạt cơ, vạt cân và vạt dựa trên lỗ xuyên, được ưa chuộng và là phương pháp đóng được lựa chọn trên các phần xương nhô ra lớn (thường là xương cùng, ụ ngồi và mấu chuyển) (8).

Phẫu thuật có thể nhanh chóng cải thiện chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân bị thương tổn do tì đè. Kết quả phẫu thuật sẽ tốt nhất nếu được điều trị tối ưu các yếu tố nguy cơ tiềm ẩn như thiếu dinh dưỡng và các rối loạn của bệnh lý đi kèm.

Tài liệu tham khảo về điều trị

  1. 1. Mervis JS, Phillips TJ. Pressure ulcers: Prevention and management. J Am Acad Dermatol. 2019;81(4):893-902. doi:10.1016/j.jaad.2018.12.068

  2. 2. Reddy M, Gill SS, Kalkar SR, et al. Treatment of pressure ulcers: a systematic review. JAMA. 2008;300(22):2647-2662. doi:10.1001/jama.2008.778

  3. 3. Qaseem A, Humphrey LL, Forciea MA, et al; Clinical Guidelines Committee of the American College of Physicians. Treatment of pressure ulcers: a clinical practice guideline from the American College of Physicians. Ann Intern Med. 2015;162(5):370-379. doi:10.7326/M14-1568

  4. 4. National Clinical Guideline Centre (UK). The Prevention and Management of Pressure Ulcers in Primary and Secondary Care: NICE Clinical Guidelines, No. 179 London: National Institute for Health and Care Excellence (NICE); 2014. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2025.

  5. 5. Shi C, Dumville JC, Cullum N, et al. Beds, overlays and mattresses for preventing and treating pressure ulcers: an overview of Cochrane Reviews and network meta-analysis. Cochrane Database Syst Rev. 2021;8(8):CD013761. Xuất bản ngày 16 tháng 8 năm 2021. doi:10.1002/14651858.CD013761.pub2

  6. 6. Mallow PJ, Black J, Chaffin AE, et al. The economic and quality effects of wound cleansing with pure hypochlorous acid: evidence-based evaluation and clinical experience. Wounds. 2024;36(10):S1-S13. doi:10.25270/wnds/24101

  7. 7. Kassym L, Zhetmekova Z, Kussainova A, et al. Pressure Ulcers and Nutrients: From Established Evidence to Gaps in Knowledge. Curr Med Chem. Xuất bản trực tuyến ngày 4 tháng 11 năm 2024. doi:10.2174/0109298673322825241018174928

  8. 8. Sameem M, Au M, Wood T, et al: A systematic review of complication and recurrence rates of musculocutaneous, fasciocutaneous, and perforator-based flaps for treatment of pressure sores. Plast Reconstr Surg 130(1):67e–77e, 2012 doi: 10.1097/PRS.0b013e318254b19f

Tiên lượng về thương tổn do tì đè

Tiên lượng cho các thương tổn do tì đè ở giai đoạn đầu rất tốt nếu được điều trị kịp thời và phù hợp, nhưng quá trình chữa lành thường mất nhiều tuần. Những thương tỏn do tì đè nghiêm trọng hơn cần thời gian chữa lành lâu hơn.

Các thương tổn do tì đè thường phát triển ở những bệnh nhân đang được chăm sóc dưới mức tối ưu và/hoặc có các rối loạn nghiêm trọng làm giảm khả năng chữa lành vết thương (ví dụ, tiểu đường, suy dinh dưỡng, bệnh động mạch ngoại vi). Nếu không thể tối ưu hóa việc chăm sóc thương tổn đó và xử trí các rối loạn đồng thời, kết quả lâu dài có thể kém, ngay cả khi thương tổn được chữa lành trong thời gian ngắn.

Phòng ngừa thương tổn do tì đè

Phòng ngừa đòi hỏi:

  • Xác định bệnh nhân có nguy cơ cao

  • Thay đổi tư thế

  • Chăm sóc và vệ sinh da cẩn thận

  • Tránh việc bất động

Nguy cơ của bệnh nhân cần phải được ước tính dựa trên đánh giá của bác sĩ lâm sàng có tay nghề cao và sử dụng thang đánh giá nguy cơ (ví dụ: , Thang đo Braden).

Điều trị và dự phòng bệnh trùng nhau đáng kể. Biện pháp phòng ngừa chính là giảm tì đè bằng cách thay đổi tư thế thường xuyên. Áp suất không nên liên tục trên bất kỳ bề mặt xương nào trong > 2 giờ. Những bệnh nhân không thể di chuyển được thì phải được thay đổi tư thế và lót bằng gối. Bệnh nhân phải được xoay ngay cả khi họ đang nằm trên nệm áp suất thấp. Các điểm áp suất cần được kiểm tra tình trạng da đỏ hoặc chấn thương ít nhất mỗi ngày một lần trong điều kiện ánh sáng đầy đủ. Bệnh nhân và người thân cần phải được hướng dẫn để kiểm tra bằng thị giác hàng ngày và đánh dấu các vị trí nguy cơ hình thành các thương tổn.

Ngăn ngừa sự thâm nhiễm và nhiễm trùng thứ phát cần chú ý hàng ngày đến vệ sinh và khô. Có thể sử dụng đệm bảo vệ, gối hoặc da cừu để tách các bề mặt cơ thể. Ga giường và quần áo nên được thay đổi thường xuyên. Ở những bệnh nhân không tự chủ, các thương tổn cần được bảo vệ khỏi sự nhiễm bẩn; có thể dùng băng tổng hợp. Có thể ngăn ngừa tình trạng tổn thương da bằng cách vệ sinh và lau khô cẩn thận (vỗ nhẹ chứ không chà xát da) và sử dụng kem và phấn chống nấm, kem dưỡng ẩm có chứa oxit kẽm hoặc khăn lau bảo vệ da. Việc sử dụng băng keo phải được giảm thiểu, bởi vì nó có thể gây kích ứng và thậm chí có thể rách da mỏng.

Quan trọng nhất là phải tránh cố định bất động. Các thuốc an thần cần được giảm thiểu và bệnh nhân cần được di chuyển nhanh nhất và an toàn nhất có thể.

Những điểm chính

  • Thương tỏn do tì đè có thể phát triển do bất động và nhập viện, đặc biệt ở những bệnh nhân > 65 tuổi hoặc trẻ sơ sinh, những người bị tiểu không tự chủ hoặc thiếu dinh dưỡng.

  • Căn cứ vào nguy cơ bị thương tổn do tì đè trên hệ thống đo lường tiêu chuẩn hóa cũng như đánh giá của các bác sĩ lâm sàng có tay nghề cao.

  • Thương tổn do tì đè được phân loại giai đoạn theo độ sâu, nhưng tổn thương mô có thể sâu hơn và nặng hơn so với những gì thấy được khi chỉ khám thực thể.

  • Đánh giá nhiễm trùng vết thương do áp lực tại vết thương nhiễm trùng (đôi khi biểu hiện là không liền), đường rò, viêm mô bào, sự lan truyền vi khuẩn (ví dụ, viêm nội tâm mạc hoặc viêm màng não), viêm tủy xương, và suy dinh dưỡng.

  • Điều trị và giúp ngăn ngừa tổn thương do áp lực bằng cách giảm áp lực, định vị lại thường xuyên, và sử dụng lớp đệm bảo vệ và các bề mặt hỗ trợ có thể động (bằng điện) hoặc tĩnh (không cấp điện).

  • Làm sạch và băng vết thương thường xuyên để giảm số lượng vi khuẩn và tạo điều kiện chữa lành.

  • Đắp màng trong suốt, hydrocolloid hoặc hydrogel (nếu dịch tiết ra ít), alginate hoặc băng sợi tạo gel (nếu dịch tiết ra nhiều) hoặc băng bọt (đối với lượng dịch tiết ra khác nhau).

  • Điều trị đau bằng thuốc giảm đau và điều trị viêm mô tế bào hoặc nhiễm trùng toàn thân bằng thuốc kháng sinh toàn thân có tác dụng nhắm đích.

  • Phẫu thuật đóng các khiếm khuyết lớn, đặc biệt là những khuyết tật có lộ cấu trúc cơ xương.

  • Trước khi phẫu thuật cần tối ưu hóa tình trạng dinh dưỡng và điều trị rối loạn kèm theo.

  • Giúp ngăn ngừa các thương tổn do tì đè ở những bệnh nhân có nguy cơ bằng cách chăm sóc vết thương cẩn thận, làm giảm tì đè và tránh bất động không cần thiết.

quizzes_lightbulb_red
Test your KnowledgeTake a Quiz!