MSD Manual

Hãy xác nhận rằng quý vị là chuyên gia chăm sóc sức khỏe

Đang tải

Tổng quan về Viêm màng não

Theo

John E. Greenlee

, MD,

  • University of Utah School of Medicine

Xem lại/Duyệt lại toàn bộ lần cuối Thg11 2017| Sửa đổi nội dung lần cuối cùng Thg12 2017
Nguồn chủ đề

(Đối với nhiễm trùng não, xem Tổng quan về Nhiễm trùng não; đối với viêm màng não sơ sinh, xem Viêm màng não do vi khuẩn sơ sinh.)

Viêm màng não là tình trạng viêm ở màng não và khoang dưới nhện. Nguyên nhân có thể là do nhiễm trùng, các bệnh lý khác hoặc do phản ứng với các thuốc. Độ nặng của bệnh và độ nguy hiểm khác nhau từng trường hợp. Triệu chứng điển hình bao gồm đau đầu, sốt, và cứng gáy, chẩn đoán dựa vào phân tích dịch não tủy. Điều trị bao gồm kháng sinh cũng như các biện pháp bổ trợ khác.

Viêm màng não có thể được phân loại thành cấp tính, bán cấp, mãn tính hoặc tái diễn. Viêm màng não cũng có thể phân loại theo nguyên nhân: vi khuẩn, virus, nấm, ký sinh trùng và các bệnh lý không nhiễm trùng. Nhưng, cách phân loại viêm màng não hữu dụng nhất trên lâm sàng là:

Viêm màng não cấp do vi khuẩn đặc biệt nghiêm trọng và tiến triển nhanh. Viêm màng não do virus và viêm màng não không nhiễm trùng thường tự giới hạn. Viêm màng não bán cấp và mãn tính thường tiến triển chậm hơn các viêm màng não khác, nhưng việc xác định nguyên nhân có thể khó khăn.

Viêm màng não vô khuẩn là một thuật ngữ cũ, đôi khi được sử dụng đồng nghĩa với viêm màng não do virut; tuy nhiên thuật ngữ này thường được đề cập khi nhắc tới viêm màng não do bất cứ nguyên nhân nào khác ngoài vi khuẩn thường gây viêm màng não cấp. Do đó, viêm màng não vô khuẩn có thể do

  • Virut

  • Các bệnh lý không nhiễm trùng (ví dụ thuốc hoặc các bệnh lý khác)

  • Do các sinh vật khác (ví dụ Borrelia burgdorferi trong bệnh Lyme, Treponema pallidum trong bệnh giang mai)

Triệu chứng và dấu hiệu

Triệu chứng và dấu hiệu của các loại viêm màng não khác nhau có thể khác nhau, đặc biệt là ở mức độ nghiêm trọng và mức độ nguy hiểm. Tuy nhiên, tất cả các loại viêm màng não thường gây ra các triệu chứng sau (ngoại trừ ở trẻ nhỏ, ở người rất già và những bệnh nhân suy giảm miễn dịch):

  • Đau đầu

  • Sốt

  • Gáy cứng (kích thích màng não)

Bệnh nhân có thể biểu hiện lơ mơ hoặc mê man

Gáy cứng, một dấu hiệu chỉ điểm chính của kích thích màng não, là sự chống lại việc gập cổ thụ động hoặc chủ động. Gáy cứng có thể biểu hiện muộn. Các dấu hiệu lâm sàng đối với sự co cứng cơ, từ độ nhạy thấp cho đến độ nhạy cao nhất là:

  • Dấu hiệu Kernig (chống lại sự duỗi đầu gối thụ động)

  • Dấu hiệu Brudzinski ( gấp hông hoặc đầu gối một phần hay hoàn toàn khi gập cổ)

  • Khó chạm cằm vào ngực với miệng khép

  • Khó chạm vùng trán hoặc cằm vào đầu gối

Dấu hiệu gáy cứng có thể phân biệt với cứng cổ do thoái hóa cột sống cổ hoặc cúm với đau cơ nặng; trong những bệnh lý này, sự chuyển động của cổ theo mọi hướng đều bị ảnh hưởng. Ngược lại, gáy cứng do kích thích màng não chủ yếu ảnh hưởng khi gấp cổ; do đó, cổ có thể xoay ngang nhưng không thể gấp lại.

Chẩn đoán

  • Phân tích dịch não tủy

Viêm màng não được chẩn đoán chủ yếu bằng phân tích DNT. Vì viêm màng não có thể gây nguy hiểm tính mạng và chọc dịch não tủy là một thủ thuật an toàn, nên khi nghi ngờ viêm màng não cần chỉ định chọc dịch não tủy. Từng loại viêm màng não có kết quả xét nghiệm dịch não tủy có xu hướng khác nhau, nhưng cũng có thể chồng lấp nhau.

Nếu bệnh nhân có các dấu hiệu gợi ý tăng áp lực nội sọ (ICP) hoặc hiệu ứng khối (ví dụ dấu hiệu thần kinh khu trú, phù gai thị, giảm ý thức, co giật, đặc biệt nếu bệnh nhân nhiễm HIV hoặc bị suy giảm miễn dịch) thì trước khi chọc dịch não tủy nên xem xét chỉ định chụp CLVT sọ não có tiêm thuốc cản quang hoặc CHT sọ não. Ở những bệnh nhân như vậy, chọc dịch não tủy có thể gây thoát vị não.

Ngoài ra, nếu nghi ngờ bệnh nhân mắc bệnh lý gây chảy máu thì chỉ khi những bệnh lý này được loại trừ hoặc kiểm soát mới chỉ định thủ thuật chọc dịch não tủy.

Khi chọc dịch não tủy bị trì hoãn, bệnh nhân nên được chỉ định cấy máu, sau đó điều trị bằng kháng sinh. Sau khi áp lực nội sọ được hạ thấp hơn, và không có hiệu ứng khối thì có thể tiến hành chọc dịch não tủy.

Nếu da vùng chọc dịch não tủy bị nhiễm trùng hoặc nghi ngờ bị nhiễm trùng tổ chức dưới da và viêm màng tủy vùng thắt lưng, bệnh nhân sẽ được chọc dịch não tủy tại vị trí khác, thông thường vào bể lớn hoặc phía trên cột sống cổ C2 dưới hướng dẫn của X quang.

Bảng
icon

Kết quả dịch não tủy trong viêm màng não

Bệnh lý

Loại tế bào chiếm ưu thế

Protein

Glucose *

Xét nghiệm đặc hiệu

DNT bình thường

Tổng số lympho bào (0-5 tế bào / μL)

<40 mg="">

> 50% đường huyết

không

Viêm màng não do vi khuẩn

Bạch cầu (thường là PMNs), thường tăng lên rất nhiều

tăng

<50% lượng đường trong máu (có thể rất thấp)

Nhuộm Gram ( dương tính nếu có 105 CFU vi khuẩn / mL )

Nuôi cấy vi khuẩn

PCR đa chuỗi nếu có thể

Viêm màng não do virus

Lymphocytes (có thể phối hợp, PMNs và lymphocytes trong 24-48 giờ đầu tiên)

Tăng

Thường bình thường

PCR đa chuỗi hoặc PCR thông thường (để tìm enteroviruses hoặc herpes simplex, herpes zoster hoặc virus West Nile)

IgM (để kiểm tra virus West Nile hoặc các arbovirus khác)

Viêm màng não do lao

PMNs và lymphocytes (thường là tăng Lypho bào dịch não tủy)

tăng

<50% lượng đường trong máu (có thể rất thấp)

Nhuộm AFB

PCR

Nuôi cấy Mycobacterial (thể tích mẫu DNT lý tưởng là ≥ 30 mL)

Xét nghiệm interferon gamma trong huyết thanh và DNT (nếu có thể)

Viêm màng não do nấm

Tế bào Lympho bình thường

Cao

<50% lượng đường trong máu (có thể rất thấp)

Xét nghiệm tìm kháng nguyên cryptococcus

PCR đa chuỗi nếu có thể

Xét nghiệm huyết thanh học đối với Coccidioides immitis hoặc kháng nguyên Histoplasma sp nếu bệnh nhân ở vùng dịch bệnh lưu hành gần đây

Nuôi cấy nấm (thể tích mẫu DNT lý tưởng là ≥ 30 mL)

Nhuộm mực tàu (đối với Cryptococcus sp)

*Những bệnh nhân suy giảm miễn dịch nặng có sự thay đổi số lượng tế bào, glucose và protein có thể rất ít.

Trong viêm màng não do lao, nhuộm AFB dịch não tủy không nhạy, độ nhạy của xét nghiệm PCR chỉ khoảng 50% và nuôi cấy cần đến 8 tuần. Các xét nghiệm interferon-gamma dương tính trong DNT chỉ ra viêm màng não lao, nhưng xét nghiệm gamma interferon trong huyết thanh chỉ có thể chỉ ra có sự nhiễm lao trước đó. Do đó, khó chẩn đoán xác định viêm màng não do lao và nếu nghi ngờ nhiều thậm chí nếu không chẩn đoán xác định được bệnh nhân vẫn cần điều trị lao.

Xpert MTB / RIF (một xét nghiệm khuếch đại tự động acid nucleic của MTB nhanh) có thể được sử dụng để phát hiện DNA của M. tuberculosis trong DNT.

Bình thường, dịch não tủy của trẻ sơ sinh hoặc sau cơn co giật có một số ít các tế bào.

PCR = Phản ứng chuỗi polymerase; PMNs = Bạch cầu hạt đa nhân

Điều trị

  • Điều trị kháng sinh theo chỉ định.

  • Điều trị bổ trợ

Viêm màng não nhiễm trùng được chỉ định điều trị kháng sinh theo lâm sàng.

Điều trị bổ trợ cho viêm màng não có thể bao gồm

  • Các biện pháp hỗ trợ

  • Điều trị biến chứng hoặc các bệnh lý phối hợp

  • Loại bỏ các thuốc có thể là nguyên nhân gây bệnh

  • Đối với viêm màng não vi khuẩn cỉ định sử dụng corticosteroid

Các chuyên gia đọc thêm

Cũng quan tâm

TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI

TRÊN CÙNG