MSD Manual

Hãy xác nhận rằng quý vị là chuyên gia chăm sóc sức khỏe

honeypot link

Thiếu máu thiếu sắt

(Thiếu máu do mất máu mạn: thiếu máu thiếu sắt ở thiếu nữ)

Theo

Evan M. Braunstein

, MD, PhD, Johns Hopkins School of Medicine

Xem lại/Duyệt lại toàn bộ lần cuối Thg11 2016| Sửa đổi nội dung lần cuối cùng Thg11 2016
Nguồn chủ đề

Thiếu sắt là nguyên nhân gây thiếu máu phổ biến nhất và thường là do mất máu; kém hấp thu là một nguyên nhân ít phổ biến hơn. Triệu chứng thường không đặc hiệu. Hồng cầu thường nhỏ, nhược sắc, sắt dự trữ thấp thể hiện ở nồng độ ferritin huyết thanh thấp, sắt thấp, khả năng gắn sắt toàn bộ cao Cần tìm nguyên nhân mất máu trước Điều trị cần bổ sung sắt và điều trị nguyên nhân gây ra mất máu.

Sinh lý bệnh

Sắt được phân phối ở dạng chuyển hóa hoạt động và dạng dự trữ. Tổng lượng sắt cơ thể khoảng 3,5 g ở người nam khỏe mạnh và 2,5 g ở phụ nữ; sự khác biệt có liên quan đến kích thước cơ thể của phụ nữ nhỏ hơn, và thiếu sắt dự trữ vì sắt bị mất do kinh nguyệt. Sự phân bố của sắt trong cơ thể là

  • Hemoglobin 2 g (nam), 1,5 g (phụ nữ)

  • Ferritin 1 g (nam), 0,6 g (phụ nữ)

  • Hemosiderin 300 mg

  • Myoglobin 200 mg

  • Ở Enzyme mô (heme và nonheme), 150 mg

  • sắt vận chuyển, 3 mg

Hấp thụ sắt

Sắt được hấp thu ở tá tràng và đoạn đầu ruột non. Sự hấp thụ sắt được xác định bởi loại phân tử sắt và các chất khác cùng được tiêu hóa. Sự hấp thụ sắt là tốt nhất khi thức ăn chứa sắt heme (thịt). Thức ăn sắt nonheme thường ở trạng thái sắt 3 và phải được khử xuống trạng thái sắt 2 và được giải phóng ra khỏi thức ăn nhờ chất tiết dạ dày. Sự hấp thu sắt nonheme bị giảm do các thực phẩm khác (ví dụ: chất xơ sợi thực vật và polyphenol, tannates chè, bao gồm phosphoprotein, cám) và một số kháng sinh (như tetracycline). Axit ascorbic là thành phần thức ăn phổ biến duy nhất được biết đến làm tăng sự hấp thu sắt nonheme.

Chế độ ăn uống trung bình của người Mỹ, có chứa 6 mg sắt nguyên tố / 1.000 kcal thực phẩm, là phù hợp cho nội cân bằng sắt. Trong khoảng 15 mg / ngày chất sắt trong khẩu phần, người lớn chỉ hấp thụ 1 mg, tức là xấp xỉ bằng số lượng sắt bị đào thải hàng ngày do bong tế bào da và ruột Khi suy kiệt sắt, sự hấp thu tăng lên do sự ức chế hepcidin, một chất điều hòa chuyển hóa sắt; tuy nhiên, sự hấp thụ hiếm khi tăng lên > 6 mg / ngày, trừ khi bổ sung sắt được thêm vào (1). Trẻ em có nhu cầu sắt cao hơn và dường như hấp thụ nhiều hơn để đáp ứng nhu cầu này.

Vận chuyển và sử dụng sắt

Sắt từ tế bào niêm mạc ruột chuyển sang transferrin, một protein vận chuyển sắt tổng hợp trong gan; transferrin có thể vận chuyển sắt từ các tế bào (ruột, đại thực bào) đến các thụ thể đặc hiệu trên nguyên hồng cầu, tế bào nhau thai, và các tế bào gan. Để tổng hợp heme, transferrin vận chuyển sắt đến ty thể của nguyên hồng cầu, đưa sắt vào protoporphyrin để trở thành heme. Transferrin (nửa đời sống là 8 ngày) được lấy lại để tái sử dụng. Tổng hợp transferrin tăng lên khi thiếu sắt nhưng giảm với bất kỳ dạng bệnh mạn tính nào.

Dự trữ sắt và tái sử dụng

Sắt không được sử dụng cho sinh hồng cầu được transferrin, một protein vận chuyển sắt, chuyển đến kho dự trữ; sắt được lưu trữ ở 2 dạng, ferritin và hemosiderin. Ferritin (là một nhóm protein không thuần nhất bao quanh một dây sắt) là dạng dữ trữ quan trọng nhất của sắt: hòa tan trong huyết thanh, lưu trữ trong gan (tế bào gan), trong tủy xương, lách (trong đại thực bào), trong hồng cầu. Sắt chứa trong ferritin có sẵn cho bất kỳ yêu cầu của cơ thể. Nồng độ ferritin tuần hoàn (huyết thanh) tỷ lệ thuận với dự trữ trong cơ thể (1 ng / mL = 8 mg sắt dự trữ). Dạng dự trữ thứ 2 của sắt là hemosiderin, chất này không hòa tan và được lưu giữ chủ yếu ở gan (trong tế bào Kupffer) và trong tủy xương (ở đại thực bào).

Vì sự hấp thụ sắt rất hạn chế nên cơ thể sẽ tái sử dụng và bảo quản sắt. Transferrin lấy và tái sử dụng sắt sẵn có từ các hồng cầu già bị các đại thực bào thực bào Cơ chế này cung cấp khoảng 97% nhu cầu sắt hàng ngày (khoảng 25 mg sắt). Với cơ chế này sắt dự trữ có xu hướng tăng vì sự đào thái sắt rất chậm

Thiếu sắt

Thiếu sắt phát triển theo từng giai đoạn. Trong giai đoạn đầu, nhu cầu sắt vượt quá lượng bổ sung, gây ra giảm lượng dự trữ ở tủy xương Khi dự trữ giảm, hấp thu sắt tăng lên để bù Trong giai đoạn sau, thiếu sắt làm ảnh hưởng tổng hợp hồng cầu, cuối cùng gây thiếu máu.

Thiếu sắt trầm trọng và kéo dài cũng có thể gây rối loạn chức năng của các enzyme tế bào có chứa sắt.

Tham khảo sinh lý học

  • Nemeth E, Tuttle MS, Powelson J, et al: Hepcidin điều hòa lượng sắt tế bào bằng cách kết hợp với ferroportin và kích thích sự hấp thu. Science 306(5704):2090-2093, 2004.

Nguyên nhân

Vì sắt bị hấp thu kém, chất sắt trong khẩu phần hầu như không đáp ứng yêu cầu hàng ngày đối với hầu hết mọi người. Mặc dù vậy, những người ăn một chế độ ăn kiêng kiểu phương Tây dường như không thể bị thiếu chất sắt chỉ vì thiếu chất dinh dưỡng. Tuy nhiên, ngay cả khi mất sắt rất ít, nhu cầu gia tăng, hoặc lượng thức ăn giảm cũng gây ra thiếu sắt.

Mất máu nguyên nhân gặp nhiều nhất. Ở nam giới và phụ nữ mãn kinh, nguyên nhân thường gặp nhất là chảy máu mạn tính, thường là từ đường tiêu hoá (ví dụ, từ bệnh viêm loét dạ dày, bệnh ác tính, bệnh trĩ). Ở phụ nữ chưa mãn kinh,mất sắt do mất máu kinh nguyệt tích lũy (trung bình, 0,5 mg sắt / ngày) là một nguyên nhân phổ biến. Xuất huyết đường ruột do nhiễm giun móc là một nguyên nhân phổ biến ở các nước đang phát triển. Những nguyên nhân ít gặp hơn bao gồm xuất huyết phổi tái diễn (xem phần Xuất huyết phế nang lan tỏa) và tan máu nội mạch mạn tính khi lượng sắt được thải ra trong quá trình tan máu vượt quá khả năng gắn của haptoglobin.

Tăng nhu cầu sắt có thể góp phần vào sự thiếu sắt. Từ khi sinh đến khi 2 tuổi và trong thời kỳ thanh thiếu niên, khi tăng trưởng nhanh đòi hỏi lượng sắt lớn, thì chất sắt chế độ ăn uống thường không thích hợp. Trong thời kỳ mang thai, nhu cầu sắt bào thai làm tăng nhu cầu sắt của bà mẹ (trung bình, 0,5 đến 0,8 mg / ngày-xem Thiếu máu ở thai kỳ) mặc dù không có kinh nguyệt. Cho con bú cũng làm tăng nhu cầu sắt (trung bình, 0.4 mg / ngày).

Giảm hấp thu sắt có thể là kết quả của cắt dạ dày hoặc hội chứng kém hấp thu như là bệnh celiac, viêm dạ dày ruột thiểu sản, và giảm tiết dịch vị Hiếm khi, sự hấp thụ giảm đi do thiếu dinh dưỡng.

Triệu chứng và Dấu hiệu

Hầu hết các triệu chứng thiếu sắt là do thiếu máu. Những triệu chứng như vậy bao gồm mệt mỏi, mất sức chịu đựng, thở dốc, yếu đuối, chóng mặt, và xanh xao.

Ngoài các biểu hiện thông thường của thiếu máu, một số triệu chứng có trong tình trạng thiếu sắt nghiêm trọng. Bệnh nhân có thể có chứng pica, ăn các chất bất thường (ví dụ như băng, bẩn, sơn). Các triệu chứng khác của sự thiếu hụt nghiêm trọng bao gồm viêm lưỡi, khô nứt môi và móng tay lõm (koilonychia).

Chẩn đoán

  • Tổng phân tích tế bào máu ngoại vi, sắt huyết thanh, khả năng gắn sắt, ferritin huyết thanh, độ bão hòa transferrin, hồng cầu lưới, độ rộng phân bố hồng cầu (RDW) và tiêu bản máu ngoại vi

  • Hiếm khi cần làm xét nghiệm tủy xương

Thiếu máu do thiếu sắt được nghi ngờ ở những bệnh nhân bị mất máu mạn tính hoặc thiếu máu hồng cầu nhỏ, đặc biệt nếu có chứng pica. Ở những bệnh nhân này, cần xét nghiệm tổng phân tích tế bào máu ngoại vi, khả năng gắn sắt và sắt huyết thanh, và ferritin huyết thanh và hồng cầu lưới.

Xét nghiệm sắt và khả năng gắn sắt (hoặc transferrin) rất quan trọng. Có nhiều loại xét nghiệm. Nói chung, sắt huyết thanh bình thường từ 75 đến 150 μg / dL (13 đến 27 μmol / L) đối với nam giới và từ 60 đến 140 μg / dL (từ 11 đến 25 μmol / L) đối với phụ nữ; khả năng gắn sắt toàn bộ từ 250 đến 450 μg / dL (45 đến 81 μmol / L). Nồng độ sắt huyết tương thấp khi thiếu sắt và trong nhiều bệnh mạn tính và tăng cao trong tan máu và trong hội chứng quá tải sắt. Khả năng gắn sắt tăng khi thiếu sắt, trong khi độ bão hòa transferrin giảm.

Nồng độ Ferritin huyết thanh tương quan chặt chẽ với dự trữ sắt cơ thể Dải bình thường ở hầu hết các phòng thí nghiệm là 30 đến 300 ng / mL, và trung bình là 88 ng / ml ở nam giới và 49 ng / ml ở phụ nữ. Mức thấp (<12 ng / mL) đặc hiệu đối với thiếu sắt. Tuy nhiên, ferritin cũng tăng phản ứng trong viêm và nhiễm trùng (ví dụ như viêm gan), và rối loạn tân sản (đặc biệt là lơ xê mi cấp, u lymphô Hodgkin và các khối u đường tiêu hoá). Trong các trường hợp này, ferritin huyết thanh đến 100 ng / mL vẫn có thể thiếu sắt.

Hồng cầu lưới giảm khi thiếu sắt. Trên tiêu bản máu ngoại vi thường thấy hồng cầu nhược sắc, nhiều hình dạng, nhiều kích thước, được phản ánh bằng độ rộng phân bố hồng cầu cao (RDW).

Tiêu chuẩn đặc trưng nhất của giảm sinh hồng cầu do thiếu sắt là không có sắt ở tủy xương mặc dù hiếm khi cần phải kiểm tra tủy xương.

Các giai đoạn thiếu sắt

Kết quả xét nghiệm trong phòng xét nghiệm giúp đánh giá giai đoạn thiếu máu thiếu sắt

Giai đoạn 1 được đặc trưng bởi giảm sắt dự trữ trong tủy xương, sắt trong Hb và huyết thanh vẫn bình thường, nhưng nồng độ ferritin huyết thanh giảm xuống <20 ng / mL. Trong các nguyên nhân do hấp thu sắt cơ thể sẽ bù lại bằng cách tăng khả năng gắn sắt (nồng độ transferin)

Giai đoạn 2, sinh hồng cầu bị hư. Mặc dù transferrin tăng lên nhưng nồng độ sắt huyết thanh giảm;độ bão hòa transferrin giảm. Sinh hồng cầu bị hư khi sắt huyết thanh giảm xuống <50 μg / dL (<9 μmol / L) và độ bão hòa transferrin xuống <16%. Nồng độ receptor của transferrin huyết thanh tăng lên (> 8,5 mg / L).

Giai đoạn 3, thiếu máu với hồng cầu và các chỉ số bình thường xuất hiện.

Giai đoạn 4, thiếu máu hồng cầu nhỏ nhược sắc

Giai đoạn 5, thiếu sắt ảnh hưởng đến mô, dẫn đến triệu chứng và dấu hiệu.

Chẩn đoán thiếu máu thiếu sắt cần tìm nguyên nhân, thường là chảy máu. Bệnh nhân bị mất máu rõ rệt (ví dụ phụ nữ có kinh nguyệt) có thể không cần xét nghiệm thêm. Nam giới và phụ nữ mãn kinh không bị mất máu rõ rệt nên được đánh giá về đường tiêu hóa, vì thiếu máu có thể là dấu hiệu duy nhất chỉ ra ung thư. Hiếm hơn là chảy máu mũi mạn tính hoặc chảy máu tiết niêu sinh dục.

Các thiếu máu hồng cầu nhỏ khác

Thiếu máu do thiếu sắt phải được phân biệt với những thiếu máu hồng cầu nhỏ khác (xem Bảng: Chẩn đoán phân biệt thiếu máu hồng cầu nhỏ do giảm sản xuất hồng cầu). Nếu xét nghiệm loại trừ thiếu sắt ở bệnh nhân thiếu máu hồng cầu nhỏ, cần nghĩ đến các bệnh thiếu máu của bệnh mạn tính, bất thường cấu trúc huyết sắc tố (ví dụ, bệnh huyết sác tố), . Các dấu hiệu lâm sàng, xét nghiệm liên quan huyết sắc tố (ví dụ, điện di Hb và Hb A2), và xét nghiệm gen (ví dụ, đối với alpha-thalassemia) có thể giúp phân biệt các bệnh này.

Bảng
icon

Chẩn đoán phân biệt thiếu máu hồng cầu nhỏ do giảm sản xuất hồng cầu

Tiêu chuẩn chẩn đoán

Thiếu sắt

Thiếu vận tải sắt

Sử dụng sắt trong nguyên bào sắt

Bệnh mạn tính / viêm

Tiêu bản máu ngoại vi

Hồng cầu nhỏ (M) nhược sắc(H)

M > H

M > H

M > H, có thể là kích thước bình thường

Thường gặp hồng cầu kích thước bình thường

Hồng cầu hình bia bắn đa sắc

không có

không có

xuất hiện

Không có

Hồng cầu có chấm

Không có

Không có

Không có

RBCs

Độ rộng phân bố RBC (RDW)

Bình thường

Sắt huyết thanh

Sắt huyết thanh

Bình thường hoặc giảm Normal or decreased(↓)

Khả năng gắn sắt

Bình thường

Bình thường hoặc giảm (↓)

% Bão hòa transferrin

< 10

0

> 50

Normal or decreased (0–50)Bình thường hoặc giảm (0-50)

Ferritin huyết thanh

(Bình thường, 30-300 ng / mL)

< 12 ng / mL

Thường là bình thường

> 400 ng / mL

30-400 ng / mL

Tủy xương

tỷ lệ hồng cầu/bạch cầu hạt (bình thường, 1: 3-1: 5)

1:1–1:2

1:1–1:2

1:1–5:1

1:1–1:2

Sắt tủy

Không có

Nguyên bào sắt vòng

Không có

Không có

Không có

>= phổ biến hơn;= tăng; = giảm.

Điều trị

  • Bổ sung sắt đường uống

  • Đôi khi truyền tĩnh mạch

Không nên chỉ bổ sung sắt mà không tìm nguyên nhân, cần phát hiện vị trí chảy máu ngay cả khi có thiếu máu nhẹ

Sắt có thể được cung cấp bởi các muối sắt khác nhau (ví dụ như sắt sulfat, gluconat, fumarat) hoặc saccharate, uống sắt trước bữa ăn 30 phút (thực phẩm hoặc thuốc kháng acid có thể làm giảm hấp thu). Một liều khởi đầu điển hình là 60 mg sắt nguyên tố (ví dụ, như 325 mg sulfate sắt) cho một lần / ngày (1). Liều lớn hơn phần lớn không bị hấp thụ nhưng tăng tác dụng phụ. Vitamin C hoặc nước cam sẽ tăng cường hấp thu sắt mà không gây kích thích dạ dày.

Truyền sắt có đáp ứng điều trị tương tự như sắt uống nhưng có thể gây ra các phản ứng phụ, như phản ứng phản vệ, bệnh huyết thanh, viêm thành mạch huyết khối và đau. Thường dành riêng cho những bệnh nhân không dung nạp hoặc không uống sắt uống hoặc cho những bệnh nhân bị mất nhiều máu do rối loạn mạch máu (ví dụ, giãn mao mạch xuất huyết di truyền). Liều tiêm truyền do bác xỹ huyết học Điều trị sắt cần 6 tháng sau khi hiệu chỉnh mức Hb để bổ sung dự trữ sắt ở mô.

Đánh giá điều trị bằng xét nghiệm Hb hàng tuần cho đến khi đạt mức bình thường Hb tăng ít trong 2 tuần nhưng sau đó tăng 0,7 đến 1 g / tuần cho đến khi gần bình thường Thiếu máu nên được điều chỉnh trong vòng 2 tháng. Đáp ứng dưới bình thường có thể do xuất huyết tiếp tục, nhiễm trùng hoặc ung thư, thường không cung cấp đủ sắt hoặc kém hấp thu thiếu.

Tham khảo điều trị

  • Moretti D, Goede JS, Zeder C, et al: Chất bổ sung sắt uống làm tăng hepcidin và làm giảm sự hấp thu sắt từ liều hàng ngày hoặc hai lần mỗi ngày ở những phụ nữ trẻ bị thiếu sắt. Blood 126 (17): 1981-1989, 2015. doi: 10.1182 / blood-2015-05-642223.

Những điểm chính

  • Thiếu máu do thiếu sắt thường gây ra bởi mất máu (ví dụ như xuất huyết tiêu hóa, kinh nguyệt) nhưng có thể là do tan máu, giảm hấp thu hoặc tăng nhu cầu sắt (ví dụ như trong giai đoạn mang thai, cho con bú, thời kỳ tăng trưởng nhanh ở trẻ em).

  • Phân biệt thiếu máu thiếu sắt với các thiếu máu hồng cầu nhỏ khác (ví dụ, thiếu máu của bệnh mạn tính, bệnh huyết sắc tố).

  • Đo nồng độ sắt huyết thanh, khả năng gắn sắt, và nồng độ ferritin trong huyết thanh.

  • Thiếu sắt thường gây ra sắt huyết thanh thấp, khả năng gắn sắt cao, và nồng độ ferritin huyết thanh thấp.

  • Luôn tìm nguyên nhân gây thiếu sắt, ngay cả khi thiếu máu nhẹ.

  • Bổ sung sắt đường uống thích hợp; thận trọng dùng sắt đường tĩnh mạch vì tác dụng phụ (ví dụ, phản ứng phản vệ, bệnh huyết thanh, chứng huyết khối tĩnh mạch).

Các chuyên gia đọc thêm

Kiểm tra kiến thức của quý vị

Hội chứng đau cục bộ phức hợp
Đặc điểm nào sau đây của hội chứng đau khu trú phức hợp (complex regional pain syndrome, CRPS) tuýp II là cách phân biệt tốt nhất với CRPS tuýp I?

Cũng quan tâm

TRÊN CÙNG