Viêm mê nhĩ mủ

(viêm mê đạo mủ)

TheoMickie Hamiter, MD, Tampa Bay Hearing and Balance Center
Xem xét bởiLawrence R. Lustig, MD, Columbia University Medical Center and New York Presbyterian Hospital
Đã xem xét/Đã chỉnh sửa đã sửa đổi Thg 10 2025
v944913_vi

Viêm mê đạo mủ là nhiễm trùng tai trong do vi khuẩn, thường gây điếc và mất chức năng tiền đình.

Viêm mê đạo mủ thường xảy ra khi vi khuẩn lan đến tai trong (ốc tai và cấu trúc tiền đình) là một biến chứng của viêm tai giữa cấp tính nặng hoặc viêm tai giữa có mủ mạn tính, viêm màng não mủ, chấn thương gây gãy mê đạo kèm theo nhiễm trùng hoặc u cholesteatoma phát triển. Viêm tai giữa có mủ mạn tính dẫn đến viêm mê đạo mủ ở khoảng 9% số trường hợp có các biến chứng (1). Trong một phân tích hồi cứu gồm 20 bệnh nhân bị các biến chứng ở tai trong và/hoặc liệt mặt sau viêm tai giữa cấp tính trong khoảng thời gian 14 năm, 2 người (10%) bị viêm mê đạo mủ (2). Vi rút cũng có thể gây viêm mê đạo; tuy nhiên, nhiễm trùng do đó thường không có mủ.

Sinh lý bệnh của viêm mê đạo mủ liên quan đến sự xâm nhập của vi khuẩn vào các khoảng quanh bạch huyết thông qua ống dẫn ốc tai, dẫn đến tình trạng phá vỡ hàng rào máu-mê đạo và những thay đổi có mủ ở mê đạo; tổn thương tế bào lông và chết tế bào thần kinh ở hạch xoắn ốc xảy ra sau đó, có thể dẫn đến nghe kém tiếp nhận (3).

Tài liệu tham khảo

  1. 1. Yorgancılar E, Yildirim M, Gun R, et al. Complications of chronic suppurative otitis media: a retrospective review. Eur Arch Otorhinolaryngol. 2013;270(1):69-76. doi:10.1007/s00405-012-1924-8

  2. 2. Hydén D, Akerlind B, Peebo M. Inner ear and facial nerve complications of acute otitis media with focus on bacteriology and virology. Acta Otolaryngol. 2006;126(5):460-466. doi:10.1080/00016480500401043

  3. 3. Klein M, Koedel U, Kastenbauer S, Pfister HW. Nitrogen and oxygen molecules in meningitis-associated labyrinthitis and hearing impairment. Infection. 2008;36(1):2-14. doi:10.1007/s15010-007-7153-1

Triệu chứng và dấu hiệu của Viêm mê nhĩ mủ

Vì viêm mê đạo mủ làm thương tổn đến cả vùng tiền đình và ốc tai của tai trong nên các triệu chứng của viêm mê đạo mủ bao gồm:

  • Chóng mặt nặng và động mắt

  • Buồn nôn và nôn

  • Ù tai

  • Các mức độ nghe kém khác nhau

Đau tai và sốt là triệu chứng thường gặp. Có thể có tình trạng suy giảm dáng đi do mất thăng bằng.

Chẩn đoán Viêm mê nhĩ mủ

  • CT xương thái dương

  • Có thể MRI

  • Đôi khi chọc dịch não tủy

  • Thính lực đồ

Nghi ngờ viêm mê đạo mủ nếu chóng mặt, rung giật nhãn cầu, nghe kém tiếp nhận hoặc kết hợp xảy ra trong một đợt viêm tai giữa cấp tính, chấn thương hoặc lây lan nhiễm trùng mãn tính (ví dụ, biến chứng của cholesteatoma). CT của xương thái dương được thực hiện để xác định sự ăn mòn của xương mê nhĩ hay các biến chứng khác của viêm tai giữa cấp, như viêm xương chũm cấp. Chụp MRI có thể được chỉ định nếu có các triệu chứng của viêm màng não hoặc áp xe não, chẳng hạn như tình trạng tâm thần thay đổi, kích thích màng não hoặc sốt cao; trong những trường hợp như vậy, chọc dò tủy sống và cấy máu cũng được thực hiện. Đo thính lực đồ cũng có thể được thực hiện để phát hiện tình trạng nghe kém tiếp nhận.

Điều trị Viêm mê nhĩ mủ

  • Kháng sinh theo đường tĩnh mạch (IV)

  • Trích nhĩ

  • Đôi khi chỉnh hình tai giữa cần thiết

Điều trị viêm mê đạo mủ bằng kháng sinh phù hợp với điều trị viêm màng não theo đường tĩnh mạch (ví dụ: ceftriaxone theo đường tĩnh mạch một lần mỗi ngày). Ceftazidime thường được thay thế cho ceftriaxone trong điều trị các bệnh nhiễm trùng bệnh viện để có tác dụng với Pseudomonas aeruginosa. Thuốc kháng sinh sau đó được điều chỉnh theo kết quả nuôi cấy và xét nghiệm độ nhạy.

Trích màng nhĩ (và đôi khi là đặt ống thông khí) được thực hiện để dẫn lưu mủ tai giữa. Có thể cần phải khoét chũm.

quizzes_lightbulb_red
Test your KnowledgeTake a Quiz!