Bệnh Legg-Calvé-Perthes là một bệnh xương sụn liên quan đến tình trạng hoại tử vô khuẩn tự phát của chỏm xương đùi. Chẩn đoán chủ yếu dựa trên tiền sử bệnh và các dấu hiệu khi khám thực thể, nhưng thường phải chụp X-quang. Điều trị bao gồm nghỉ ngơi tại giường và bất động.
Tỷ lệ mắc bệnh Legg-Calvé-Perthes cao nhất ở trẻ em từ 5 tuổi đến 10 tuổi và bệnh này phổ biến hơn ở trẻ trai. Bệnh thường xảy ra ở một bên; tình trạng này xảy ra ở cả hai bên chiếm khoảng 10% số trường hợp. Tỷ lệ hiện mắc khác nhau tùy theo địa lý và dân số bệnh nhân, ảnh hưởng tới 29/100.000 trẻ em dưới 15 tuổi, với tỷ lệ hiện mắc cao nhất ở trẻ em Da trắng (1). Khoảng 10% số trường hợp có tính chất gia đình, nhưng các yếu tố di truyền góp phần gây bệnh vẫn chưa được xác định rõ ràng.
Các triệu chứng đặc trưng của bệnh Legg-Calvé-Perthes là đau ở khớp háng và rối loạn dáng đi (ví dụ như đi khập khiễng); một số trẻ cũng bị đau ở đầu gối. Khởi phát từ từ tăng dần và sự tiến triển chậm. Các cử động của khớp có thể bị hạn chế và các cơ đùi có thể bị teo lại.
Tài liệu tham khảo chung
1. MedlinePlus [Internet]. Bethesda (MD): National Library of Medicine (US); [cập nhật ngày 24 tháng 6 năm 2020]. Legg-Calvé-Perthes disease; [cập nhật ngày 9 tháng 12 năm 2024; trích dẫn ngày 9 tháng 6 năm 2025].
Chẩn đoán bệnh Legg-Calvé-Perthes
Chủ yếu là bệnh sử và khám thực thể
Thường là chụp X-quang
Đôi khi cần chụp MRI
Chẩn đoán bệnh Legg-Calvé-Perthes được đưa ra dựa trên các triệu chứng.
Thông thường, bệnh nhân sẽ được chụp X-quang và nếu cần, sẽ chụp MRI để xác nhận chẩn đoán và mức độ tổn thương. Các phim chụp X-quang ban đầu có thể không mang tính chẩn đoán vì các phim này có thể bình thường hoặc xương chỉ phẳng ở mức độ không đáng kể. Các phim chụp X-quang ở giai đoạn sau của bệnh có thể cho thấy tình trạng phân mảnh ở đầu xương đùi, bao gồm các vùng trong suốt và xơ cứng.
Trong các trường hợp hai bên hoặc có tính gia đình, cần phải chụp X-quang xương để loại trừ các bệnh xương di truyền, đặc biệt là loạn sản nhiều đầu xương, vì tiên lượng và cách điều trị tối ưu sẽ khác nhau. Suy giáp, thiếu máu hồng cầu hình liềm, sử dụng glucocorticoid lâu dài và chấn thương cũng phải được loại trừ.
Điều trị bệnh Legg-Calvé-Perthes
Nghỉ ngơi và hạn chế vận động
Đôi khi phẫu thuật
Việc xử trí bệnh Legg-Calvé-Perthes nhằm mục đích bảo tồn hình cầu của đầu xương đùi và duy trì chức năng khớp háng. Điều trị chỉnh hình cho bệnh này bao gồm nghỉ ngơi trên giường trong thời gian dài, kéo giãn di động, treo và bó bột và nẹp để cố định đầu xương đùi.
Nếu trẻ trên 6 tuổi và bị tiêu xương ở mức độ trung bình hoặc nặng, phẫu thuật có thể có hiệu quả. Một số chuyên gia ủng hộ phẫu thuật cắt xương dưới mấu chuyển với cố định bên trong sau đó cho bệnh nhân đi lại sớm.
Bisphosphonates đã có hiệu quả trong các thử nghiệm ban đầu, nhưng cần có thêm các nghiên cứu (1).
Tài liệu tham khảo về điều trị
1. Kumar V, Ali S, Verma V, Singh A. Do bisphosphonates alter the clinico-radiological profile of children with Perthes disease? A systematic review and meta-analysis. Eur Rev Med Pharmacol Sci. 2021;25(15):4875-4894. doi:10.26355/eurrev_202108_26445
Tiên lượng về bệnh Legg-Calvé-Perthes
Nếu không điều trị, bệnh thường kéo dài nhưng tự giới hạn (thường từ 2 đến 3 năm). Khi bệnh tiến triển không hồi phục, phần còn lại của chỏm xương đùi và ổ cối bị biến dạng và là tiền đề dẫn đến viêm xương khớp thoái hóa thứ phát.
Nếu được điều trị bệnh ít di chứng nghiêm trọng hơn. Trẻ em < 8 tuổi và trẻ em bị tiêu xương ở đầu xương đùi ít hơn (tức là khi chiều cao của trụ bên > 50%) khi có chẩn đoán có kết quả tốt nhất (1).
Tài liệu tham khảo về tiên lượng
1. Herring JA, Kim HT, Browne R. Legg-Calve-Perthes disease. Part II: Prospective multicenter study of the effect of treatment on outcome. J Bone Joint Surg Am. 2004;86(10):2121-2134.
