Tổng quan bất thường về nhiễm sắc thể

TheoNina N. Powell-Hamilton, MD, Sidney Kimmel Medical College at Thomas Jefferson University
Xem xét bởiAlicia R. Pekarsky, MD, State University of New York Upstate Medical University, Upstate Golisano Children's Hospital
Đã xem xét/Đã chỉnh sửa đã sửa đổi Thg 9 2025
v1098843_vi

Các bất thường ở nhiễm sắc thể là những biến đổi di truyền liên quan đến số lượng hoặc cấu trúc của nhiễm sắc thể. Các bất thường này gây ra nhiều bệnh lý khác nhau. Các bất thường ảnh hưởng đến nhiễm sắc thể thường (22 cặp nhiễm sắc thể giống nhau ở nam và nữ) phổ biến hơn những bất thường ảnh hưởng đến nhiễm sắc thể giới tính (X và Y) (1).

Những bất thường về số lượng có thể liên quan đến một phần hoặc toàn bộ nhiễm sắc thể.

Các bất thường về số lượng bao gồm:

  • Trisomy: 3 nhiễm sắc thể (thêm một nhiễm sắc thể)

  • Monosomy: một nhiễm sắc thể (mất một nhiễm sắc thể)

Các bất thường về cấu trúc bao gồm:

  • Đột biến chuyển đoạn (những bất thường trong đó toàn bộ nhiễm sắc thể hoặc các đoạn nhiễm sắc thể kết hợp không đúng cách với các nhiễm sắc thể khác)

  • Đột biến mất đoạn và đột biến lặp đoạn các phần khác nhau của nhiễm sắc thể

Thuật ngữ

Một số thuật ngữ cụ thể trong lĩnh vực di truyền học rất quan trọng để mô tả các bất thường về nhiễm sắc thể:

  • Aneuploidy: Các bất thường nhiễm sắc thể phổ biến nhất gây ra bởi thêm hoặc mất một nhiếm sắc thể.

  • Karyotype: Tập hợp toàn bộ các nhiễm sắc thể trong tế bào của người.

  • Genotype: Bộ gen được quy định bởi các nhiễm sắc thể.

  • Kiểu hình: Các dấu hiệu lâm sàng của người đó bao gồm hình dáng bên ngoài – thành phần sinh hóa, sinh lý và thể chất được xác định bởi kiểu gen và các yếu tố môi trường (xem Nguyên tắc chung về di truyền y học).

  • Thuyết thể khảm: Sự có mặt của ≥ 2 dòng tế bào khác nhau về kiểu gen ở người đã phát triển từ một trứng thụ tinh duy nhất.

Tài liệu tham khảo chung

  1. 1. Suciu N, Plaiasu V. A time stamp comparative analysis of frequent chromosomal abnormalities in Romanian patients. J Matern Fetal Neonatal Med. 2014;27(1):1-6. doi:10.3109/14767058.2013.794215

Chẩn đoán bất thường nhiễm sắc thể

  • Phân tích nhiễm sắc thể (karyotyping)

  • Dải

  • Phương pháp lai tại chỗ gắn huỳnh quang (FISH)

  • Phân tích vi mảng nhiễm sắc thể (lai ghép bộ gen so sánh mảng)

(Xem thêm Công nghệ giải trình tự thế hệ tiếp theo.)

Các bất thường lớn hơn về nhiễm sắc thể có thể nhìn thấy ở cấp độ vi mô (ví dụ: trên kiểu nhân) so với các vi đột biến mất đoạn, vi đột biến lặp đoạn và khiếm khuyết gen đơn lẻ (như đột biến chèn cặp bazơ, đột biến mất đoạn, đột biến đảo đoạn hoặc đột biến thay thế đoạn), đòi hỏi phải xét nghiệm chuyên sâu hơn. Nguyên phân là trọng tâm phân tích trong nhiều nghiên cứu về nhiễm sắc thể vì nó tạo ra các tế bào soma có nhiễm sắc thể lưỡng bội rõ ràng, nơi các bất thường có thể dễ dàng quan sát được. Các giai đoạn của nguyên phân theo thứ tự thời gian là kỳ đầu, kỳ giữa, kỳ giữa (kỳ mà nhiễm sắc thể cô đặc nhất), kỳ sau và kỳ cuối.

Phân tích nhiễm sắc thể thường liên quan đến việc sử dụng bạch cầu lympho, ngoại trừ trước khi sinh, khi sử dụng tế bào màng ối hoặc tế bào từ nhung mao nhau thai (xem Chọc ốiLấy mẫu nhung mao màng đệm). Phân tích karyotype là việc khóa tế bào ở thời kì trung gian trong quá trình phân bào và nhuộm cố định nhiễm sắc thể. Nhiễm sắc thể từ các tế bào đơn lẻ được chụp ảnh bằng hệ thống chụp ảnh kỹ thuật số và hình ảnh của các nhiễm sắc thể được sắp xếp, tạo thành kiểu nhân tế bào.

Một số kỹ thuật được sử dụng để phân biệt tốt hơn các nhiễm sắc thể:

  • Kỹ thuật nhuộm dải cổ điển (ví dụ: nhuộm dải G [Giemsa], nhuộm dải Q [huỳnh quang] và nhuộm dải C) sử dụng thuốc nhuộm để nhuộm các dải trên các nhiễm sắc thể.

  • Phân tích nhiễm sắc thể độ phân giải cao sử dụng các phương pháp nuôi cấy đặc biệt để có được tỷ lệ phần trăm lan truyền tiền kỳ phân bào và kỳ giữa sớm ở mức cao. Do sự chiếm ưu thế của tiền ký phân bào và kỳ giữa sớm, nhiễm sắc thể ít bị cô đặc hơn so với phân tích kỳ giữa thông thường và số lượng dải có thể nhận dạng được mở rộng, cho phép phân tích kiểu nhân nhạy hơn.

  • Phân tích kiểu nhân theo phổ (còn gọi là vẽ nhiễm sắc thể) sử dụng kỹ thuật lai huỳnh quang tại chỗ (FISH) nhiều màu đặc hiệu nhiễm sắc thể giúp cải thiện khả năng hiển thị một số khiếm khuyết, bao gồm các đột biến chuyển đoạn và các đột biến đảo đoạn.

  • Phân tích vi mảng nhiễm sắc thể (CMA), còn gọi là lai ghép so sánh bộ gen mảng (aCGH), là một kỹ thuật một bước cho phép quét toàn bộ bộ gen để tìm các bất thường về định lượng nhiễm sắc thể, bao gồm tăng (đột biến lặp đoạn) hoặc giảm (đột biến mất đoạn), điều này cũng có thể gợi ý về đột biến chuyển đoạn không cân bằng. Phân tích mảng đa hình đơn nucleotide (SNP) là một loại CMA có thêm khả năng phát hiện các vùng đồng hợp tử, có thể thấy trong các trường hợp cha mẹ có chung tổ tiên (cùng huyết thống), và cũng có khi có dị nhiễm sắc thể đơn bội (tức là cả hai bản sao của nhiễm sắc thể hoặc một phần của nhiễm sắc thể, được thừa hưởng từ một trong hai cha mẹ, thay vì 1 bản sao từ mẹ và 1 bản sao từ cha). Điều quan trọng cần lưu ý là CMA không phát hiện ra các đột biến xắp xếp lại đoạn cân bằng (ví dụ: đột biến chuyển đoạn, đột biến đảo đoạn), không liên quan đến đột biến mất đoạn hoặc đột biến lặp đoạn.

Sàng lọc

Phương pháp sàng lọc trước sinh không xâm lấn (NIPS) được sử dụng để xét nghiệm sàng lọc di truyền trước sinh (1). Những phương pháp này liên quan đến việc thu thập các chuỗi DNA của thai nhi không có tế bào từ mẫu máu của người mẹ, chủ yếu dành cho trisomy 21 (hội chứng Down), trisomy 13, trisomy 18 và lệch bội lẻ nhiễm sắc thể giới tính. NIPS cũng được sử dụng làm một xét nghiệm sàng lọc các hội chứng vi đột biến mất đoạn phổ biến (ví dụ: đột biến mất đoạn 22q11). Độ nhạy và độ đặc hiệu của NIPS thay đổi tùy theo các bất thường khác nhau của nhiễm sắc thể. Khuyến nghị rằng bất kỳ bất thường nào được phát hiện với NIPS đều cần phải được xác nhận bằng xét nghiệm chẩn đoán.

Tài liệu tham khảo về sàng lọc

  1. 1. American College of Obstetricians and Gynecologists’ Committee on Practice Bulletins—Obstetrics; Committee on Genetics; Society for Maternal-Fetal Medicine. Screening for fetal chromosomal abnormalities: ACOG Practice Bulletin, Number 226. Obstet Gynecol. 2020;136(4):e48-e69. doi:10.1097/AOG.0000000000004084

quizzes_lightbulb_red
Test your KnowledgeTake a Quiz!