MSD Manual

Hãy xác nhận rằng quý vị là chuyên gia chăm sóc sức khỏe

honeypot link

Viêm tiểu phế quản

Theo

Rajeev Bhatia

, MD, Phoenix Children's Hospital

Xem lại/Duyệt lại toàn bộ lần cuối Thg10 2016| Sửa đổi nội dung lần cuối cùng Thg10 2016

Viêm tiểu phế quản là một bệnh lý nhiễm virut cấp tính của đường hô hấp dưới ở trẻ < 24 tháng và đặc trưng bởi suy hô hấp, khò khè và rales nổ. Chẩn đoán dựa vào bệnh sử, dịch tễ; nguyên nhân chính virut hợp bào hô hấp, có thể được xác định bằng test nhanh. Điều trị hỗ trợ oxy và đảm bảo dịch. Tiên đoán nói chung tốt, nhưng một số bệnh nhân bị ngừng thở hoặc suy hô hấp.

Viêm tiểu phế quản thường xảy ra thành vụ dịch và chủ yếu ở trẻ em < 24 tháng, với tỷ lệ cao từ 2 tháng đến 6 tháng tuổi. Tỷ lệ mắc bệnh trong năm đầu đời khoảng 11 ca / 100 trẻ. Ở khu vực ôn đới, hầu hết các trường hợp xảy ra giữa tháng 11 và tháng 4, với tỷ lệ cao điểm vào tháng 1 và tháng 2.

Nguyên nhân

Phần lớn các trường hợp viêm tiểu phế quản gây ra bởi

Các nguyên nhân ít gặp hơn là vi-rút cúm A và B, á cúm type 1 và 2, metapneumovirus, adenoviruses, và Mycoplasma pneumoniae.

Sinh lý bệnh

Vi rút lan từ đường hô hấp trên xuống phế quản trung bình và nhỏ và tiểu phế quản, gây hoại tử biểu mô và bắt đầu phản ứng viêm. Phù nề và xuất tiết tiến triển dẫn đến tắc nghẽn đường thở một phần, được ghi nhận nhiều nhất ở thì thở ra và dẫn đến ứ khí phế nang. Tắc nghẽn đường thở hoàn toàn và hấp thu không khí trong bẫy khí có thể dẫn đến nhiều vùng xẹp phổi, hiện tượng này trầm trọng hơn khi cho thở oxy nồng độ cao.

Triệu chứng và Dấu hiệu

Thông thường, trẻ nhũ nhi viêm tiểu phế quản có biểu hiện viêm đường hô hấp trên tiến triển nặng dần đến suy hô hấp với đặc điểm thở nhanh, rút lõm lồng ngực và khò khè hoặc ho nhiều. Trẻ nhỏ (<2 tháng) và trẻ nhũ nhi đẻ non có thể biểu hiện cơn ngừng thở tái diễn sau khi xuất hiện các triệu chứng điển hình sau 24 đến 48 giờ. Các dấu hiệu suy hô hấp bao gồm tím , rút lõm lồng ngực mạnh và thở khò khè. Thường sốt nhưng không phải lúc nào cũng có. Ban đầu trẻ không có tình trạng nhiễm độc và suy hô hấp mặc dù có thở nhanh và rút lõm lồng ngực, nhưng có thể li bì dần khi tình trạng nhiễm trùng tiến triển. Thiếu oxy máu xảy ra ở những trẻ bị bệnh nặng hơn.

Trẻ nôn và ăn uống kém có thể dẫn đến tình trạng mất nước. Trẻ mệt, thở nông và không hiệu quả gây toan hô hấp. Nghe phổi thấy khò khè, thì thở ra kéo dài, và thường có rales nổ nhỏ. Nhiều trẻ có kèm theo viêm tai giữa cấp tính.

Chẩn đoán

  • Biểu hiện lâm sàng

  • Đo SpO2

  • X-quang ngực cho các trường hợp nặng

  • Test kháng nguyên RSV trong dịch rửa mũi hoặc hút dịch mũi khi trẻ bị bệnh nặng

Chẩn đoán viêm tiểu phế quản dựa vào bệnh sử, khám lâm sàng và yếu tố dịch tễ. Các triệu chứng viêm tiểu phế quản tương tự cơn hen phế quản , thường bị kích phát do nhiễm virut đường hô hấp và khả năng bị hen cao hơn ở trẻ > 18 tháng tuổi, đặc biệt trước đó có những đợt khò khè và tiền sử gia đình bị hen phế quản. Trào ngược dạ dày do hít phải dịch dạ dày có thể gây bệnh cảnh lâm sàng giống viêm tiểu phế quản, nhiều đợt xuất hiện ở trẻ nhũ nhi có thể có giá trị cho chẩn đoán, Dị vật đường thở đôi khi gây khò khè và nên được xem xét chẩn đoán nếu khởi phát đột ngột và không có biểu hiện viêm đường hô hấp trên. Suy tim do tim bẩm sinh có luồng shunt trái-phải ở trẻ 2 - 3 tháng tuổi cũng có thể nhầm lẫn với viêm tiểu phế quản.

Bệnh nhân nghi ngờ bị viêm tiểu phế quản nên được đo SpO2 để đánh giá tình trạng bão hòa oxy hóa máu. Không cần làm xét nghiệm thêm đối với các trường hợp nhẹ có mức oxy bình thường, nhưng trong trường hợp thiếu oxy máu và suy hô hấp nặng, chụp X quang ngực hỗ trợ chẩn đoán và thường cho thấy hình ảnh lồng ngực giãn, cơ hoành hạ thấp, và mờ rốn phổi. Tổn thương thâm nhiễm có thể có do xẹp phổi và/hoặc viêm phổi do RSV; viêm phổi RSV tương đối phổ biến ở trẻ nhũ nhi bị viêm tiểu phế quản do RSV.

Test nhanh RSV với bệnh phẩm dịch rửa mũi hoặc hút dịch mũi để chẩn đoán nhưng không cần thiết; có thể được làm cho bệnh nhân bị bệnh nặng yêu cầu phải nằm viện. Các xét nghiệm khác không đặc hiệu và không được chỉ định thường xuyên; khoảng hai phần ba số trẻ em có số lượng bạch cầu 10.000 - 15.000 /μL. Hầu hết 50 đến 75% là lympho bào.

Tiên lượng

Tiên lượng rất tốt. Hầu hết trẻ em hồi phục sau 3-5 ngày không có di chứng, mặc dù khò khè và ho có thể kéo dài từ 2-4 tuần. Tử vong là < 0,1% khi chăm sóc y tế đầy đủ. Tỷ lệ mắc hen tăng lên ở trẻ em bị viêm tiểu phế quản trong thời thơ ấu, nhưng mối liên quan này đang gây tranh cãi và tỷ lệ trẻ mắc bệnh này có vẻ giảm theo độ tuổi của trẻ.

Điều trị

  • Điều trị hỗ trợ

  • Cung cấp oxy khi cần thiết

  • Truyền dịch khi cần thiết

Điều trị viêm tiểu phế quản là điều trị hỗ trợ, và hầu hết trẻ có thể được điều trị tại nhà bằng cách bổ sung dịch và các biện pháp nghỉ ngơi.

Chỉ định nhập viện bao gồm tiến triển suy hô hấp nhanh, xuất hiện dấu hiệu nặng (ví dụ, tím, li bì, mệt nhiều), ngừng thở trong tiền sử, thiếu oxy máu và ăn uống kém. Trẻ em có bệnh nền như bệnh tim, suy giảm miễn dịch, hoặc loạn sản phế quản phổi có nguy cơ mắc bệnh nặng hoặc phức tạp, cũng cần được xem xét chỉ định nhập viện.

Ở trẻ nhập viện, nồng độ 30 - 40% qua cannula mũi, lều, hoặc mặt nạ thường đủ để duy trì độ bão hòa oxy > 90%. được chỉ định khi ngừng thở tái diễn nặng, thiếu oxy máu không đáp ứng với liệu pháp oxy, hoặc tăng CO2 hoặc nếu không thể làm sạch dịch tiết phế quản. Trị liệu cannula mũi lưu lượng cao, (CPAP) hoặc cả hai đều được sử dụng để tránh đặt nội khí quản ở những bệnh nhân có nguy cơ suy hô hấp.

Bổ sung dịch cần được duy trì bằng cách cho ăn lượng nhỏ thường xuyên. Đối với trẻ nặng hơn, nên truyền dịch đường tĩnh mạch ngay, giám sát mức độ mất nước qua theo dõi số lượng và tỉ trọng nước tiểu và điện giải trong máu.

Có một số bằng chứng cho thấy corticosteroid toàn thân có lợi khi điều trị sớm cho những trẻ có bệnh nền đáp ứng corticosteroid (ví dụ, loạn sản phế quản phổi, hen), nhưng không thấy có lợi ích ở trẻ trước đó khỏe mạnh.

Không chỉ định kháng sinh trừ khi nhiễm khuẩn thứ phát (hiếm gặp) xảy ra.

Thuốc giãn phế quản không có hiệu quả đồng nhất, nhưng một số trường hợp trẻ có thể đáp ứng với sự cải thiện trong thời gian ngắn. Điều này đặc biệt đúng với trẻ đã khò khè trước đây. Thời gian nằm viện vẫn có thể không được rút ngắn.

Ribavirin, thuốc kháng virut hoạt động trong ống nghiệm chống lại RSV, cúm và sởi, có lẽ không có hiệu quả về mặt lâm sàng và không còn được khuyến cáo ngoại trừ trẻ em bị suy giảm miễn dịch vì nhiễm RSV nặng; nó cũng có khả năng gây độc đối với nhân viên y tế. Globulin miễn dịch với RSV đã được thử nghiệm nhưng không hiệu quả.

Phòng ngừa nhiễm RSV bằng phương pháp điều trị dự phòng miễn dịch thụ động với kháng thể đơn dòng kháng RSV (palivizumab) làm giảm tần suất nhập viện nhưng tốn kém và được chỉ định chủ yếu ở trẻ có nguy cơ caoxem Phòng ngừa cho chỉ định và liều lượng).

Những điểm chính

  • Viêm tiểu phế quản là một bệnh nhiễm trùng đường hô hấp dưới cấp tính do virus ở trẻ nhỏ < 24 tháng và thường do RSV hoặc rhinovirus gây ra.

  • Phù nề và xuất tiết ở phế quản trung bình và nhỏ và tiểu phế quản gây tắc nghẽn một phần và bẫy khí; xẹp phổi và/hoặc viêm phổi gây thiếu oxy máu ở những trường hợp nặng hơn.

  • Các biểu hiện điển hình bao gồm sốt, thở nhanh, rút lõm lồng ngực, thở khò khè và ho.

  • Đánh giá lâm sàng thường đủ để chẩn đoán, nhưng trẻ nặng hơn nên được đo SpO2, chụp X-quang ngực, và test nhanh RSV.

  • Chỉ định để nhập viện bao gồm tiến triển suy hô hấp, xuất hiện dấu hiệu bệnh nặng (ví dụ, xanh tím, li bì, mệt nhều), ngưng thở trong tiền sử, thiếu oxy máu, và ăn uống không đầy đủ.

  • Điều trị hỗ trợ; thuốc giãn phế quản đôi khi làm giảm các triệu chứng nhưng có thể không rút ngắn thời gian nằm viện, và các corticosteroid hệ thống không được chỉ định ở những trẻ tiền sử khỏe mạnh.

  • Không có văcxin; kháng thể đơn dòng đối với RSV (palivizumab) có thể được dùng cho trẻ sơ sinh có nguy cơ cao để giảm tần suất nhập viện.

Các chuyên gia đọc thêm

Cũng quan tâm

TRÊN CÙNG