Bệnh nấm móng là tình trạng nhiễm nấm ở phiến móng, giường móng hoặc cả hai. Móng thường dày lên và có màu vàng kèm theo các mảnh vụn dưới móng. Chẩn đoán được xác định bằng tiêu bản soi tươi kali hydroxit (KOH) bằng kính hiển vi, nuôi cấy nấm, mô bệnh học hoặc phản ứng chuỗi polymerase. Điều trị bao gồm các phương án bôi thuốc tại chỗ như thuốc bôi ciclopirox, dung dịch tavaborole và dung dịch efinaconazole. Các phương án dùng thuốc đường uống bao gồm terbinafine, itraconazole hoặc fluconazole.
(Xem thêm Tổng quan về bệnh lý móng.)
Khoảng 5,5% dân số toàn cầu và 2 đến 14% người dân Hoa Kỳ mắc bệnh nấm móng (1, 2).
Các yếu tố nguy cơ gây bệnh nấm móng bao gồm:
Bệnh loạn dưỡng móng có từ trước (ví dụ: ở những bệnh nhân bị chấn thương móng do cơ học)
Tuổi cao
Nam giới
Tiếp xúc với người bị nấm da hoặc bệnh nấm móng (ví dụ, một thành viên trong gia đình hoặc thông qua tắm công cộng)
Ức chế miễn dịch
Móng chân bị bệnh cao hơn móng tay gấp 10 lần. Khoảng 65% số trường hợp là do nấm da (ví dụ: Trichophyton rubrum); nhiễm nấm da ở móng được gọi là bệnh nấm móng (3). Các trường hợp còn lại được gây ra bởi các chủng không phải dermatophyte (ví dụ, Aspergillus, Scopulariopsis, Fusarium). Những bệnh nhân suy giảm miễn dịch và những người bị nhiễm candida da, niêm mạc mạn tính có thể bị nấm móng do candida (thường gặp hơn ở ngón tay). Nấm móng tiền lâm sàng cũng có thể xuất hiện ở những bệnh nhân bị nấm bàn chân tái phát. Bệnh nấm móng có thể dẫn đến bệnh nhân bị viêm mô bào ở chi dưới.
Nấm móng là tình trạng nhiễm nấm ở móng tay, móng chân hoặc cả hai. Nhiễm trùng có thể là xa dưới da, với móng dày và vàng và tích tụ keratin và mảnh vụn bên dưới móng (trên cùng); cận lâm sàng (không trong hình); hoặc bề ngoài màu trắng, với sự lan rộng của vẩy phấn trắng bên dưới bề mặt móng (phía dưới).
Tài liệu tham khảo chung
1. Lipner SR, Scher RK. Onychomycosis: Clinical overview and diagnosis. J Am Acad Dermatol. 2019;80(4):835-851. doi:10.1016/j.jaad.2018.03.062
2. Lipner SR, Scher RK. Onychomycosis: Treatment and prevention of recurrence. J Am Acad Dermatol. 2019;80(4):853-867. doi:10.1016/j.jaad.2018.05.1260
3. Sigurgeirsson B, Baran R. The prevalence of onychomycosis in the global population: a literature study. J Eur Acad Dermatol Venereol. 2014;28(11):1480-1491. doi:10.1111/jdv.12323
Triệu chứng và dấu hiệu của bệnh nấm móng
Móng có các mảng không có triệu chứng đổi màu trắng hoặc vàng và ly móng kèm theo mảnh vụn dưới móng. Có 3 hình thái đặc trưng thường gặp:
Phía dưới móng ở đầu xa: Móng dày lên và chuyển sang màu vàng, keratin và các mảnh vụn tích tụ ở đấu xa và bên dưới móng, và móng tách khỏi giường móng (ly móng).
Phía dưới móng ở đầu gần: Tổn thương bắt đầu ở đầu gần và là một dấu hiệu của suy giảm miễn dịch.
Trắng bề mặt: Một lớp vẩy trắng như phấn từ từ lan rộng từ dưới bề mặt móng.
Bức ảnh này cho thấy bệnh nấm móng ở các móng chân cái. Móng chân phải biểu hiện bệnh nấm móng đầu xa ngoài (dưới móng đầu xa) (DLO) cổ điển, trong khi móng chân trái có thể bắt đầu như DLO và tiến triển thành u nấm da (tập hợp dày đặc các sợi nấm xuất hiện như một vệt tuyến tính).
Chẩn đoán bệnh nấm móng
Khám bằng soi da
Nuôi cấy nấm hoặc phản ứng chuỗi polymerase (PCR)
Soi tươi bằng KOH
Kiểm tra mô bệnh học của các mẫu móng tay và mảnh vụn dưới móng nhuộm axit-Schiff định kỳ (PAS) hoặc bạc methenamine Grocott-Gomori (GMS)
Nghi ngờ bệnh nấm móng thông qua biểu hiện ở những bệnh nhân cũng bị bệnh nấm chân; các đặc điểm lâm sàng dự đoán bao gồm tình trạng thương tổn đến móng chân thứ 1 và thứ 5 trên cùng một bàn chân và thương tổn một bàn chân. Nấm móng tiền lâm sàng nên được xem xét ở những bệnh nhân có nấm bàn chân tái phát. Nội soi da có thể hỗ trợ, cho thấy các gai hoặc hình ảnh cực quang, nhưng cần phải xác nhận bằng xét nghiệm nấm.
Việc phân biệt với bệnh vẩy nến hoặc liken phẳng rất quan trọng vì phương pháp điều trị khác nhau. Tỷ lệ hiện mắc bệnh nấm móng cao hơn đáng kể ở những bệnh nhân mắc bệnh vẩy nến so với những bệnh nhân không mắc bệnh vẩy nến (1). Cần phải xác định nguyên nhân gây bệnh do nấm trước khi điều trị.
Chẩn đoán thường được xác nhận bằng cách kiểm tra bằng kính hiển vi và, trừ khi các dấu hiệu trên kính hiển vi có thể đưa ra kết luận, nuôi cấy mẫu cạo hoặc PCR mẫu cắt (2). Mẫu bệnh phẩm cạo được lấy từ vị trí gần nhất có thể tiếp cận được trên móng bị thương tổn và được kiểm tra để tìm sợi nấm trên tiêu bản soi tươi kali hydroxit (KOH) và rồi nuôi cấy. PCR đã trở thành một kỹ thuật phổ biến hơn để xác nhận chẩn đoán bệnh nấm móng, đặc biệt nếu nuôi cấy âm tính hoặc cần chẩn đoán xác định (3, 4). Kiểm tra mô bệnh học các mẫu móng tay cắt ra được nhuộm PAS hoặc GMS và các mảnh vụn dưới móng cũng có thể hữu ích.
Lấy mẫu móng phù hợp cho việc nuôi cấy có thể khó khăn bởi vì các mảnh vỡ dưới móng ở đầu xa, dễ để lấy mẫu, thường không chứa nấm còn sống. Do đó, loại bỏ phần xa của móng bằng việc cắt bỏ trước khi lấy mẫu hoặc sử dụng một curette nhỏ để tiếp cận gần dưới móng hơn sẽ tăng hiệu quả.
Tài liệu tham khảo về chẩn đoán
1. Liu M, Kang Y, Zhang R. The Prevalence of Onchomycosis in Psoriasis Patients: A Systematic Review and Meta-Analysis. Mycoses. 2025;68(2):e70035. doi:10.1111/myc.70035
2. Gupta AK, Mays RR, Versteeg SG, et al: Update on current approaches to diagnosis and treatment of onychomycosis. Expert Rev Anti Infect Ther 16(12):929–938, 2018. doi: 10.1080/14787210.2018.1544891
3. Joyce A, Gupta AK, Koenig L, et al: Fungal Diversity and Onychomycosis: An analysis of 8,816 toenail samples using quantitative PCR and next-generation sequencing. J Am Podiatr Med Assoc 109(1):57–63, 2019. doi: 10.7547/17-070
4. Haghani I, Shams-Ghahfarokhi M, Dalimi Asl A, et al: Molecular identification and antifungal susceptibility of clinical fungal isolates from onychomycosis (uncommon and emerging species). Mycoses 62 (2): 128–143, 2019. doi: 10.1111/myc.12854
Điều trị bệnh nấm móng
Terbinafine hoặc itraconazole theo đường uống
Điều trị tại chỗ (ví dụ: efinaconazole, tavaborole, ciclopirox 8%, amorolfine)
Bệnh nấm móng thường cần được điều trị. Việc điều trị có thể được hoãn lại ở những bệnh nhân quá cao tuổi hoặc suy nhược hoặc những bệnh nhân có chống chỉ định. Một số đề xuất để điều trị bao gồm:
Viêm mô bào cùng bên trước đó
Bệnh tiểu đường hoặc các yếu tố nguy cơ khác đối với viêm mô bào
Có các triệu chứng gây khó chịu (ví dụ: đau, xấu hổ khi giao tiếp, khó khăn trong các hoạt động hàng ngày)
Việc điều trị bệnh nấm móng phụ thuộc vào số lượng móng bị thương tổn, mức độ nặng của bệnh (diện tích bề mặt, độ dày), tình trạng bệnh đi kèm và sở thích của bệnh nhân. Các phương án điều trị bằng đường uống là terbinafine hoặc itraconazole. Cả hai phương pháp điều trị đều có hiệu quả. Fluconazole đường uống cũng có thể là một phương án, với ít tác dụng phụ tiềm ẩn hơn so với itraconazole. Azole có liên quan đến tỷ lệ chữa khỏi bệnh về mặt lâm sàng cũng như tỷ lệ chữa khỏi nấm thấp hơn so với terbinafine (1). Có thể không cần phải điều trị cho đến khi bệnh khỏi hoàn toàn trên lâm sàng vì những loại thuốc này vẫn bám vào phiến móng và vẫn có hiệu quả sau khi ngừng dùng thuốc uống. Tỷ lệ tái phát cao nếu không điều trị dự phòng sau khi điều trị, thường là bằng cách bôi kem chống nấm vào bàn chân. Móng bị thương tổn sẽ không trở lại bình thường, nhưng móng mới mọc sẽ trông bình thường; quá trình này có thể mất từ 12 đến 18 tháng.
Thuốc bôi ngoài da là efinaconazole và tavaborole có thể thấm vào móng và hiệu quả hơn các thuốc bôi ngoài da cũ.
Thuốc sơn móng tay chống nấm tại chỗ có efinaconazole 10%, ciclopirox 8% hoặc amorolfine 5% (không có ở Hoa Kỳ) có thể có hiệu quả như phương pháp điều trị chính khi bệnh nhẹ và có ít móng bị thương tổn. Có thể sử dụng cho các bệnh nặng hơn bằng các thuốc hỗ trợ như thuốc làm mềm (urê) hoặc cắt lọc. Phương pháp điều trị tại chỗ đặc biệt hiệu quả ở trẻ em vì móng tay của trẻ mỏng hơn và mọc nhanh hơn so với người trưởng thành. Các phương pháp điều trị bao gồm các hệ thống phân phối mới cho terbinafine.
Để hạn chế tái phát, bệnh nhân cần phải cắt ngắn móng tay, lau khô bàn chân sau khi tắm, đi tất thấm hút và sử dụng kem chống nấm. Giày cũ có thể có mật độ bào tử cao và nếu có thể, nên bỏ giày đó đi. Có thể sử dụng chất khử trùng bằng tia cực tím để xử lý giày cũ.
Tài liệu tham khảo về điều trị
1. Kreijkamp-Kaspers S, Hawke KL, van Driel ML. Oral Medications to Treat Toenail Fungal Infection. JAMA. 2018;319(4):397-398. doi:10.1001/jama.2017.20160
Những điểm chính
Bệnh nấm móng rất phổ biến, đặc biệt ở những nam giới, lớn tuổi và bệnh nhân suy giảm lưu thông mạch máu ở các chi, loạn dưỡng móng, và/hoặc nấm bàn chân.
Nghi ngờ chẩn đoán dựa vào biểu hiện lâm sàng và hình thái của móng tổn thương và xác nhận bằng kính hiển vi và nuôi cấy hoặc PCR.
Cần phải điều trị nếu bệnh nấm móng gây ra các biến chứng hoặc triệu chứng khó chịu.
Nếu cần điều trị, hãy cân nhắc dùng terbinafine (azole là một lựa chọn thay thế) và các biện pháp ngăn ngừa tái phát (ví dụ: hạn chế độ ẩm, vứt bỏ giày cũ, cắt ngắn móng).
