Giảm phosphat máu

TheoNora E. Renthal, MD, PhD, Harvard Medical School
Xem xét bởiMichael SD Agus, MD, Harvard Medical School
Đã xem xét/Đã chỉnh sửa đã sửa đổi Thg 9 2025
v1154517_vi

Bệnh giảm phosphat máu là tình trạng không có hoặc có nồng độ phosphatase kiềm trong huyết thanh thấp do đột biến mất chức năng ở gen ALPL, gen mã hóa phosphatase kiềm không đặc hiệu mô (TNSALP). Chẩn đoán là lâm sàng. Điều trị bằng asfotase alpha và đôi khi là vitamin B6.

Bệnh giảm phosphat máu là một bệnh chuyển hóa di truyền đặc trưng bởi tình trạng thiếu hoặc nồng độ phosphatase kiềm trong huyết thanh thấp gây ra sự đa dạng về kiểu hình (tức là phổ bệnh lý trên lâm sàng) từ nhẹ đến nặng. Bệnh này là do đột biến mất chức năng ở gen ALPL mã hóa phosphatase kiềm không đặc hiệu mô (TNSALP).

Dữ liệu về tỷ lệ mắc hoặc tỷ lệ hiện mắc của bệnh hạ phosphat máu còn hạn chế. Trong một loạt trường hợp 10 năm thường được trích dẫn ở Canada trong những năm 1950, tỷ lệ mắc bệnh hạ phosphat máu nói chung được ước tính là 1/100.000 (1). Tuy nhiên, một nghiên cứu khác từ năm 2000 đến năm 2009 tại Pháp xem xét biến thể kiểu hình đã ước tính tỷ lệ hiện mắc các dạng bệnh nặng (gen lặn trên nhiễm sắc thể thường) là 1/300.000 và các dạng bệnh vừa phải là 1/6.370 (2).

Trong bệnh giảm phosphat máu, quá trình thủy phân pyrophosphat vô cơ của TNSALP bị khiếm khuyết dẫn đến sự tích tụ chất này. Pyrophosphate vô cơ là chất ức chế mạnh sự hình thành hydroxyapatite, từ đó dẫn đến suy giảm quá trình khoáng hóa xương và khoáng hóa răng (3). Thiếu hụt TNSALP cũng ảnh hưởng đến quá trình chuyển hóa pyridoxal-5’-phosphate, dạng hoạt động của vitamin B6, dẫn đến tình trạng thiếu hụt vitamin B6 nội bào, nồng độ B6 trong huyết thanh cao và khả năng gây ra các cơn co giật toàn thể.

Tài liệu tham khảo chung

  1. 1. Fraser D. Hypophosphatasia. Am J Med. 1957;22(5):730-746. doi:10.1016/0002-9343(57)90124-9

  2. 2. Mornet E, Taillandier A, Domingues C, et al. Hypophosphatasia: a genetic-based nosology and new insights in genotype-phenotype correlation. Eur J Hum Genet. 2021;29(2):289-299. doi:10.1038/s41431-020-00732-6

  3. 3. Khan AA, Brandi ML, Rush ET, et al. Hypophosphatasia diagnosis: current state of the art and proposed diagnostic criteria for children and adults [published correction appears in Osteoporos Int. Tháng 5 năm 2024;35(5):933-934. doi: 10.1007/s00198-024-07048-x.]. Osteoporos Int. 2024;35(3):431-438. doi:10.1007/s00198-023-06844-1

Các triệu chứng và dấu hiệu của bệnh giảm phosphat máu

Biểu hiện lâm sàng của bệnh giảm phosphat máu rất đa dạng. Những trường hợp này bao gồm mất răng sớm (đặc biệt là nếu răng mất vẫn còn nguyên chân răng) và còi xương.

Bệnh nhân mắc bệnh nặng có thể bị nôn, chậm tăng cân và/hoặc co giật.

Chẩn đoán bệnh giảm phosphat máu

  • Giảm phosphatase kiềm trong huyết thanh và tăng pyridoxal-5’-phosphate hoặc vitamin B6

  • Kiểm tra chẩn đoán hình ảnh (siêu âm trước sinh, phim chụp X-quang)

  • Xét nghiệm di truyền

Gợi ý chẩn đoán bằng các biểu hiện lâm sàng và kết quả xét nghiệm cho thấy nồng độ phosphatase kiềm trong huyết thanh giảm và nồng độ pyridoxal-5’-phosphate hoặc vitamin B6 tăng cao (1).

Các dấu hiệu xét nghiệm bổ sung, chẳng hạn như tăng canxi máu, tăng phosphat máu và tăng canxi niệu, phổ biến hơn ở những bệnh nhân mắc dạng bệnh nặng ở trẻ sơ sinh, khi tình trạng khoáng hóa xương kém rõ rệt; tuy nhiên, những dấu hiệu này không xuất hiện ở tất cả bệnh nhân.

Các kiểm tra chẩn đoán hình ảnh, bao gồm siêu âm trước sinh và phim chụp X-quang thường ở trẻ em và người trưởng thành, có thể phát hiện các dấu hiệu đặc trưng như giảm khoáng hóa xương, còi xương hoặc nhuyễn xương, các dấu hiệu này hỗ trợ chẩn đoán (2).

Xét nghiệm di truyền đối với các biến thể gây bệnh trong gen ALPL có thể được thực hiện để xác nhận chẩn đoán bệnh giảm phosphat máu (3), đặc biệt là để hỗ trợ chẩn đoán trước sinh và ở những bệnh nhân có biểu hiện không điển hình hoặc để đánh giá nguy cơ tái phát.

Tài liệu tham khảo về chẩn đoán

  1. 1. Whyte MP. Hypophosphatasia - aetiology, nosology, pathogenesis, diagnosis and treatment. Nat Rev Endocrinol. 2016;12(4):233-246. doi:10.1038/nrendo.2016.14

  2. 2. Mannes I, Rothenbuhler A, Merzoug V, Di Rocco F, Linglart A, Adamsbaum C. Imaging patterns in pediatric hypophosphatasia. Pediatr Radiol. 2022;52(5):998-1006. doi:10.1007/s00247-021-05232-3

  3. 3. Fenn JS, Lorde N, Ward JM, Borovickova I. Hypophosphatasia. J Clin Pathol. 2021;74(10):635-640. doi:10.1136/jclinpath-2021-207426

Điều trị bệnh giảm phosphat máu

  • Có thể là asfotase alpha

  • Đối với các trường hợp co giật, có thể dùng vitamin B6

Đối với những bệnh nhân nghi ngờ bị bệnh giảm phosphat máu, cần chuyển đến bác sĩ nội tiết nhi khoa để đánh giá thêm và cân nhắc điều trị bằng asfotase alfa. Asfotase alpha là một protein tái tổ hợp mang miền xúc tác của TNSALP. Thuốc được tiêm dưới da từ 1 đến 3 lần mỗi tuần.

Đối với những bệnh nhân bị bệnh hạ phosphat máu kèm co giật, cần chuyển đến bác sĩ chuyên khoa thần kinh nhi khoa. Vitamin B6 liều cao có thể làm giảm các cơn co giật vì mặc dù bệnh nhân thường có nồng độ pyridoxal-5′-phosphate (PLP) lưu thông cao, nhưng tình trạng thiếu hụt phosphatase kiềm không đặc hiệu ở mô (được mã hóa bởi gen ALPL) ngăn cản pyridoxal đi vào não. Tình trạng này tạo ra sự thiếu hụt chức năng của vitamin B6 hoạt động trong hệ thần kinh trung ương, làm suy yếu quá trình tổng hợp chất dẫn truyền thần kinh và dẫn đến co giật (1). Bổ sung vitamin B6 (pyridoxine hoặc pyridoxal phosphate) giúp vượt qua tình trạng tắc nghẽn này, phục hồi PLP não và giúp kiểm soát các cơn co giật.

Các thuốc chống viêm không có steroid (NSAID) làm giảm đau xương Cần thực hiện các biện pháp chăm sóc răng miệng và phòng ngừa gãy xương phù hợp để ngăn ngừa các biến chứng của bệnh. Truyền phosphatase kiềm và ghép tế bào gốc tạo máu có vai trò hạn chế.

Tài liệu tham khảo về điều trị

  1. 1. Whyte MP. Hypophosphatasia - aetiology, nosology, pathogenesis, diagnosis and treatment. Nat Rev Endocrinol. 2016;12(4):233-246. doi:10.1038/nrendo.2016.14

Tiên lượng về bệnh giảm phosphat máu

Phát triển thần kinh thường điển hình theo độ tuổi.

Những bệnh nhân sống sót sau thời kỳ sơ sinh hoặc có biểu hiện bệnh nhẹ hơn thường có các dị tật xương dai dẳng và vóc dáng thấp.

quizzes_lightbulb_red
Test your KnowledgeTake a Quiz!