Tổng quan về Rối loạn tăng sinh tủy

TheoJane Liesveld, MD, James P. Wilmot Cancer Institute, University of Rochester Medical Center
Xem xét bởiAshkan Emadi, MD, PhD, West Virginia University School of Medicine, Robert C. Byrd Health Sciences Center
Đã xem xét/Đã chỉnh sửa đã sửa đổi Thg 9 2025
v974005_vi

Các khối u tăng sinh tủy là sự tăng sinh các tế bào gốc tạo máu tủy xương dòng vô tính, có thể biểu hiện dưới dạng tăng số lượng tiểu cầu, hồng cầu (RBC) hoặc bạch cầu (WBC) bình thường về chức năng, đơn lẻ hoặc kết hợp, trong tuần hoàn và đôi khi với xơ hóa trong tủy xương và tạo máu ngoài tủy (sản sinh tế bào bên ngoài tủy). Dựa trên những bất thường này, các khối u đó được phân loại thành:

Tăng tạo tiểu cầu tiên phát, xơ tủy nguyên phát và bệnh đa hồng cầu nguyên phát có thể tự chuyển thành bệnh bạch cầu cấp, trong khi tăng tạo tiểu cầu tiên phát và bệnh đa hồng cầu nguyên phát chuyển thành bệnh bạch cầu cấp ở mức tỷ lệ rất thấp nếu không phơi nhiễm lâu dài với các thuốc hóa trị liệu như hydroxyurea.

Tân sinh tăng sinh tủy ít gặp hơn bao gồm hội chứng tăng bạch cầu ưa axittăng tế bào mast. Ngoài ra rối loạn tăng sinh tủy hiếm gặp còn có thể phối hợp với hội chứng rối loạn sinh tủy.

Mỗi rối loạn được xác định theo dòng phát triển ưu thế (xem bảng ). Mặc dù sự tăng sinh của một hoặc nhiều loại tế bào tạo máu chiếm ưu thế trong hình ảnh lâm sàng của từng bệnh lý này, cả 3 loại đều do sự tăng sinh vô tính của tế bào gốc tạo máu đa năng, dẫn đến sự tăng sinh của các tế bào tiền thân hồng cầu, tế bào tiền thân bạch cầu và tế bào tiền thân tiểu cầu bình thường trong tủy xương. Tuy nhiên, dòng vô tính bất thường này không tạo ra nguyên bào sợi tủy xương, có thể tăng sinh theo kiểu đa dòng, phản ứng và đảo ngược để đáp ứng với tế bào gốc bất thường.

Sự chồng chéo của các dấu hiệu lâm sàng và xét nghiệm xảy ra do nguyên nhân chung. Các đột biến của gen Janus kinase 2 (JAK2) là nguyên nhân gây ra đa hồng cầu nguyên phát, và một tỷ lệ cao tăng tạo tiểu cầu tiên phát, xơ tủy xương nguyên phát. Janus kinase 2 là một thành viên của họ enzyme tyrosine kinase loại I và tham gia vào việc chuyển đổi tín hiệu cho erythropoietin, thrombopoietin, thụ thể yếu tố kích thích tạo cụm dòng hạt (G-CSF). Gen thụ thể thrombopoietin (MPL) hoặc gen calreticulin (CALR) cũng bị đột biến ở một tỷ lệ đáng kể bệnh nhân bị tăng tạo tiểu cầu tiên phát và bệnh xơ tủy nguyên phát. 3 đột biến điều khiển tân sinh tăng sinh tủy xương và gen BCR/ABL trong bệnh bạch cầu dạng tủy mạn nhìn chung loại trừ lẫn nhau nhưng trong một số trường hợp hiếm gặp có thể cùng tồn tại ở cùng một bệnh nhân.

Bảng

Thông tin thêm

  1. Tremblay D, Yacoub A, Hoffman R. Overview of myeloproliferative neoplasms. Hematol Oncol Clin N Am. 2021;35:159-176. doi: 10.1016/j.hoc.2020.12.001

  2. Wang L, Li J, Arbitman L, et al. Current Advances in the Diagnosis and Treatment of Major Myeloproliferative Neoplasms. Cancers (Basel). 2025;17(11):1834. Xuất bản ngày 30 tháng 5 năm 2025. doi:10.3390/cancers17111834

quizzes_lightbulb_red
Test your KnowledgeTake a Quiz!