Bệnh sán lá ruột nhỏ và các nhiễm trùng liên quan sán lá

(Nhiễm sán lá ruột)

TheoChelsea Marie, PhD, University of Virginia;
William A. Petri, Jr, MD, PhD, University of Virginia School of Medicine
Xem xét bởiChristina A. Muzny, MD, MSPH, Division of Infectious Diseases, University of Alabama at Birmingham
Đã xem xét/Đã chỉnh sửa đã sửa đổi Thg 9 2025
v1014827_vi

Bệnh sán lá ruột nhỏ là bệnh nhiễm trùng do nhiễm sán lá ruột Heterophyes heterophyes, do cách ăn cá sống hoặc chưa nấu chín từ nước ngọt hoặc nước lợ.

Sán lá là sán dẹt gây bệnh ở nhiều phần của cơ thể (ví dụ như mạch máu, đường tiêu hóa, phổi, gan) tùy thuộc vào loài.

Heterophyes heterophyes là loài đặc hữu ở Đông Á, Trung Đông (đặc biệt là Sudan và Ai Cập) và Đông Nam Âu.

Bệnh sán lá ruột nhỏ mắc phải do ăn cá sống hoặc cá chưa nấu chín nhiễm bệnh ở nước ngọt hoặc nước lợ có chứa ấu trùng nang (giai đoạn tạo bao nang) (1). Sau khi ăn phải, ấu trùng nang thoát nang và bám vào niêm mạc ruột non. Ở đó, chúng phát triển thành con trưởng thành, tăng khoảng từ 1,0 đến 1,7 mm từ 0,3 đến 0,4 mm. Sán có thể xâm nhập vào niêm mạc và gửi trứng đi qua hệ bạch huyết vào máu. Quá trình lưu thông của trứng và lắng đọng ở tim và các cơ quan khác đã được báo cáo.

Nhiễm Metagonimus yokogawai, có họ hàng với sán lá, đã được báo cáo sau khi ăn cá nước ngọt hoặc nước lợ sống hoặc nấu chưa chín ở Viễn Đông Nga, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan, các nước Balkan, Israel và Tây Ban Nha. Nhiễm trùng đường ruột do Nanophyetus salmincola đã được báo cáo ở vùng Tây Bắc Thái Bình Dương của Hoa Kỳ (Washington, Oregon và Bắc California) và British Columbia, Canada, sau khi ăn cá hồi sống hoặc chưa nấu chín (2).

Nhiễm bệnh thường không có triệu chứng. Các triệu chứng phổ biến hơn khi bị nhiễm bệnh nặng hoặc ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch. Các triệu chứng khởi phát thường là khoảng 9 ngày sau khi ăn phải cá bị ô nhiễm và có thể bao gồm chán ăn, buồn nôn, đau bụng, kém hấp thu, sụt cân, khó tiêu và tiêu chảy. Có thể có tăng bạch cầu ái toan.

Sán trưởng thành có thể gây đau bụng và tiêu chảy.

Chẩn đoán bệnh sán lá ruột nhỏ dựa trên việc phát hiện trứng (có màu vàng nâu và kích thước khoảng 30 mcm x 15 mcm) trong phân. Những quả trứng H. heterophyes không thể phân biệt được với những M. yokogawai và tương tự như của ClonorchisOpisthorchis.

Điều trị bệnh sán lá ruột nhỏ bằng praziquantel uống 3 lần/ngày trong 1 ngày đối với H. heterophyes, M. yokogawaiN. salmincola.

Phòng ngừa liên quan đến việc không ăn cá sống hoặc nấu chưa chín có thể chứa những con sán này.

Tài liệu tham khảo

  1. 1. Centers for Disease Control and Prevention: DPDx–Laboratory Identification of Parasites of Public Health Concern: Heterophyiasis. Ngày 3 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2025.

  2. 2. Fritsche TR, Eastburn RL, Wiggins LH, Terhune CA Jr. Praziquantel for treatment of human Nanophyetus salmincola (Troglotrema salmincola) infection. J Infect Dis. 1989;160(5):896-899. doi:10.1093/infdis/160.5.896

quizzes_lightbulb_red
Test your KnowledgeTake a Quiz!