Viêm màng não do amip nguyên phát là một bệnh nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương cấp tính hiếm gặp, thường gây tử vong, do loài amip sống tự do Naegleria fowleri gây ra. Các triệu chứng bao gồm những thay đổi về thần kinh và thường diễn tiến nhanh chóng dẫn đến tử vong. Chẩn đoán chủ yếu dựa vào phân tích dịch não tủy. Điều trị bằng miltefosine và các loại thuốc khác.
Naegleria fowleri sinh sống trong đất và các vùng nước ngọt ấm áp trên toàn thế giới; chúng không sống được trong nước mặn. N. fowleri cũng có thể sống trong suối nước nóng, trong nước ấm thải ra từ các nhà máy công nghiệp hoặc trong các bể bơi được bảo trì kém với lượng clo khử trùng tối thiểu hoặc không có clo. Thậm chí, nó có thể phát triển trong bình đun nước nóng ở nhiệt độ lên đến 46°C và sống sót trong thời gian ngắn ở nhiệt độ cao hơn.
Tại Hoa Kỳ, phần lớn các ca nhiễm bệnh xảy ra ở các bang phía nam sau khi tiếp xúc với nước ngọt ấm ở hồ và sông vào mùa hè (1).
Bơi trong nước bị ô nhiễm sẽ khiến niêm mạc mũi tiếp xúc với vi sinh vật, và chúng có thể xâm nhập vào hệ thần kinh trung ương (CNS) thông qua biểu mô thần kinh khứu giác và mảnh sàng. Hầu hết bệnh nhân là trẻ em khỏe mạnh hoặc người trưởng thành trẻ tuổi.
Tài liệu tham khảo chung
1. Centers for Disease Control and Prevention (CDC). About Naegleria fowleri Infections. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2025.
Sinh lý bệnh của viêm màng não-não nguyên phát do amip
Vòng đời của N. fowleri bao gồm 3 giai đoạn: nang bào, thể trophozoite (dạng lây nhiễm) và thể có roi.
Thể trophozoite có thể xâm nhập vào cơ thể qua niêm mạc mũi. Sau đó, chúng di chuyển đến não (sau khi xuyên qua mảnh sàng) qua các dây thần kinh khứu giác, nơi chúng gây ra bệnh viêm màng não-não do amip nguyên phát.
Ở những bệnh nhân nhiễm bệnh, thể trophozoite được tìm thấy trong dịch não tủy (CSF) và các mô, và thỉnh thoảng cũng tìm thấy thể có roi trong dịch não tủy. Không tìm thấy các nang trong mô não.
Triệu chứng và dấu hiệu của viêm màng não-não nguyên phát do amip
Các triệu chứng của viêm não màng não do amip bắt đầu trong vòng 1 đến 2 tuần sau khi phơi nhiễm, đôi khi có sự thay đổi mùi và vị giác.
Viêm não màng não kịch phát xảy ra, với nhức đầu, phản ứng màng não và thay đổi trạng thái tinh thần, tiến triển đến tử vong trong vòng 10 ngày, thường là do thoát vị não. Chỉ có một vài bệnh nhân sống sót.
Chẩn đoán viêm màng não-não nguyên phát do amip
Xét nghiệm dịch não tủy (CSF)
Nghi ngờ viêm màng não-não nguyên phát do amip dựa trên tiền sử bơi lội trong nước ngọt, nhưng việc xác nhận rất khó khăn vì chụp CT, chụp MRI và các xét nghiệm dịch não tủy thông thường, mặc dù cần thiết để loại trừ các nguyên nhân khác, nhưng lại không đặc hiệu. Các kết quả chẩn đoán hình ảnh thường cho thấy phù não, tràn dịch não và ngấm thuốc cản quang ở màng não.
Nên tiến hành soi tươi dịch não tủy tươi (không bảo quản lạnh hoặc đông lạnh) càng sớm càng tốt; phương pháp này có thể phát hiện các thể trophozoite của amip (có thể quan sát thấy trong các mẫu nhuộm Giemsa và hematoxylin-eosin nhưng bị phá hủy bởi kỹ thuật nhuộm Gram).
Hóa mô miễn dịch, nuôi cấy amip, PCR dịch não tủy và/hoặc sinh thiết não tại các phòng xét nghiệm chuyên sâu. Nên hội chẩn với Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC) hoặc các chuyên gia khác về chẩn đoán viêm não do amip.
Điều trị viêm màng não nguyên phát do amip
Nhiều loại thuốc, bao gồm miltefosine kết hợp với thuốc kháng nấm và kháng sinh
Điều trị tối ưu là không rõ ràng, nhưng nó phải được bắt đầu càng sớm càng tốt. Hội chẩn với các chuyên gia tại CDC (Hội chẩn với Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC)).
Phác đồ điều trị cần phải bao gồm thuốc chống leishmana, miltefosine, loại thuốc này đã được sử dụng phối hợp với các thuốc khác một cách thành công để điều trị bệnh nhân mắc bệnh viêm màng não-não nguyên phát do amip. Miltefosine cũng đã được sử dụng thành công để điều trị viêm não do Balamuthia, Sappinia và Acanthamoeba gây ra; thuốc này hiện có bán trên thị trường. Mặc dù miltefosine có khả năng gây ra các dị tật bẩm sinh, nhưng thuốc này vẫn có thể được xem xét sử dụng cho phụ nữ mang thai vì viêm màng não-não do amip nguyên phát thường gây tử vong nếu không được điều trị; do đó, lợi ích tiềm năng của liệu pháp có thể lớn hơn nguy cơ đối với thai nhi.
Các thuốc kháng khuẩn khác đã được sử dụng trong các phác đồ điều trị phối hợp dành choi Naegleria bao gồm:
Amphotericin B
Rifampin
Thuốc chống nấm (fluconazole, voriconazole, hoặc ketoconazole)
Azithromycin hoặc minocycline
Nitroxoline là một loại thuốc đang được nghiên cứu và có thể hiệu quả khi được sử dụng trong liệu pháp phối hợp. Tại Hoa Kỳ, thuốc này có sẵn thông qua CDC (1).
Thuốc chống co giật và dexamethasone thường cần thiết để kiểm soát cơn co giật và phù não (2). Có thể dùng mannitol hoặc dung dịch muối sinh lý ưu trương theo đường tĩnh mạch để đạt mức kiểm soát bệnh. Điều trị tích cực phù não bằng phương pháp hạ thân nhiệt trị liệu (làm mát cơ thể xuống dưới nhiệt độ cơ thể bình thường) cũng có liên quan đến thời gian sống thêm và phục hồi thần kinh ở một số ít bệnh nhân sống sót (3).
Tài liệu tham khảo về điều trị
1. Chao-Pellicer J, Arberas-Jiménez I, Fuchs F, et al. Repurposing of Nitroxoline as an Alternative Primary Amoebic Meningoencephalitis Treatment. Antibiotics (Basel). 2023;12(8):1280. Xuất bản ngày 3 tháng 8 năm 2023. doi:10.3390/antibiotics12081280
2. Anwar A, Rajendran K, Siddiqui R, Raza Shah M, Khan NA. Clinically Approved Drugs against CNS Diseases as Potential Therapeutic Agents To Target Brain-Eating Amoebae. ACS Chem Neurosci. 2019;10(1):658-666. doi:10.1021/acschemneuro.8b00484
3. Pugh JJ, Levy RA. Naegleria fowleri: Diagnosis, Pathophysiology of Brain Inflammation, and Antimicrobial Treatments. ACS Chem Neurosci. 2016;7(9):1178-1179. doi:10.1021/acschemneuro.6b00232
Những điểm chính
Viêm màng não-não nguyên phát do amip là bệnh hiếm gặp và thường gây tử vong.
Nhiễm bệnh xảy ra khi bơi trong nước ngọt bị ô nhiễm; Naegleria fowleri xâm nhập vào hệ thần kinh trung ương qua biểu mô thần kinh khứu giác và mảnh sàng.
Các xét nghiệm chẩn đoán cần phải bao gồm soi tươi và nhuộm Giemsa dịch não tủy; sinh thiết não và xét nghiệm hóa mô miễn dịch có thể cần thiết để xác nhận chẩn đoán.
Điều trị nhiễm trùng bằng nhiều thuốc kháng khuẩn, bao gồm cả miltefosine; nếu cần, điều trị co giật và phù não bằng thuốc chống co giật và dexamethasone.
Khả năng sống sót là rất hiếm nhưng được cho là nhờ chẩn đoán và điều trị sớm kết hợp với việc kiểm soát tích cực tình trạng phù não.
