Tổn thương gan

TheoPhilbert Yuan Van, MD, US Army Reserve
Xem xét bởiDavid A. Spain, MD, Department of Surgery, Stanford University
Đã xem xét/Đã chỉnh sửa đã sửa đổi Thg 10 2025
v6623853_vi

Tổn thương gan có thể là kết quả của chấn thương đụng dập hoặc xuyên thủng. Bệnh nhân bị đau bụng và ấn đau ở bụng, đôi khi đau lan đến vai phải. Chẩn đoán được thực hiện bằng chụp CT hoặc siêu âm. Các phương pháp điều trị là theo dõi và đôi khi là phẫu thuật; hiếm khi cần phải cắt gan từng phần.

(Xem thêm Tổng quan về chấn thương bụng.)

Căn nguyên của chấn thương gan

Tác động đáng kể (ví dụ, va chạm xe) hoặc vết thương xuyên (ví dụ, vết dao đâm, vết đạn bắn) đều có thể gây tổn thương gan. Các tổn thương ở gan bao gồm các khối máu tụ dưới bao và các vết rách bao nhỏ đến các vết rách sâu vào nhu mô, tổn thương đụng dập chủ yếu và đứt cuống mạch.

Phân loại

Các tổn thương gan được phân loại theo mức độ nặng thành 5 mức độ.

Bảng

Sinh bệnh học tổn thương gan

Hậu quả chính tức thì là xuất huyết. Lượng máu chảy có thể nhỏ hoặc lớn tùy theo tính chất và mức độ thương tổn. Nhiều vết rách nhỏ, đặc biệt ở trẻ em, có thể tự ngưng chảy máu. Các tổn thương lớn hơn gây ra xuất huyết trầm trọng, thường dẫn tới sốc mất máu. Tỷ lệ tử vong là đáng kể trong tổn thương gan mức độ nặng.

Các biến chứng

Các chấn thương ở mức độ nặng hơn có liên quan đến nguy cơ cao hơn bị các biến chứng. Các vết rách nhu mô sâu có thể dẫn đến rò mật hoặc hình thành tụ mật. Trong rò mật, mật rò rỉ tự do vào khoang bụng hoặc ngực. Đối với rò mật, giảm áp đường mật thông qua nội soi mật tụy ngược dòng (ERCP) có tỷ lệ thành công cao. Tụ mật là một khối chứa mật giống như áp xe. Tụ mật thường được điều trị bằng dẫn lưu qua da.

Áp xe phát sinh ở khoảng 5% số trường hợp bị chấn thương, thường là do mô bị hoại tử tiếp xúc với dịch mật (1). Cần nghi ngờ biến chứng này ở những bệnh nhân đau, sốt và tăng bạch cầu trong những ngày sau khi bị thương; CT giúp khẳng định chẩn đoán. Áp xe thường được điều trị bằng dẫn lưu qua da, nhưng sẽ cần phẫu thuật mở bụng nếu dẫn lưu qua da không thành công.

Tài liệu tham khảo về sinh lý bệnh

  1. 1. Stassen NA, Bhullar I, Cheng JD: Nonoperative management of blunt hepatic injury: An Eastern Association for the Surgery of Trauma practice management guideline. J Trauma Acute Care Surg 73:S288-S293, 2012. doi: 10.1097/TA.0b013e318270160d

Triệu chứng và dấu hiệu của chấn thương gan

Các biểu hiện xuất huyết ổ bụng nghiêm trọng, bao gồm sốc mất máu, đau bụng, cảm ứng phúc mạc và chướng bụng, thường có thể phát hiện được bằng lâm sàng. Xuất huyết nhỏ hoặc khối máu tụ dẫn tới đau bụng và phản ứng thành bụng ở vị trí bụng 1/4 trên phải.

Chẩn đoán chấn thương gan

  • Chẩn đoán hình ảnh (chụp CT hoặc siêu âm)

Tổn thương gan được xác nhận bằng chụp CT ở những bệnh nhân ổn định và bằng siêu âm tại giường hoặc phẫu thuật mở bụng thăm dò ở những bệnh nhân không ổn định.

Điều trị chấn thương gan

  • Theo dõi

  • Đôi khi nút mạch hoặc phẫu thuật để phục hồi.

Các bệnh nhân ổn định huyết động không có các chỉ định khác cho phẫu thuật mở bụng (ví dụ thủng tạng rỗng) có thể được theo dõi qua dấu hiệu sinh tồn và Hematocrit (Hct) liên tiếp. Bệnh nhân đang có xuất huyết nhiều (ví dụ những người có tình trạng hạ huyết áp và sốc, yêu cầu truyền máu liên tục, hoặc giảm Hct) cần được can thiệp. Những bệnh nhân có dấu hiệu sinh tồn ổn định nhưng cần được truyền máu liên tục cần chỉ định chụp mạch và nút mạch có chọn lọc các mạch máu đang chảy máu. Những bệnh nhân toàn trạng không ổn định nên tiến hành phẫu thuật mở bụng.

Xử trí không phẫu thuật được sử dụng cho khoảng > 90% số trường hợp bị chấn thương mức độ 1-3 và khoảng 80% số trường hợp bị chấn thương mức độ 4-5 (1). Bệnh nhân bị thương ở mức độ nặng hơn có xu hướng không đáp ứng với điều trị không phẫu thuật và cần phải nút mạch hoặc phẫu thuật để phục hồi sau đó thường xuyên hơn so với bệnh nhân bị các tổn thương ở mức độ nhẹ hơn. Sau khi điều trị không phẫu thuật, không có đồng thuận trong tài liệu về thời gian nằm trong khoa hồi sức tích cực (ICU), thời gian nằm viện, việc tiếp tục chế độ ăn, thời gian nằm liệt giường hoặc hạn chế hoạt động sau khi xuất viện (2). Tuy nhiên, chấn thương càng nặng, càng cần phải cẩn thận hơn trước khi cho phép tiếp tục các hoạt động có thể liên quan đến nâng vật nặng, thể thao va chạm hoặc chấn thương phần thân.

Khi phẫu thuật được thực hiện, các vết rách nhỏ thường có thể được khâu lại hoặc điều trị bằng các chất cầm máu (ví dụ: cellulose oxy hóa, keo fibrin, hỗn hợp thrombin và gelatin dạng bột). Phẫu thuật đối với các thương tổn sâu hơn và phức tạp hơn có thể không dễ dàng. Phẫu thuật cắt gan và thậm chí cắt bỏ một phần hiếm khi được thực hiện

Tài liệu tham khảo về điều trị

  1. 1. Obaid O, Torres-Ruiz T, Rady E, et al. Contemporary epidemiologic overview of adult liver trauma management across the United States: Analysis of the American College of Surgeons Trauma Quality Improvement Program database. Surgery. Xuất bản trực tuyến ngày 5 tháng 5 năm 2025. doi:10.1016/j.surg.2025.109390

  2. 2. Stassen NA, Bhullar I, Cheng JD. Nonoperative management of blunt hepatic injury: An Eastern Association for the Surgery of Trauma practice management guideline. J Trauma Acute Care Surg. 73:S288-S293, 2012. doi: 10.1097/TA.0b013e318270160d

Những điểm chính

  • Hậu quả tức thời chính của chấn thương gan là chảy máu, thường tự cầm, đặc biệt là nếu chấn thương ở mức độ 1 hoặc mức độ 2, nhưng có thể cần phải nút mạch hoặc phẫu thuật để phục hồi; tỷ lệ tử vong và tỷ lệ bệnh có thể đáng kể ở những chấn thương mức độ cao.

  • Các biến chứng bao gồm rò mật, tụ mật và áp xe.

  • Chẩn đoán dựa vào CT nếu toàn trạng ổn định.

  • Điều trị bệnh nhân bằng phẫu thuật mở bụng (nếu không ổn định), theo dõi (nếu ổn định) hoặc nút mạch chọn lọc (ví dụ: nếu ổn định nhưng cần truyền máu liên tục).

quizzes_lightbulb_red
Test your KnowledgeTake a Quiz!