MSD Manual

Hãy xác nhận rằng quý vị là chuyên gia chăm sóc sức khỏe

Đang tải

Bệnh Alzheimer

(Bệnh Alzheimer)

Theo

Juebin Huang

, MD, PhD,

  • Memory Impairment and Neurodegenerative Dementia (MIND) Center, University of Mississippi Medical Center

Xem lại/Duyệt lại toàn bộ lần cuối Thg2 2016| Sửa đổi nội dung lần cuối cùng Thg3 2016
Nguồn chủ đề

Bệnh Alzheimer gây suy thoái nhận thức tiến triển và được đặc trưng bởi sự lắng đọng beta amyloid và các đám rối thần kinh ở vỏ não và chất xám dưới vỏ.

Bệnh Alzheimer, một bệnh lý nhận thức thần kinh, là nguyên nhân phổ biến nhất của sa sút trí tuệ;chiếm tới 60 to 80% nguyên nhân sa sút trí tuệ ở người cao tuổi. Ở Mỹ, ước tính có khoảng 13% số người ≥ 65 và 45% người ≥ 85 bị bệnh Alzheimer. Bệnh này tỷ lệ mắc ở phụ nữ như nam giới, một phần vì phụ nữ có tuổi thọ dài hơn. Tỷ lệ hiện mắc ở các nước công nghiệp hóa dự kiến sẽ tăng lên do tỷ lệ người cao tuổi tăng lên.

Nguyên nhân

Hầu hết các trường hợp là lẻ tẻ, khởi phát muộn ( 65 yr) và nguyên nhân không rõ ràng. Nguy cơ phát triển bệnh được dự đoán tốt nhất theo độ tuổi. Tuy nhiên, khoảng 5 đến 15% các trường hợp có tính chất gia đình; một nửa trong số những trường hợp này khởi phát sớm (tiền lão) (< 65 năm) và thường liên quan đến các đột biến gen đặc hiệu.

Ít nhất 5 vị trí di truyền khác nhau, nằm trên nhiễm sắc thể số 1, 12, 14, 19 và 21 ảnh hưởng đến sự khởi phát và tiến triển của bệnh Alzheimer.

Các đột biến gen của protein tiền thân amyloid, presenilin I, và presenilin II có thể dẫn tới các thể di truyền trội của bệnh Alzheimer, thường khởi phát ở tuổi tiền lão. Ở những bệnh nhân bị ảnh hưởng, quá trình xử lý protein tiền thân của amyloid bị thay đổi, dẫn đến tích tụ và lắng đọng dạng sợi của beta-amyloid; beta-amyloid là thành phần chính của mảng lão hóa, bao gồm các sợi trục hoặc sợi gai bị thoái hóa, tế bào hình sao, và tế bào thần kinh đệm bao quanh lõi amyloid. Beta-amyloid cũng có thể làm thay đổi hoạt động của các men kinase và phosphatase theo cách để cuối cùng dẫn đến tình trạng tăng phosphoryl hóa protein tau và hình thành các đám rối tơ thần kinh.

Các yếu tố di truyền khác bao gồm apolipoprotein (apo) E alleles (ε). Protein Apo E ảnh hưởng đến sự tích tụ beta-amyloid, sự toàn vẹn của khung tế bào và hiệu quả của việc sửa chữa nơ-ron. Nguy cơ bệnh Alzheimer tăng đáng kể ở những người có 2 ε4 allele và có thể giảm ở những người có ε2 allele. Đối với những người có 2 ε4 allele, nguy cơ mắc bệnh Alzheimer ở tuổi 75 gấp khoảng 10 đến 30 lần so với người không có allele.

Các biến thể trong SORL1 cũng có thể liên quan; chúng phổ biến hơn ở những người bị bệnh Alzheimer khởi phát muộn. Các biến thể này có thể gây ra rối loạn hoạt động chức năng của gen, có thể dẫn đến tăng sản xuất beta-amyloid.

Mối quan hệ giữa các yếu tố khác (như nồng độ hóc môn thấp, tiếp xúc với kim loại) và bệnh Alzheimer đang được nghiên cứu, nhưng không có mối liên hệ nhân quả nào được xác lập.

Sinh lý bệnh

2 đặc trưng bệnh lý của bệnh Alzheimer là

  • Tích tụ beta-amyloid ngoại bào (trong mảng lão hóa)

  • Đám rối tơ thần kinh trong tế bào (các sợi xoắn kép)

Sự lắng đọng amyloid beta và các đám rối tơ thần kinh dẫn đến mất các khớp thần kinh và tế bào thần kinh, dẫn đến teo những khu vực não bị ảnh hưởng, thường bắt đầu từ mặt trong thùy thái dương.

Cơ chế các peptide beta-amyloid và đám rối tơ thần kinh gây ra các tổn thương này hiện vẫn chưa được hiểu biết đầy đủ. Các giả thuyết :

Các giả thuyết amyloid cho rằng việc tích tụ dần beta-amyloid trong não sẽ phát động một chuỗi các sự kiện kết thúc bằng chết tế bào thần kinh, mất các khớp thần kinh và thiếu hụt tăng dần các chất dẫn truyền thần kinh; tất cả những ảnh hưởng này góp phần gây ra các triệu chứng lâm sàng của sa sút trí tuệ.

Cơ chế Prion đã được xác định trong bệnh Alzheimer. Trong bệnh prion, một protein bề mặt tế bào bình thường được gọi là prion protein bị cuộn sai thành một dạng gây bệnh gọi là prion. Prion sau đó làm cho các prion protein khác gấp nếp sai tương tự, dẫn đến một sự gia tăng rõ rệt các protein bất thường, dẫn đến tổn thương não. Trong bệnh Alzheimer, người ta cho rằng beta-amyloid trong các mảng tích tụ amyloid ở não và protein tau trong các đám rối tơ thần kinh có tính chất giống như prion, có đặc tính tự tái tạo.

Triệu chứng cơ năng và thực thể

Biểu hiện phổ biến sớm nhất

  • Mất trí nhớ ngắn hạn (ví dụ, hỏi lặp đi lặp lại một câu, thường xuyên đặt sai đồ vật hoặc quên các cuộc hẹn)

Các thiếu hụt nhận thức khác có xu hướng liên quan đến nhiều chức năng, bao gồm những lĩnh vực sau:

  • Suy giảm khả năng lập luận, khó khăn trong giải quyết các công việc phức tạp, và khả năng đánh giá kém (ví dụ: không thể quản lý tài khoản ngân hàng, đưa ra các quyết định không đúng về tài chính)

  • Rối loạn chức năng ngôn ngữ (ví dụ, khó khăn trong việc suy nghĩ về những từ thông dụng, lỗi trong nói và / hoặc viết)

  • Rối loạn chức năng thị giác không gian (ví dụ, không có khả năng nhận dạng khuôn mặt hoặc các đồ vật thường gặp)

Bệnh tiến triển tăng dần nhưng có thể ổn định trong một khoảng thời gian.

Rối loạn hành vi (ví dụ như đi lang thang, kích động, la hét, hoang tưởng bị hại) hay gặp.

Chẩn đoán

  • Tương tự như các nguyên nhân sa sút trí tuệ khác

  • Thăm khám trạng thái tinh thần kỹ lưỡng

  • Bệnh sử và khám thực thể

  • Xét nghiệm

  • Chẩn đoán hình ảnh thần kinh

Nói chung, chẩn đoán bệnh Alzheimer cũng tương tự như nguyên nhân gây sa sút trí tuệ khác (xem Sa sút trí tuệ : Chẩn đoán).

Đánh giá bao gồm một bệnh sử toàn diện và thăm khám thần kinh tiêu chuẩn. Tiêu chuẩn lâm sàng chính xác 85% trong xác định chẩn đoán và phân biệt bệnh Alzheimer với các nguyên nhân sa sút trí tuệ khác, chẳng hạn như sa sút trí tuệ do nguyên nhân mạch máusa sút trí tuệ thể Lewy.

Tiêu chuẩn chẩn đoán truyền thống đối với bệnh Alzheimer bao gồm tất cả những điều sau đây:

  • Chứng sa sút trí tuệ được xác định dựa vào lâm sàng và được ghi nhận bằng việc thăm khám chi tiết trạng thái tinh thần.

  • Thiếu sót ở 2 loại hình nhận thức

  • Khởi phát dần dần (tức là qua nhiều tháng đến nhiều năm, chứ không phải vài ngày hay vài tuần) và sự xấu đi dần dần của trí nhớ và các chức năng nhận thức khác

  • Không rối loạn ý thức

  • Khởi phát sau tuổi 40, thường gặp nhất sau tuổi 65

  • Không có bệnh hệ thống hoặc não nào (ví dụ như khối u, đột quỵ)) có thể giải thích sự thiếu sót tăng dần trong trí nhớ và nhận thức

Tuy nhiên, những điểm khác biệt so với các tiêu chuẩn này không loại trừ chẩn đoán bệnh Alzheimer, đặc biệt là vì bệnh nhân có thể bị sa sút trí tuệ hỗn hợp.

Hướng dẫn chẩn đoán mới nhất của Viện nghiên cứu quốc gia về lão hóa và Hội Alzheimer cũng bao gồm các dấu ấn sinh học đối với quá trình sinh bệnh học của bệnh Alzheimer:

  • Nồng độ beta-amyloid thấp trong DNT

  • Các lắng đọng amyloid beta trong não được phát hiện bằng chụp PET có sử dụng các chất đánh dấu phóng xạ gắn đặc hiệu vào các mảng beta-amyloid (ví dụ, hợp chất Pittsburgh B [PiB], florbetapir)

Các dấu hiệu sinh học khác cho thấy sự thoái hóa của nơ ron thần kinh ở khu vực tổn thương:

  • Tăng nồng độ protein tau trong dịch não tủy

  • Giảm chuyển hóa ở vỏ não tại vùng thái dương đỉnh, đo bằng cách phim PET với fluorine-18 (18F) - deoxyglucose được đánh dấu (fluorodeoxyglucose, hoặc FDG)

  • Teo cục bộ ở mặt trong, mặt dưới và mặt bên các thùy thái dương và mặt trong thùy đỉnh, được phát hiện bởi phim CHT

Những phát hiện này làm tăng khả năng sa sút trí tuệ do bệnh Alzheimer. Tuy nhiên, các hướng dẫn không ủng hộ việc sử dụng thường xuyên các marker sinh học này để chẩn đoán vì sự chuẩn hóa và tính sẵn có còn hạn chế vào thời điểm này. Ngoài ra, họ không khuyến cáo kiểm tra thường quy allele apo ε4.

Chẩn đoán phân biệt

Phân biệt bệnh Alzheimer với các nguyên nhân sa sút trí tuệ khác là rất khó. Các công cụ đánh giá (ví dụ Hachinski Ischemic Score-xem Bảng: Thang điểm Hachinski Sửa đổi) có thể giúp phân biệt sa sút trí tuệ do nguyên nhân mạch máu với bệnh Alzheimer. Sự dao động về nhận thức, triệu chứng parkinson, ảo thị được hình thành rõ net và trí nhớ ngắn hạn còn được bảo tồn gợi ý sa sút trí tuệthể Lewy thay vì bệnh Alzheimer (xem Bảng: Những khác biệt giữa bệnh Alzheimer và sa sút trí tuệ thể Lewy).

Bệnh nhân bị bệnh Alzheimer thường ăn mặc đẹp và gọn gàng hơn những bệnh nhân mắc bệnh sa sút trí tuệ khác.

Bảng
icon

Thang điểm Hachinski Sửa đổi

Đặc điểm

Điểm *

Đột ngột xuất hiện triệu chứng

2

Sự suy giảm theo từng bước (ví dụ, suy giảm- ổn định-suy giảm)

1

Bệnh diễn biến dao động

2

Lú lẫn ban đêm

1

Nhân cách được bảo tồn tương đối

1

Trầm cảm

1

than phiền về cơ thể (ví dụ, đau người, đau ngực)

1

Cảm xúc không ổn định

1

Tiền sử hoặc hiện tại có tăng huyết áp

1

Tiền sử đột quỵ

2

Có bằng chứng của xơ vữa động mạch cùng tồn tại (ví dụ, PAD, MI)

1

Các triệu chứng thần kinh khu trú (ví dụ, liệt nửa người, bán manh đồng danh, thất ngôn)

2

Các dấu hiệu thần kinh khu trú (ví dụ, yếu một bên, mất cảm giác, phản xạ gân xương mất đối xứng, dấu Babinski)

2

* Tổng số điểm được xác định:

  • <4 gợi ý sa sút trí tuệ nguyên phát (ví dụ bệnh Alzheimer).

  • 4-7 là không xác định.

  • > 7 gợi ý sa sút trí tuệ do mạch

PAD = bệnh động mạch ngoại vi.

Bảng
icon

Những khác biệt giữa bệnh Alzheimer và sa sút trí tuệ thể Lewy

Đặc điểm

Bệnh Alzheimer

Sa sút trí tuệ thể Lewy

Bệnh học

Mảng lão hóa, đám rối tơ thần kinh, và lắng đọng amyloid beta trong vỏ não và chất xám dưới vỏ

Thể Lewy trong tế bào thần kinh của vỏ não

Dịch tễ học

Ảnh hưởng gấp đôi ở phụ nữ

Ảnh hưởng gấp đôi ở nam giới

Di truyền

Có tính chất gia đình trong 5-15% trường hợp

Hiếm khi có tính gia đình

Dao động hàng ngày

Một số

Nổi bật

Trí nhớ ngắn hạn

Mất trong giai đoạn sớm của bệnh

Ít bị ảnh hưởng hơn

Thiếu sót trong độ cảnh tỉnh và chú ý nhiều hơn so với khả năng ghi nhớ

Triệu chứng Parkinson

Rất hiếm, xảy ra trong giai đoạn muộn của bệnh

Dáng đi bình thường

Nổi bật, rõ ràng trong giai đoạn đầu của bệnh

Co cứng trục thân và lối đi không ổn định

Rối loạn chức năng tự động

Hiếm

phổ biến

Ảo giác

Xuất hiện ở khoảng 20% bệnh nhân, thông thường khi bệnh tiến triển mức độ vừa phải

Xuất hiện ở khoảng 80%, thông thường ở giai đoạn sớm của bệnh.

Phổ biến nhất, trực quan

Tác dụng phụ với thuốc chống rối loạn tâm thần

phổ biến

Có thể làm trầm trọng thêm các triệu chứng của sa sút trí tuệ

phổ biến

Các triệu chứng ngoại tháp nặng lên cấp tính, có thể ở mức độ nặng hoặc đe doạ đến tính mạng

Tiên lượng

Mặc dù tốc độ tiến triển thay đổi khác nhau, nhưng không thể tránh khỏi suy giảm nhận thức . Tỷ lệ sống thêm trung bình từ khi có chẩn đoán là 7 năm, mặc dù con số này còn đang được bàn cãi. Tỷ lệ sống thêm trung bình từ khi bệnh nhân không còn đi bộ nữa là khoảng 6 tháng.

Điều trị

  • Nói chung tương tự như các nguyên nhân sa sút trí tuệ khác

  • Có thể dùng chất ức chế cholinesterase và memantine

Các biện pháp an toàn và hỗ trợ cũng giống như của tất cả các loại sa sút trí tuệ. Ví dụ, môi trường nên đủ sáng, vui vẻ, và quen thuộc, và cần được thiết kế để củng cố khả năng định hướng (ví dụ, đặt đồng hồ lớn và lịch trong phòng). Cần thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn bệnh nhân (ví dụ hệ thống giám sát tín hiệu đối với những bệnh nhân hay đi lang thang).

Thuốc điều trị bệnh Alzheimer

Chất ức chế cholinesterase cải thiện một cách khiêm tốn chức năng nhận thức và trí nhớ ở một số bệnh nhân. Hiện có bốn loại; nhìn chung, donepezil, rivastigmine, và galantamine đều có hiệu quả tương đương, nhưng tacrine hầu như không được dùng vì độc tính trên gan của nó. Donepezil là một loại thuốc hàng đầu vì nó có liều dùng một lần / ngày và được dung nạp tốt. Liều khuyến cáo là 5 mg x 1 lần / ngày trong 4 đến 6 tuần, sau đó tăng lên 10 mg một lần / ngày. Liều dùng một lần / ngày của Donepezil 23 mg có thể hiệu quả hơn liều truyền thống 10 mg / ngày đối với bệnh Alzheimer mức độ vừa đến nặng. Cần tiếp tục điều trị nếu cải thiện chức năng sau vài tháng, nhưng nếu không thì nên dừng lại. Tác dụng phụ thường gặp nhất là tác dụng trên đường tiêu hóa (ví dụ như buồn nôn, tiêu chảy). Hiếm khi, chóng mặt và loạn nhịp tim xảy ra. Tác dụng phụ có thể được giảm thiểu bằng cách tăng dần liều (xem Bảng: Thuốc cho bệnh Alzheimer).

Memantine, một một thuốc đối kháng thụ thể N-metyl-d aspartate, dường như cải thiện được nhận thức và khả năng hoạt động chức năng của bệnh nhân mắc bệnh Alzheimer từ vừa đến nặng. Liều dùng là uống 5 mg một lần / ngày, tăng lên 10 mg, chia hai lần trong 4 tuần. Đối với bệnh nhân suy thận, nên giảm liều hoặc tránh dùng thuốc. Memantine có thể được sử dụng cùng với chất ức chế cholinesterase.

Hiệu quả của vitamin E liều cao (1000 IU lần / ngày hoặc liều lượng), selegiline, NSAIDs, chiết xuấtGinkgo biloba , và statins không rõ ràng. Liệu pháp Estrogen không hữu ích trong phòng ngừa hoặc điều trị và có thể có hại.

Bảng
icon

Thuốc cho bệnh Alzheimer

Tên thuốc

Liều khởi đầu

Liều tối đa

Lưu ý

Donepezil

5 mg x 1 lần / ngày

23 mg x 1 lần / ngày (đối với bệnh Alzheimer từ vừa đến nặng)

Nói chung dung nạp tốt nhưng có thể gây buồn nôn hoặc tiêu chảy

Galantamine

4 mg hai lần ngày

Phóng thích kéo dài: 8 mg một lần / ngày, buổi sáng

Liều 12 mg, hai lần ngày

Phát thích kéo dài: 24 mg x 1 lần / ngày buổi sáng

Có thể có lợi hơn cho các triệu chứng hành vi so với các loại thuốc khác

Điều hòa thụ thể nicotinic và kích thích sự giải phóng acetylcholine và tăng cường hiệu quả của nó

Memantine

5 mg hai lần ngày

10 mg hai lần ngày

Được sử dụng ở bệnh nhân mắc bệnh Alzheimer từ vừa đến nặng

Rivastigmine

Chất lỏng hoặc viên nang: 1,5 mg bid

Miếng dán: 4,6 mg / 24 giờ

Chất lỏng hoặc viên nang: 6 mg bid

Miếng dán: 13,3 mg / 24 giờ

Có dạng dung dịch lỏng và một miếng dán

Phòng ngừa

Các bằng chứng quan sát ban đầu cho thấy nguy cơ bệnh Alzheimer có thể giảm xuống nhờ những yếu tố sau:

  • Tiếp tục thực hiện các hoạt động trí tuệ khó (ví dụ, học các kỹ năng mới, giải các câu đố ô chữ) khi đến tuổi già

  • Tập luyện

  • Kiểm soát tăng huyết áp

  • Giảm mức cholesterol

  • Dùng chế độ ăn uống giàu axit béo omega-3 và ít chất béo no

  • Uống rượu với số lượng ít nhất

Tuy nhiên, không có bằng chứng thuyết phục rằng những người không uống rượu nên bắt đầu uống rượu để ngăn ngừa bệnh Alzheimer.

Những điểm chính

  • Mặc dù các yếu tố di truyền có thể có liên quan, nhưng hầu hết các trường hợp mắc bệnh Alzheimer thường tản phát, với nguy cơ cao nhất theo tuổi bệnh nhân.

  • Phân biệt bệnh Alzheimer với các nguyên nhân khác của sa sút trí tuệ (như sa sút trí tuệ do nguyên nhân mạch máu, sa sút trí tuệ thể Lewy) có thể rất khó khăn nhưng thường được thực hiện đúng nhất bằng các tiêu chuẩn lâm sàng, chính xác 85% khi chẩn đoán xác định.

  • Điều trị bệnh Alzheimer tương tự như các hội chứng sa sút trí tuệ khác.

Thêm thông tin

Các chuyên gia đọc thêm

Cũng quan tâm

TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI

TRÊN CÙNG