MSD Manual

Hãy xác nhận rằng quý vị là chuyên gia chăm sóc sức khỏe

Đang tải

Hội chứng lối thoát ngực (TOS)

Theo

Michael Rubin

, MDCM, Weill Cornell Medical College

Xem lại/Duyệt lại toàn bộ lần cuối Thg9 2016| Sửa đổi nội dung lần cuối cùng Thg9 2016

Hội chứng lối thoát ngực là một nhóm các rối loạn không rõ ràng, được đặc trưng bởi đau và dị cảm tại bàn tay, cổ, vai, hoặc cánh tay. Chúng liên quan đến sự chèn ép lên đám rối thần kinh cánh tay (và có thể cả mạch thượng đòn) khi những cấu trúc này đi qua lối thoát ngực. Hiện vẫn chưa có các kỹ thuật chẩn đoán cụ thể. Điều trị bao gồm liệu pháp vật lý trị liệu, giảm đau, trong trường hợp nặng phải phẫu thuật.

Cơ chế bệnh sinh chưa được biết rõ, nhưng đôi khi lại liên quan đến chèn ép thân dưới của đám rối thần kinh cánh tay (và các mạch máu thượng đòn), vì các cấu trúc này đi qua lối vào ngực dưới cơ bậc thang trước và trên xương sườn thứ nhất trước khi chúng đi vào nách, nhưng những điều này vẫn chưa được xác định rõ ràng. Chèn ép có thể do

  • Xương sườn cổ

  • Xương sườn ngực thứ nhất bất thường

  • Vị trí hoặc tư thế bất thường của vào cơ bậc thang trước

  • Gãy xương đòn liền sai

Hội chứng lối thoát ngực phổ biến hơn ở phụ nữ và thường tiến triển trong khoảng từ 35 đến 55 tuổi.

Triệu chứng cơ năng và thực thể

Đau và dị cảm thường bắt đầu ở cổ hoặc vai và mở rộng đến phần giữa cánh tay và đôi khi đến trước thành ngực liền kề. Nhiều bệnh nhân giảm cảm giác từ nhẹ đến trung bình trong vùng chi phối phía sau của C8 đến T1; một số ít có sự thay đổi nổi bật trong mạch máu ở tay (ví dụ xanh tím, sưng nề). Trong một số ít các trường hợp, yếu toàn bộ bàn tay.

Các biến chứng hiếm gặp bao gồm hội chứng Raynaud và hoại tử ngọn chi.

Chẩn đoán

  • Đánh giá lâm sàng

  • Điện cơ và thường chụp MRI đám rối thần kinh cánh tay và/hoặc tủy cổ.

Phân bố triệu chứng trên lâm sàng giúp gợi ý chẩn đoán hội chứng lối thoát ngực. Có nhiều nghiệm pháp giúp chứng minh sự chèn ép lên các mạch máu (ví dụ, bằng cách làm căng đám rối thần kinh cánh tay), nhưng độ nhạy và độ đặc hiệu thấp. Nghe tiếng thổi ở xương đòn hoặc đỉnh nách hoặc chụp X-quang tìm xương sườn cổ để hỗ trợ chẩn đoán.

Mặc dù chụp động mạch có thể phát hiện tắc nghẽn một phần hay toàn bộ động mạch hoặc tĩnh mạch nách, nhưng không phát hiện nào có giá trị chắc chắn để chẩn đoán bệnh.

Làm điện cơ ở tất cả các bệnh nhân với các triệu chứng nghi ngờ, và MRI đám rối thần kinh cánh tay, cột sống cổ, hoặc cả hai.

Điều trị

  • Vật lý trị liệu và giảm đau

  • Trong trường hợp nặng, phẫu thuật

Hầu hết các bệnh nhân không có các triệu chứng thần kinh đáp ứng với liệu pháp vật lý, NSAID, và thuốc chống trầm cảm ba vòng liều thấp.

Nếu xương sườn cổ hay động mạch thượng đòn bị chèn ép, quyết định liệu phẫu thuật nên được đưa ra bởi một chuyên gia giàu kinh nghiêm. Trong một số trường ngoại lệ, phẫu thuật dành riêng cho những bệnh nhân tiến triển giảm đáng kể mạch thần kinh và không đáp ứng với điều trị bảo tồn.

Những điểm chính

  • Nghi ngờ các những hội chứng này nếu bệnh nhân có đau không rõ nguyên nhân và dị cảm bắt đầu ở cổ hoặc vai và lan xuống giữa cánh tay .

  • Điên cơ chẩn đoán và thường đánh giá MRI đám rối thần kinh cánh tay và/hoặc cột sống cổ.

  • Điều trị hầu hết bệnh nhân bằng giảm đau và vật lý trị liệu

  • Cân nhắc phẫu thuật nếu bệnh nhân có xương sườn cổ hoặc chèn ép mạch thượng đòn và thiếu năng mạch thần kinh mặc dù đã được điều trị bảo tồn.

Các chuyên gia đọc thêm

Cũng quan tâm

TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI

TRÊN CÙNG