MSD Manual

Hãy xác nhận rằng quý vị là chuyên gia chăm sóc sức khỏe

Đang tải

Tiếp cận bệnh nhân có bệnh lý về nhịp thức ngủ

Theo

Karl Doghramji

, MD, Jefferson Sleep Disorders Center, Thomas Jefferson University

Xem lại/Duyệt lại toàn bộ lần cuối Thg10 2014| Sửa đổi nội dung lần cuối cùng Thg10 2014
Nguồn chủ đề

Các triệu chứng phổ biến nhất liên quan đến giấc ngủ là chứng mất ngủ và buồn ngủ vào ban ngày quá mức(EDS).

  • Mất ngủ là khó bắt đầu và duy trì giấc ngủ, thức dậy sớm, hoặc cảm giác ngủ không thoải mái.

  • EDS là tình trạng ngủ trong thời gian vốn bình thường thức.

EDS không phải là bệnh lý mà là triệu chứng của nhiều loại bệnh lý về giấc ngủ. Mất ngủ có thể là một bệnh lý, thậm chí xuất hiện trong hoàn cảnh các bệnh lý khác hoặc có thể là một triệu chứng của các bệnh lý khác. Những rối loạn xảy ra trong giấc ngủ là những điều bất thường liên quan đến giấc ngủ (ví dụ như những cơn ác mộng ban đêm, mộng du -xem Những rối loạn xảy ra trong giấc ngủ).

Sinh lý bệnh

Có 2 trạng thái của giấc ngủ, mỗi trạng thái đều có các thay đổi sinh lý đặc trưng:

  • Chuyển động mắt chậm (NREM): Giai đoạn NREM chiếm từ 75 đến 80% tổng thời gian ngủ của người lớn. Nó bao gồm 3 giai đoạn (N1 đến N3) khi tăng độ sâu của giấc ngủ. Giai đoạn chuyển động lăn chậm của mắt, đặc trưng cho thức tỉnh yên lặng và giai đoạn sớm N1 của giấc ngủ, biến mất trong các giai đoạn ngủ sâu hơn. Hoạt động của cơ cũng giảm. Giai đoạn N3 được gọi là giấc ngủ sâu vì ngưỡng kích thích tăng cao; ngủ đến giai đoạn này sẽ đạt được giấc ngủ ngon.

  • Giai đoạn chuyển động mắt nhanh (REM): Ngủ REM luân phiên với ngủ NREM. Giai đoạn này được đặc trưng bởi các điện thế hoạt động nhanh trên điện não đồ và giảm trương lực cơ. Nhịp thở và biên độ dao động mạnh. Hầu hết các giấc mơ xảy ra trong giai đoạn ngủ REM.

Sự tiến triển thông qua 3 giai đoạn, theo sau bởi một khoảng ngắn ngủ REM, xảy ra theo chu kì khoảng 5-6 lần một đêm. (xem Hình: Dạng giấc ngủ điển hình ở người trưởng thành trẻ tuổi.). Các giai đoạn thức (giai đoạn W) xảy ra định kỳ.

Nhu cầu ngủ thay đổi rất đa dạng, dao động từ 6 đến 10 giờ/ 24 giờ. Trẻ sơ sinh ngủ phần lớn thời gian trong ngày; do có sự lão hóa, tổng thời gian ngủ và giấc ngủ sâu có xu hướng giảm và giấc ngủ dần bị gián đoạn hơn. Ở người cao tuổi, giai đoạn N3 có thể biến mất. Những thay đổi này có thể làm tăng ngủ ngày và mệt mỏi do lão hóa, nhưng chúng không có nhiều ý trên lâm sàng.

Dạng giấc ngủ điển hình ở người trưởng thành trẻ tuổi.

Ngủ chuyển động mắt nhanh (REM) xảy ra theo chu kỳ 90-120 phút đêm. Các giai đoạn thức ngắn (giai đoạn W) xảy ra định kỳ. Thời gian ngủ được tính như sau:

  • Giai đoạn N1: 2-5%

  • Giai đoạn N2: 45-55%

  • Giai đoạn N3: 13-23%

  • REM: 20-25%

Dạng giấc ngủ điển hình ở người trưởng thành trẻ tuổi.

Nguyên nhân

Một số bệnh lý có thể gây mất ngủ hoặc ngủ quá mức ban ngày (đôi khi cả hai) và một số khác gây ra một trong hai tình trạng. (xem Bảng: Một số nguyên nhân gây mất ngủ và buồn ngủ ban ngày quá mức).

Bảng
icon

Một số nguyên nhân gây mất ngủ và buồn ngủ ban ngày quá mức

Bệnh lý

Mất ngủ

Quá buồn ngủ vào ban ngày

Sinh hoạt cá nhân không hợp lý

Rối loạn điều chỉnh giấc ngủ

Mất ngủ do tâm sinh lý

Các bệnh lý giấc ngủ về thể chất hoặc tinh thần

Hội chứng ngủ không đủ

Bệnh lý giấc ngủ phụ thuộc thuốc và do thuốc

Ngừng thở khi ngủ do tắc nghẽn

Hội chứng ngừng thở trung ương

Bệnh lý giấc ngủ do nhịp sinh học

Ngủ rũ

Rối loạn vận động chân tay có chu kỳ

Hội chứng chân không nghỉ

= thường xuất hiện (nhưng mất ngủ và/hoặc buồn ngủ ban ngày quá mức có thể xảy ra trong bất kỳ bệnh lý nào).

Mất ngủ (xem Mất ngủ và buồn ngủ ban ngày quá mức (EDS)) thường gây ra bởi

  • Bệnh mất ngủ (rối loạn điều chỉnh giấc ngủ, mất ngủ do tâm thần kinh)

  • Sinh hoạt cá nhân không hợp lý

  • Bệnh lý tâm thần, đặc biệt là cảm xúc, lo lắng và các bệnh lý do sử dụng chất gây nghiện

  • Các bệnh lý y khoa khác như bệnh lý tim phổi, tình trạng cơ xương và đau mãn tính.

  • Hội chứng thiếu ngủ

  • Ngừng thở khi ngủ

  • Các bệnh lý không phân loại, bệnh lý thần kinh và tâm thần

  • Bệnh lý do thay đổi nhịp sinh học như thay đổi sau chuyến bay và bệnh lý giấc ngủ liên quan ca làm việc

Vệ sinh giấc ngủ không hợp lý gồm các hành vi không có lợi cho giấc ngủ (xem Vện sinh giấc ngủ) như:

  • Sử dụng caffein, thuốc cường giao cảm hoặc các chất kích thích (đặc biệt khi dùng gần thời điểm đi ngủ và thậm chí với những bệnh nhân nhạy cảm ngay cả khi sử dụng thuốc vào buổi chiều).

  • Tập luyện hoặc quá hưng phấn (ví dụ: chương trình truyền hình hấp dẫn) vào tối muộn

  • Giờ giấc ngủ - thức thất thường

Những bệnh nhân bù lại giấc ngủ bị mất bằng cách ngủ muộn hay ngủ trưa thì giấc ngủ đêm của họ sẽ bị chia nhỏ.

Rối loạn điều chỉnh giấc ngủ là do căng thẳng cảm xúc đột ngột (ví dụ như mất việc làm, nhập viện) làm gián đoạn giấc ngủ.

Mất ngủ do tâm sinh lý là mất ngủ (bất kể nguyên nhân) tồn tại vượt quá khả năng xử lí của các yếu tố cá nhân, thường là do bệnh nhân cảm thấy lo lắng khi tưởng tượng về đêm mất ngủ tiếp theo và hôm sau sẽ mệt mỏi. Thông thường, bệnh nhân dành hàng giờ trên giường tập trung và suy nghĩ về sự mất ngủ của họ, và khó ngủ ở trong phòng của mình hơn so với ngủ xa nhà.

Bệnh lý thực thể gây đau hoặc khó chịu (ví dụ như viêm khớp, ung thư, đĩa đệm thoát vị) đặc biệt là những bệnh nặng hơn khi vận động làm bệnh nhân thức giấc và chất lượng giấc ngủ kém. Các cơn co giật về đêm có thể gây ảnh hưởng cho giấc ngủ.

Phần lớn các bệnh lý tâm thần có liên quan đến buồn ngủ quá mức ban ngày và mất ngủ. Khoảng 80% bệnh nhân trầm cảm nặng được thấy bị buồn ngủ quá mức vào ban ngày và mất ngủ; ngược lại, 40% bệnh mất ngủ mãn tính có bệnh lý tâm thần nghiêm trọng, thường là rối loạn cảm xúc.

Hội chứng thiếu ngủ thường do không ngủ đủ vào ban đêm mặc dù có đủ điều kiện để ngủ, thường là do các ràng buộc xã hội hoặc công việc.

Bệnh lý giấc ngủ do thuốc là hậu quả của việc sử dụng kéo dài hoặc dừng đột ngột các loại thuốc. (xem Bảng: Một số loại thuốc ảnh hưởng đến giấc ngủ.).

Bảng
icon

Một số loại thuốc ảnh hưởng đến giấc ngủ.

Nguyên nhân

Ví dụ

Lạm dụng thuốc

Rượu

Thuốc chống co giật (ví dụ phenytoin)

Hoá trị liệu chống chuyển hóa

Một số thuốc chống trầm cảm của các nhóm SSRI, SNRI, MAOI và TCA

Các chất kích thích thần kinh trung ương (ví dụ, thuốc kích thích, caffeine)

Thuốc tránh thai đường uống

Propranolol

Steroids (steroid tổng hợp, corticosteroid)

Các chế phẩm hoocmon tuyến giáp

Dừng thuốc

Rượu

Một số thuốc chống trầm cảm thuộc các nhóm SSRI, SNRI, MAOI và TCA

Các chất ức chế thần kinh trung ương (ví dụ, barbiturates, opioid, thuốc an thần)

Các loại thuốc cấm (ví dụ: cocaine, heroin, cần sa, phencyclidine)

MAOI = chất ức chế monoamine oxidase SNRI = chất ức chế tái hấp thu serotonin- norepinephrine; TCA = thuốc chống trầm cảm ba vòng.

Các bệnh lý do nhịp sinh học (xem Các bệnh lý về nhịp điệu sinh học) dẫn đến sai lệch giữa nhịp thức - ngủ nội sinh với chu kỳ sáng - tối của môi trường. Nguyên nhân có thể từ bên ngoài (ví dụ như rối loạn múi giờ, rối loạn liên quan công việc ca kíp) hoặc bên trong (ví dụ rối loạn giai đoạn ngủ có trì hoãn hoặc nâng cao).

Ngừng thở khi ngủ (xem Ngừng thở trung ương khi ngủ) bao gồm các giai đoạn lặp lại ngừng thở hoặc thở nông trong khi ngủ, kéo dài ít nhất 10 giây và gây ra do hạn chế công hô hấp. Bệnh thường biểu hiện như mất ngủ, hoặc ngủ chập chờn và không thoải mái.

Tắc nghẽn đường thở khi ngủ (xem Ngừng thở tắc nghẽn khi ngủ) bao gồm các cơn đóng một phần hoặc hoàn toàn đường hô hấp trên trong khi ngủ, dẫn đến ngừng thở khoảng ≥ 10 giây. Hầu hết các bệnh nhân ngáy, có thể phải thức dậy và thở hổn hển. Những cơn này làm gián đoạn giấc ngủ và dẫn đến cảm giác ngủ không ngon và gây buồn ngủ quá mức ban ngày.

Ngủ rũ (xem Ngủ rũ) được đặc trưng bởi buồn ngủ quá mức ban ngày mãn tính, thường kèm theo mất trương lực cơ, liệt khi ngủ và ảo giác giấc ngủ hoặc ảo giác thôi miên:

  • Mất trương lực cơ là sự yếu cơ bắp hoặc tê liệt mà không mất ý thức xuât hiện khi có phản ứng cảm xúc đột ngột (ví dụ như vui nhộn, tức giận, sợ hãi, vui vẻ, bất ngờ). Sự yếu cơ có thể gặp ở tay chân (ví dụ bệnh nhân có thể làm rơi cần câu khi cá cắn câu) hoặc có thể ngã khi cười rất vui (như "yếu với tiếng cười") hoặc đột nhiên tức giận

  • Mất trương lực là không thể vận động khi vừa rơi vào giấc ngủ hoặc ngay khi thức dậy.

  • Hiện tượng ảo giác giấc ngủ và ảo giác thôi miên là những ảo thanh, ảo thị hoặc ảo giác xảy ra khi ngủ thiếp đi (mơ ngủ) hoặc ít gặp hơn là ngay sau khi thức dậy (mơ thức).

Rối loạn chuyển động chân tay có chu kỳ (xem Rối loạn chuyển động chân tay có định kỳ (PLMD) và hội chứng chân không nghỉ (Restless Legs Syndrome - RLS)) được đặc trưng bởi lặp đi lặp lại (thường từ 20 đến 40 giây) co giật hoặc các chi dưới đá trong lúc ngủ. Bệnh nhân thường than phiền về giấc ngủ đêm bị gián đoạn hoặc buồn ngủ quá mức vào ban ngày. Họ thường không ý thức được về các cử động theo sau bởi các kích thích ngắn và họ không có cảm giác bất thường ở các chi.

Hội chứng chân không yên (xem Rối loạn chuyển động chân tay có định kỳ (PLMD) và hội chứng chân không nghỉ (Restless Legs Syndrome - RLS)) được đặc trưng bởi một sự thôi thúc không thể cưỡng lại làm di chuyển chân và ít gặp hơn là các cánh tay, thường xuất hiện song song với dị cảm (ví dụ như cảm giác côn trùng bò hoặc đốt) ở chân tay khi tựa vào. Để làm giảm các triệu chứng, bệnh nhân di chuyển đầu chi bị ảnh hưởng bằng cách duỗi, đá hoặc đi bộ. Do đó, họ khó ngủ hoặc thức giấc liên tục trong đêm hoặc cả hai.

Khám bệnh

Bệnh sử

Bệnh sử của bệnh hiện tại nên bao gồm thời gian và tuổi khi bắt đầu triệu chứng và bất kỳ điểm nào (ví dụ như thay đổi cuộc sống hoặc công việc, thuốc mới, bệnh tật mới) chúng trùng khớp với sự khởi phát bệnh. Các triệu chứng trong suốt giấc ngủ và khi thức dậy nên được lưu ý.

Chất lượng và số lượng giấc ngủ được xác định bằng cách xác định

  • Thời gian ngủ

  • Thời gian đi vào giấc ngủ (thời gian từ khi lên giường đến khi vào giấc ngủ)

  • Số lượng và thời gian lúc thức

  • Thời gian lần thức dậy sau cùng vào buổi sáng và thời gian phát sinh

  • Tần suất và thời gian ngủ trưa

Đề nghị bệnh nhân giữ một bản ghi giấc ngủ trong vài tuần sẽ cung cấp thông tin chính xác hơn so với đặt câu hỏi với họ. Các việc làm trong giờ đi ngủ (ví dụ như ăn hoặc uống rượu, hoạt động thể chất hoặc tinh thần) cần được khai thác Việc dùng hoặc dừng thuốc, rượu, caffeine, nicotine cũng như mức độ và thời gian của hoạt động thể chất cũng nên được đưa vào.

Nếu buồn ngủ quá mức ban ngày là vấn đề, mức độ nghiêm trọng nên được ước lượng dựa trên khuynh hướng ngủ thiếp đi trong những tình huống khác nhau (ví dụ khi nghỉ ngơi thoải mái với khi lái xe). Thang điểm giấc ngủ Epworth (xem Bảng: Thang điểm giấc ngủ Epworth) có thể được sử dụng; tổng điểm 10 biểu hiện buồn ngủ ban ngày bất thường.

Bảng
icon

Thang điểm giấc ngủ Epworth

Tình huống

Ngồi và đọc sách

Xem TV

Ngồi không hoạt động ở nơi công cộng

Đi xe như một hành khách xe hơi trong 1 giờ liên tục

Nằm nghỉ ngơi vào buổi chiều

Ngồi và nói chuyện với ai đó

Ngồi yên tĩnh sau bữa ăn trưa (không uống rượu)

Ngồi trong một xe ô tô dừng lại vài phút trong giao thông

Đối với mỗi tình huống, điểm được đánh giá là không có (0), nhẹ (1), trung bình (2) hoặc cao (3). Tổng điểm 10 gợi ý có buồn ngủ ban ngày bất thường

Đánh giá toàn diện khám các triệu chứng đặc hiệu khác của bệnh lý giấc ngủ, bao gồm

  • Ngáy, hoạt động thở bị gián đoạn và các rối loạn hô hấp khi ngủ khác (hội chứng ngưng thở khi ngủ)

  • Trầm cảm, lo lắng, loạn trí và hưng cảm (các bệnh lý giấc ngủ tâm thần)

  • Bồn chồn chân, không thể cưỡng lại được việc di chuyển chân và giật các cử động chân (hội chứng chân không yên)

  • Mất trương lực và tê liệt khi ngủ và hiện tượng ảo giác (chứng ngủ rũ)

Người ngủ cùng hoặc các thành viên khác trong gia đình có thể nhận thấy rất rõ những triệu chứng này.

Tiền sử nên hỏi về các bệnh lý đã biết có thể gây ảnh hưởng cho giấc ngủ bao gồm COPD, hen suyễn, suy tim, cường giáp, trào ngược dạ dày thực quản, bệnh lý thần kinh (đặc biệt là bệnh lý về vận động và thoái hoá) và các bệnh lý gây đau (ví dụ RA). Các yếu tố nguy cơ của ngừng thở do tắc nghẽn bao gồm béo phì, bệnh lý tim, cao huyết áp, đột quỵ, hút thuốc, ngáy và chấn thương mũi. Tiền sử dùng thuốc nên hỏi về việc sử dụng bất kỳ loại thuốc nào có liên quan đến rối loạn giấc ngủ (xem Bảng: Một số loại thuốc ảnh hưởng đến giấc ngủ.).

Khám lâm sàng

Khám lâm sàng rất có ích cho việc xác định các dấu hiệu liên quan đến ngưng thở khi ngủ:

  • Béo phì với mỡ phân bố quanh cổ hoặc cơ hoành

  • Vòng cổ lớn (≥ 43,2 cm ở nam giới, ≥ 40,6 cm ở nữ giới)

  • Thiểu sản hàm dưới hoặc hàm dưới đưa ra sau

  • Tắc nghẽn mũi

  • Quá phát: amydal, lưỡi, lưỡi gà hoặc vòm miệng mềm (điểm số Mallampati 3 hoặc 4-xem Hình: Điểm Mallampati)

  • Giảm mở màn hầu

  • Lưỡi gây tắc nghẽn khoảng cách của lưỡi gà và khâu cái

  • Thừa niêm mạc hầu

Khám ngực xem có tiếng thở rít và gù vẹo cột sống hay không Triệu chứng thực thể suy thất phải cần được lưu ý. Cần khám thần kinh tổng quát

Dấu hiệu báo động

Những phát hiện sau đây cần được quan tâm đặc biệt:

  • Ngủ khi lái xe hoặc các tình huống nguy hiểm tiềm ẩn khác

  • Lặp lại các cơn ngủ đột ngột (ngủ thiếp đi mà không báo trước)

  • Gián đoạn giấc ngủ hoặc thức dậy mà thở hổn hển được bạn cùng giường ghi nhân

  • Tình trạng hô hấp hoặc tuần hoàn không ổn định

  • Đột quỵ gần đây

  • Tình trạng mất trương lực (mất trương lực liên tục)

  • Tiền sử có các hình vi bạo lực hoặc gây thương tích cho bản thân hoặc người khác khi ngủ

  • Mộng du thường xuyên hoặc hành vi khác ngoài giường

Giải thích các triệu chứng

Khi khai thác bệnh sử bệnh nhân thường vệ sinh giấc ngủ không phù hợp và bệnh nhân rất hay căng thẳng. Hội chứng ngủ không đủ là khi thời gian ngủ tăng lên (ví dụ, vào cuối tuần hoặc ngày nghỉ) thì sẽ không còn buồn ngủ quá mức ban ngày. Khi bệnh nhân có buồn ngủ quá mức ban ngày kèm theo mất trương lực, ảo giác mơ ngủ/mơ thức hoặc mất trương lực nên xem xét chẩn đoán ngủ rũ.

Khó ngủ (mất ngủ do khởi phát) cần được phân biệt với khó khăn duy trì giấc ngủ và thức dậy sớm (mất ngủ do duy trì giấc ngủ).

Khi bệnh nhân mất ngủ do khởi phát giấc ngủ cần xem xét các chẩn đoán như hội chứng giai đoạn ngủ bị trì hoãn, mất ngủ mãn tính liên quan tâm thần, hội chứng chân không yên hoặc ám ảnh thời thơ ấu.

Mất duy trì giấc ngủ gợi ý các bệnh như trầm cảm nặng, ngưng thở thần kinh hoặc tắc nghẽn, rối loạn vận động chi có chu kỳ hoặc lão hóa.

Ngủ sớm và thức dậy sớm gợi ý hội chứng giai đoạn giấc ngủ nhanh.

Các bác sĩ nên nghi ngờ ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn ở bệnh nhân ngáy nhiều, thường xuyên thức giấc và có các yếu tố nguy cơ khác. Bảng điểm STOP-BANG có thể giúp dự đoán nguy cơ bị ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn (xem Bảng: Bảng điểm STOP-BANG đánh giá rủi ro đối với chứng ngừng thở khi ngủ tắc nghẽn).

Bảng
icon

Bảng điểm STOP-BANG đánh giá rủi ro đối với chứng ngừng thở khi ngủ tắc nghẽn

Mục đánh giá

Triệu chứng

Ngáy

Ngáy to (to hơn cả nói chuyện hoặc đủ lớn để nghe được qua cửa)

Mệt mỏi

Thường mệt mỏi hoặc buồn ngủ vào ban ngày

Quan sát

Quan sát thấy ngừng thở trong khi ngủ

BP

Huyết áp cao hoặc đang điều trị tăng huyết áp

BMI

> 35 kg / m2

Tuổi

> 50 tuổi

Chu vi vòng cổ

> 40 cm (> 15 3/4 inch)

Giới

Nam giới

≥ 3 Triệu chứng = nguy cơ cao về OSA.

<3 triệu chứng = nguy cơ thấp của OSA.

BMI = chỉ số khối cơ thể; OSA = ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ.

Cận lâm sàng

Các xét nghiệm thường được chỉ định khi các triệu chứng cơ năng và triệu chứng thụ thể như ngưng thở khi ngủ, co giật ban đêm, ngủ rũ, rối loạn vận động chi có chu kỳ hoặc các bệnh lý khác mà chẩn đoán dựa vào kết quả đo đa kí giấc ngủ điển hình. Khi nghi ngờ chẩn đoán lâm sàng hoặc khi đáp ứng không hoàn toàn với điều trị ban đầu ban đầu thì cũng cần chỉ định các xét nghiệm. Nếu các triệu chứng cơ năng và triệu chứng thực thể gợi ý rất rõ ràng các nguyên nhân nào đó (ví dụ như hội chứng chân không yên, thói quen ngủ kém, căng thẳng thoáng qua, công việc theo ca kíp) thì không bắt buộc phải chỉ định các test.

Đa kí giấc ngủ đặc biệt quan trọng khi nghi ngờ bệnh nhân mắc các bệnh như ngừng thở khi ngủ, ngủ rũ, co giật ban đêm, rối loạn vận động chi có chu kỳ hoặc các rối loạn xảy ra trong giấc ngủ. Đa kí giấc ngủ cũng giúp các bác sĩ lâm sàng đánh giá các hành vi bạo lực và tiềm ẩn nguy cơ chấn thương. Đa kí giấc ngủ theo dõi hoạt động của não (thông qua điện não đồ), chuyển động mắt, nhịp tim, nhịp thở, bão hòa O2, trương lực cơ và hoạt động trong thời gian ngủ. Quay video có thể được sử dụng để xác định các hoạt động bất thường trong thời gian ngủ. Đa kí giấc ngủ thường được thực hiện trong phòng thí nghiệm về giấc ngủ; thiết bị dùng cho gia đình đã được thiết kế nhưng chỉ để giúp chẩn đoán ngừng thở khi ngủ chứ không phải các bệnh lý về giấc ngủ khác.

Test đánh giá thời gian chậm vào giấc ngủ đánh giá tốc độ khởi phát giấc ngủ của bệnh nhân trong 5 lần ngủ trưa mỗi 2 giờ trong suốt thời gian ban ngày. Bệnh nhân được yêu cầu nằm ngủ trong một căn phòng tối. Khởi phát và giai đoạn ngủ (bao gồm REM) được theo dõi bằng đa kí giấc ngủ để xác định mức độ buồn ngủ. Sử dụng test này là để chẩn đoán bệnh ngủ rũ.

Với duy trì test kiểm tra sự tỉnh táo, bệnh nhân được yêu cầu ngồi trên giường hoặc ghế dựa trong một căn phòng yên tĩnh trong suốt 4 lần thức cách nhau 2 giờ. Thử nghiệm này có lẽ là một cách đo lường chính xác hơn về khả năng tỉnh táo trong các tình huống hàng ngày.

Bệnh nhân có chứng buồn ngủ quá mức ban ngày có thể cần làm xét nghiệm về chức năng thận, gan và tuyến giáp.

Điều trị

Điều trị theo tình trạng cụ thể. Vệ sinh giấc ngủ hợp lý (xem Bảng: Vện sinh giấc ngủ) là điều trị quan trọng với mọi nguyên nhân và thường là điều trị duy nhất với những bệnh nhân nhẹ.

Bảng
icon

Vện sinh giấc ngủ

Phương pháp

Thực hiện

Lịch ngủ/thức

Thời gian đi ngủ và đặc biệt là thời gian thức dậy phải như nhau mỗi ngày, kể cả cuối tuần. Bệnh nhân không nên dành nhiều thời gian trên giường.

Sử dụng giường phù hợp

Hạn chế thời gian trên giường cải thiện sự liên tục của giấc ngủ. Nếu không thể ngủ được trong vòng 20 phút, bệnh nhân nên ra khỏi giường và trở lại khi buồn ngủ. Giường không được sử dụng cho các hoạt động khác ngoài giấc ngủ hoặc hoạt động tình dục (ví dụ như không phải để đọc sách, ăn uống, xem truyền hình hoặc trả hóa đơn).

Tránh ngủ trưa, ngoại trừ người làm việc ca, người cao tuổi, và bệnh nhân ngủ rũ

Ngủ trưa có thể làm trầm trọng khó ngủ ở bệnh nhân mất ngủ. Tuy nhiên, ngủ trưa làm giảm sự cần thiết của chất kích thích ở bệnh nhân ngủ rũ và cải thiện hoạt động của người lao động theo ca. Ngủ ngắn nên vào các khoảng thời gian giống nhau mỗi ngày và giới hạn trong vòng 30 phút

Thói quen thường xuyên trước khi đi ngủ

Một mô hình hoạt động-đánh răng, tắm, đặt đồng hồ báo thức-có thể tạo cảm xúc cho giấc ngủ. Nên tránh đèn sáng trước khi đi ngủ và trong suốt thời gian tỉnh giấc ban đêm.

Môi trường ngủ thoải mái

Phòng ngủ nên tối, yên tĩnh và mát mẻ; chỉ nên sử dụng cho ngủ và hoạt động tình dục. Loại bỏ ánh sáng bằng rèm cửa hoặc mặt nạ ngủ, loại bỏ tiếng ồn bằng nút tai, quạt, hoặc thiết bị tránh tiếng ồn.

Gối

Gối giữa đầu gối hoặc dưới thắt lưng có thể làm tăng sự thoải mái. Đối với bệnh nhân có vấn đề về lưng, các tư thế hữu ích bao gồm nằm ngửa với gối lớn dưới đầu gối và ngủ một bên với gối giữa đầu gối.

Tập thể dục đều đặn

Tập thể dục thúc đẩy giấc ngủ và giảm căng thẳng, nhưng nếu được thực hiện vào buổi tối muộn, nó có thể kích thích hệ thống thần kinh và ảnh hưởng giấc ngủ.

Thư giãn

Căng thẳng và lo lắng ảnh hưởng đến giấc ngủ. Đọc sách hoặc tắm trước khi đi ngủ có thể giúp thư giãn. Có thể được sử dụng các kỹ thuật như hình ảnh thị giác, thư giãn cơ bắp và các bài tập thở. Bệnh nhân không nên theo dõi đồng hồ.

Tránh các chất kích thích và thuốc lợi tiểu

Các thức uống có cồn hoặc caffein, hút thuốc, ăn thực phẩm có chứa caffein (ví dụ như sôcôla) và uống thuốc giảm cảm giác ngon miệng hoặc thuốc lợi tiểu, nên tránh đặc biệt là trước khi đi ngủ

Tiếp xúc với ánh sáng quá chói khi thức dậy

Tiếp xúc ánh sáng nhẹ trong ngày có thể giúp khắc phục nhịp sinh học, nhưng nếu tiếp xúc với ánh sáng quá gần giường ngủ, nó có thể gây trở ngại cho giấc ngủ.

Thần kinh

Hướng dẫn chung về sử dụng thuốc ngủ (xem Bảng: Hướng dẫn sử dụng thuốc ngủ) nhằm mục đích giảm thiểu lạm dụng và gây nghiện.

Bảng
icon

Hướng dẫn sử dụng thuốc ngủ

Xác định chỉ định rõ ràng và mục tiêu điều trị.

Kê liều thấp nhất hiệu quả

Tùy loại thuốc ngủ và bệnh nhân cụ thể, thời hạn sử dụng trong vài tuần.

Cá thể hoá liều cho mỗi bệnh nhân.

Sử dụng liều thấp hơn ở bệnh nhân cũng dùng thuốc ức chế thần kinh trung ương, ở người cao tuổi và ở những bệnh nhân có bệnh lý về gan hoặc thận.

Tránh * nếu bệnh nhân có ngưng thở khi ngủ hoặc bệnh lý hô hấp hoặc có tiền sử lạm dụng thuốc an thần, nếu họ đang uống rượu hoặc đang mang thai.

Đối với những bệnh nhân cần điều trị lâu dài, hãy cân nhắc điều trị ngắt quãng

Nếu có thể tránh đột ngột ngưng thuốc (hoặc giảm liều).

Đánh giá lại việc điều trị thuốc thường xuyên; đánh giá hiệu quả và các tác dụng bất lợi.

* Ramelteon là một ngoại lệ; nó có thể được dùng cho bệnh nhân có chứng ngưng thở khi ngủ tắc nghẽn ở mức độ vừa phải hoặc COPD hoặc có tiền sử lạm dụng thuốc an thần. Doxepin liều thấp cũng không gây lạm dụng.

Đối với thuốc ngủ được sử dụng phổ biến, xem Bảng: Sử dụng thuốc ngủ đường uống. Tất cả các thuốc ngủ (ngoại trừ ramelteon, doxepin liều thấp và suvorexant) hoạt động tại vị trí nhận dạng benzodiazepine trên receptor γ-aminobutyric (GABA) và tăng thêm hiệu quả ức chế của GABA.

Các thuốc ngủ khác nhau chủ yếu ở thời gian bán thải và khởi đầu tác dụng. Bệnh khó vào ngủ chỉ định dùng thuốc có thời gian bán hủy ngắn. Khó vào giấc ngủ và khó duy trì giấc ngủ cần chỉ định thuốc có thời gian bán huỷ dài hoặc mất ngủ do khó duy trì giấc ngủ chỉ định sử dụng doxepin liều thấp. Một số thuốc ngủ (ví dụ các thuốc benzodiazepine thế hệ cũ) có khả năng kéo dài tác dụng cho thời gian ban ngày tiếp theo, đặc biệt là sau khi sử dụng kéo dài và/hoặc ở người cao tuổi. Các thuốc mới có thời gian tác dụng rất ngắn (zolpidem ngậm dưới lách liều thấp) có thể dùng vào giữa đêm và khi thức giấc ban đêm, miễn là bệnh nhân nằm trên giường ít nhất 4 giờ sau khi sử dụng.

Những bệnh nhân có biểu hiện an thần hoặc thất điều vào ban ngày, hoặc bất cứ hiệu ứng nào vào ban ngày nên tránh các hoạt động đòi hỏi sự tỉnh táo (ví dụ như lái xe), giảm liều, ngừng thuốc hoặc nếu cần có thể thay thuốc khác. Các tác dụng phụ khác bao gồm chứng mất trí, ảo giác, mất phối hợp và ngã.

Bảng
icon

Sử dụng thuốc ngủ đường uống

Thuốc uống

Thời gian bán thải (h)

Liều

Bàn luận

Các thuốc chủ vận thụ thể benzodiazepine: Benzodiazepine

Triazolam

1.5−5.5

0,25-0,5 mg

Có thể gây quên trước tuổi; khả năng dung nạp và phục hồi cao sau khi sử dụng lặp đi lặp lại

Temazepam

9.5–12.4

7,5-15 mg

Thời gian tiềm tàng dài nhất gây khởi phát giấc ngủ

Estazolam

10–24

0,5-2 mg

Hiệu quả cho việc kích thích và duy trì giấc ngủ

Quazepam

39–100

7,5-15 mg

Khả năng gắn lipid cao, có thể giảm tác dụng an thần lại trong 7-10 ngày đầu sử dụng liên tục

Flurazepam

47–100

15-30 mg

Có nguy cơ cao về tác dụng an thần vẫn còn trong ngày tiếp theo; không nên dùng cho người cao tuổi

Các thuốc chủ vận thụ cảm benzodiazepine: Nonbenzodiazepine

Zaleplon

1

5-20 mg

Tác dụng rất nhanh; có thể được dùng cho khó vào giấc ngủ hoặc sau khi thức giấc ban đêm (nếu bệnh nhân có thể nằm ít nhất 4 giờ trên giường sau khi dùng thuốc)

Khi sử dụng vào giờ đi ngủ bình thường, ít còn sót lại tác dụng của thuốc

Zolpidem, viên nén

2.5

Nam giới: 5-10 mg

Phụ nữ: 5 mg

Chỉ có hiệu quả đối với bệnh khó vào giấc ngủ

Zolpidem xịt miệng

2.7

Nam giới: 5 mg, 10 mg

Phụ nữ: 5 mg

Dùng cho khó vào giấc ngủ

Zolpidem, phóng thích kéo dài

2.8

Đàn ông: 6,25-12,5 mg

Phụ nữ: 6,25 mg

Có hiệu quả đối với bệnh khó vào giấc ngủ hoặc khó duy trì giấc ngủ, không dung nạp với liều trên 6 tháng sử dụng 3 đến 7 đêm / tuần

Zolpidem, dưới lưỡi

2.9

Vào giờ đi ngủ

  • Nam giới: 5 mg, 10 mg

  • Phụ nữ: 5 mg

Nữa đêm

  • Đàn ông: 3,5 mg

  • Phụ nữ: 1,75 mg

Khởi đầu nhanh hơn Zolpidem dạng viên

Các liều cao hơn được sử dụng cho khó vào giấc ngủ.

Liều thấp hơn dùng cho bệnh nhân bị thức sớm (không nên dùng trừ khi bệnh nhân có thể nằm ít nhất 4 giờ trên giường sau khi dùng thuốc)

Eszopiclone

6

1-3 mg

Có hiệu quả đối với bệnh khó vào giấc ngủ và khó duy trì giấc ngủ; không dung nạp với tối đa 6 tháng khi sử dụng hàng đêm

Các chất chủ vận thụ thể melatonin

Ramelteon

1–5

8 mg

Chỉ có ích cho khó vào giấc ngủ; một trong vài loại thuốc ngủ không liên quan đến khả năng lam dụng thuốc

Có thể được an toàn cho bệnh nhân có bệnh ngưng thở khi ngủ tắc nghẽn ở mức độ nhẹ đến vừa hoặc COPD

Không gặp khó khăn khi sử dụng lâu dài

Thuốc chống trầm cảm ba vòng

Doxepin, liều cực thấp

15.3

3 mg, 6 mg

Chỉ định cho mất ngủ do duy trì; không có khả năng lạm dụng

* Bao gồm tiền chất và chất chuyển hóa hoạt tính. Sắp xếp theo thứ tự từ chu kỳ bán rã ngắn nhất đến lâu nhất.

Liều cho trước khi đi ngủ.

Các dạng zolpidem mới hơn.

Thuốc ngủ đã được phê duyệt gần đây bao gồm suvorexant và tasimelteon.

Suvorexant là thuốc điều trị mất ngủ mới, hoạt động bằng cách chặn các thụ thể orexin não, do đó ngăn chặn các tín hiệu đánh thức gây ra bởi orexin và cho phép bắt đầu ngủ. Liều khuyến cáo là 10 mg/lần, không quá một lần/đêm và được uống trong vòng 30 phút khi đi ngủ, ít nhất 7 giờ trước thời gian dự tính thức dậy. Liều có thể tăng lên nhưng không nên vượt quá 20 mg/lần mỗi ngày. Tác dụng phụ thường gặp nhất là ngủ gà

Tasimelteon, một chất chủ vận thụ thể melatonin, có thể làm tăng thời gian ngủ ban đêm và giảm thời gian ngủ ban ngày ở những bệnh nhân mù hoàn toàn có hội chứng ngủ-thức không 24 giờ. Liều dùng là 20 mg một lần/ngày trước khi đi ngủ, vào cùng thời điểm mỗi đêm. Tác dụng phụ thường gặp nhất là nhức đầu và những giấc mơ bất thường hoặc ác mộng bất thường. Tasmelteon dường như không có khả năng dẫn tới lạm dụng thuốc.

Thuốc ngủ nên được sử dụng thận trọng ở bệnh nhân suy hô hấp. Ở người cao tuổi, bất kỳ loại thuốc ngủ, ngay cả ở liều lượng nhỏ, có thể gây ra sự bồn chồn, kích động hoặc khởi phát cơn mê sảng và chứng sa sút trí tuệ. Hiếm khi, thuốc ngủ có thể gây ra các hành vi phức tạp liên quan đến giấc ngủ, chẳng hạn như mộng du và thậm chí ngủ khi lái xe; sử dụng các liều cao hơn mức khuyến cáo và dùng đồng thời các đồ uống có cồn có thể làm tăng nguy cơ hành vi như trên. Hiếm khi xảy ra phản ứng dị ứng nghiêm trọng.

Sử dụng kéo dài thường không được khuyến khích bởi vì có thể tiến triển sự dung nạp (xem Thuốc giảm đau và giảm lo âu) và bởi vì khi dừng đột ngột có thể gây ra mất ngủ hoặc thậm chí lo lắng, run và co giật. Những tác dụng này phổ biến hơn với các thuốc benzodiazepine (đặc biệt là triazolam) và ít phổ biến hơn với nonbenzodiazepine. Nhược điểm này có thể được giảm thiểu bằng cách sử dụng liều thấp nhất có hiệu quả trong những khoảng thời gian ngắn và bằng cách giảm liều trước khi dừng thuốc (xem thêm Thuốc giảm đau và giảm lo âu : Hội chứng cai và giải độc). Tuy nhiên, nhiều bệnh nhân bị bệnh mất ngủ mạn tính cần được điều trị lâu dài bằng thuốc ngủ; không nên trì hoãn việc điều trị như vậy bởi vì bản thân bệnh mất ngủ mãn tính có thể làm cản trở cuộc sống tình cảm và thể chất.

Các chất an thần khác

Nhiều loại thuốc không chỉ định chính cho bệnh mất ngủ được sử dụng để tạo ra và duy trì giấc ngủ.

Rượu được bệnh nhân sử dụng nhiều để giúp ngủ nhưng rượu là một lựa chọn tồi vì sau khi sử dụng kéo dài và ở liều ngày càng cao , nó tạo ra giấc ngủ không tự nhiên, xáo trộn với thức tỉnh ban đêm thường xuyên, thường tăng giấc ngủ ban ngày. Rượu có thể làm suy giảm hô hấp trong khi ngủ ở bệnh nhân bị chứng ngưng thở khi ngủ tắc nghẽn và các bệnh khác ở phổi như COPD.

Thuốc kháng histamine có thể mua tự do (ví dụ doxylamine, diphenhydramine) có thể gây ngủ. Tuy nhiên, hiệu quả là không thể đoán trước và các thuốc này có tác dụng phụ như buồn ngủ ban ngày, lú lẫn, bí tiểu, và các hiệu ứng kháng cholinergic toàn thân khác, đặc biệt đáng lo ngại ở người cao tuổi.

Thuốc chống trầm cảm dùng liều thấp khi đi ngủ (ví dụ, doxepin 25 đến 50 mg, paroxetine 5 đến 20 mg, trazodone 50 mg, trimipramine 75 đến 200 mg) có thể cải thiện giấc ngủ. Tuy nhiên, thuốc chống trầm cảm nên được sử dụng với liều thấp này chủ yếu là khi thuốc ngủ không dung nạp (hiếm) hoặc ở liều cao hơn (thuốc chống trầm cảm) khi kèm theo trầm cảm. Doxepin liều cực thấp (3 hoặc 6 mg) được chỉ định cho khó duy trì giấc ngủ.

Melatonin là một hoocmon được tiết ra bởi tuyến tùng (và có tự nhiên trong một số thực phẩm). Melatonin được kích thích tiết bởi bóng tối và ức chế tiết bởi ánh sáng. Bằng cách gắn kết với các thụ thể của melatonin trong nhân suprachiasmatic, melatonin là chất trung gian các nhịp sinh học, đặc biệt là khi bắt đầu giấc ngủ sinh lý. Melatonin đường uống (điển hình là từ 0,5 đến 5 mg trước khi đi ngủ) có thể có hiệu quả đối với các vấn đề về giấc ngủ do hội chứng giai đoạn ngủ bị trì hoãn. Khi được sử dụng để điều trị bệnh lý này, cần phải dùng thuốc vào thời điểm thích hợp (vài giờ trước khi tăng lượng melatonin nội sinh vào buổi tối - đầu buổi tối cho hầu hết mọi người) và với liều thấp từ 0,5 đến 1 mg; nếu uống sai giờ nó có thể làm trầm trọng thêm vấn đề về giấc ngủ. Đối với những hình thức mất ngủ khác, hiệu quả của melatonin hầu như không được kiểm chứng và sự an toàn của nó còn đang nghi ngờ bởi vì nó có vẻ kích thích sự thay đổi động mạch vành ở động vật. Tuy nhiên, các tác động bất lợi đáng lo ngại đã không được báo cáo sau khi sử dụng rộng rãi. Các chế phẩm sẵn có của melatonin không được kiểm soát, do đó không thể đảm bảo được hàm lượng và độ tinh khiết và những ảnh hưởng của việc sử dụng lâu dài vẫn chưa được biết. Việc sử dụng nó phải được giám sát bởi thầy thuốc

Những điểm chính

  • Vệ sinh giấc ngủ không hợp lý và các vấn đề phát sinh (ví dụ, làm việc ca, căng thẳng cảm xúc) gây ra nhiều trường hợp mất ngủ.

  • Xem xét các nguyên nhân có thể như bệnh khác (ví dụ hội chứng ngưng thở khi ngủ, bệnh lý gây đau) và bệnh lý tâm thần (ví dụ rối loạn cảm xúc).

  • Thông thường, khi nghi ngờ hội chứng ngưng thở khi ngủ, rối loạn vận động chân tay có chu kỳ hoặc bệnh lý về giấc ngủ khác, khi chẩn đoán lâm sàng nghi ngờ hoặc khi đáp ứng với điều trị ban đầu ban đầu là không đầy đủ xem xét chỉ định các thăm dò về giấc ngủ (ví dụ đa kí giấc ngủ).

  • Sử dụng dụng cụ thôi miên và thuốc an thần một cách thận trọng ở người cao tuổi.

  • Vệ sinh giấc ngủ tốt có thể là cách điều trị duy nhất cần thiết cho những bệnh nhân có mất ngủ nhẹ

Các chuyên gia đọc thêm

Cũng quan tâm

TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI

TRÊN CÙNG