honeypot link

MSD Manual

Hãy xác nhận rằng quý vị là chuyên gia chăm sóc sức khỏe

Tổng quan u xương khớp

Theo

Michael J. Joyce

, MD, Cleveland Clinic Lerner School of Medicine at Case Western Reserve University;


Hakan Ilaslan

, MD, Cleveland Clinic Lerner College of Medicine at Case Western Reserve University

Xem lại/Duyệt lại toàn bộ lần cuối Thg2 2017| Sửa đổi nội dung lần cuối cùng Thg2 2017

U xương có thể là lành tính hoặc ác tính. U ác tính có thể là nguyên phát hoặc thứ phát.

Ở trẻ nhỏ, hầu hết các u xương là u nguyên phát và lành tính; một sốlà u nguyên phát ác tính (ví dụ, sarcom xương, sarcom Ewing). Rất ít trường hợp là u di căn (ví dụ: u nguyên bào thần kinh, u Wilms). U tủy xương cũng có thể gặp ở trẻ nhỏ như lơ xê miu lympho.

Ở người trưởng thành, đặc biệt là trên 40 tuổi, u di căn nhiều gấp khoảng 100 lần so với u ác tính nguyên phát. Ngoại trừ các khối u của tế bào tủy xương (ví dụ, đa u tủy xương), thì hàng năm chỉ có khoảng 2500 ca ung thư xương nguyên phát ở Mỹ, tính cả trẻ em và người lớn.

Cực kì hiếm gặp u màng hoạt dịch ở cả trẻ em và người lớn. Viêm màng hoạt dịch thể lông nốt sắc tố là một bệnh lành tính nhưng đôi khi là khối u gây phá hủy của các tế bào màng hoạt dịch. Sarcom màng hoạt dịch (thường có cả tế bào thoi và các thành phần giống tế bào tuyến) là khối u ác tính của mô mềm không phải nguồn gốc từ màng hoạt dịch, hiếm khi xuất hiện bên trong ổ khớp.

Triệu chứng cơ năng và thực thể

U xương thường gây ra triệu chứng đau và sưng tăng dần, không giải thích được. Đau có thể xảy ra khi không mang vác vật nặng (đau khi nghỉ), đặc biệt là vào ban đêm hoặc khi mang vác vật nặng.

Chẩn đoán

  • X-quang thường quy

  • Thường sử dụng MRI và đôi khi là phim CT

  • Xạ hình xương nếu nghi ngờ khối u ở nhiều vị trí hoặc di căn

  • Sinh thiết được chỉ định trừ khi các phương pháp chẩn đoán hình ảnh cho thấy những đặc điểm tổn thương lành tính rõ ràng hoặc ngược lại nếu có nhiều tổn thương xương ở bệnh nhân đã xác định được ung thư nguyên phát

Lý do phổ biến nhất khiến chẩn đoán u xương bị trì hoãn là do các bác sĩ không nghĩ tới và do đó không chỉ định các phương pháp chẩn đoán hình ảnh thích hợp. Cần nghĩ tới u xương khi bệnh nhân có triệu chứng đau xương không giải thích được, đặc biệt là đau vào ban đêm hoặc đau khi nghỉ ngơi. Những dấu hiệu gợi ý u xương như đau dai dẳng liên tục hoặc đau tăng lên không rõ nguyên nhân ở thân mình hoặc tứ chi, đặc biệt trong trường hợp có khối u.

X-quang thường quy là chỉ định đầu tiên để xác định và phát hiện u xương. Các dấu hiệu nghĩ tới khối u, bao gồm cả các tổn thương được phát hiện tình cờ trên phim Xquang được chỉ định vì lý do khác, thường cần thêm các xét bổ sung, như các biện pháp chẩn đoán hình ảnh (ví dụ MRI) và sinh thiết.

Những điểm chính và các cạm bẫy trong chẩn đoán

  • Cần nghĩ tới u xương ở những bệnh nhân có triệu chứng đau xương không giải thích được, đặc biệt là đau vào ban đêm hoặc khi nghỉ ngơi.

Các dấu hiệu đặc trưng

Một số khối u (ví dụ:u xơ không cốt hoá, loạn sản xơ xương, u sụn) và các bệnh giống u (ví dụ, Bệnh Paget xương) có thể có những dấu hiệu đặc trưng trên phim Xquang và có thể được chẩn đoán mà không cần sinh thiết.

Các dấu hiệu trên Xquang gợi ý ung thư bao gồm những dấu hiệu sau:

  • Tổn thương phá hủy, tiêu xương

  • Tổn thương mất xương dạng thấm, bờ mờ

  • Khối u có ranh giới không rõ

  • Ổ tiêu xương có nhiều vách ngăn (dạng bọt xà phòng)

  • Phá vỡ vỏ

  • Xâm lấn mô mềm

  • Gãy xương bệnh lý

Tổn thương xương dạng nang là những vùng xương bị phá hủy có ranh giới rõ. Tổn thương dạng thấm được đặc trưng bởi tổn thương tiêu xương, bờ mờ, nham nhở, ranh giới không rõ. Một số khối u có các đặc điểm đặc trưng. Ví dụ: Sarcom Ewing có đặc điểm điển hình là tổn thương tiêu xương bờ mờ, xâm lấn phần mềm và phản ứng màng xương tạo nên hình ảnh vỏ hành, sau đó tổn thương phá hủy, tiêu xương tiến triển nhanh. U tế bào khổng lồ có tổn thương dạng nang lớn, không có viền đặc xương ở xung quanh. Vị trí của khối u rất có giá trị trong việc định hướng chẩn đoán. Ví dụ: sarcom Ewing thường xuất hiện ở thân xương dài, sarcom xương thường xuất hiện ở vùng hành - thân xương tới cuối xương dài, u tế bào khổng lồ thường xuất hiện ở đầu xương.

Một số bệnh lý tủy xương ở trẻ nhỏ như lơ xê miu lympho cũng có thể gây ra các tổn thương xương trên Xquang.

Một số bệnh lý u lành tính có thể có các biểu hiện tương tự u ác tính:

  • Cốt hóa lạc chỗ (viêm cơ cốt hóa) và can xương sau gãy xương có thể gây ra tình trạng canxi hóa quanh vỏ xương và các mô mềm xung quanh tạo nên hình ảnh giống khối u ác tính.

  • Bệnh mô bào Langerhans (mô bào X, bệnh Letterer-Siwe, bệnh Hand-Schüller-Christian, u hạt ưa acid) có thể gây ra tổn thương đơn độc hoặc nhiều xương, thường được phân biệt trên Xquang. Trường hợp tổn thương đơn độc có dày vỏ xương gợi ý khối u ác tính.

  • Bệnh xương đặc đốm (xương đốm) là một bệnh không có triệu chứng và biến chứng trên lâm sàng nhưng có thể nhầm với ung thư vú di căn xương. Tổn thương đặc trưng là vùng xơ xương hình tròn hoặc hình bầu dục, nhỏ, đa ổ, thường ở xương cổ chân, cổ tay, hoặc xương chậu hoặc vùng hành - thân xương của các xương ống.

Các thăm dò cận lâm sàng khác

CT và MRI có thể giúp xác định vị trí, mức độ xâm lấn của khối u và đôi khi gợi ý chẩn đoán xác định. Trong trường nghi ngờ ung thư, MRI thường được sử dụng. Nếu khối u nghi ngờ di căn hoặc có nhiều ổ, nên chỉ định làm xạ hình xương để tìm các khối u khác.

Sinh thiết thường rất cần thiết trong chẩn đoán các bệnh lý u ác tính, trừ trường hợp chẩn đoán hình ảnh thấy đặc điểm của khối u lành tính rõ ràng. Cần cung cấp cho các nhà giải phẫu bệnh các thông tin thích hợp về tiền sử bệnh và các phim chụp. Chẩn đoán mô bệnh học có thể khó và cần có đủ lượng mô cần thiết từ phần đại diện của khối u (thường là phần mềm). Tốt nhất nên để những trung tâm có nhiều kinh nghiệm về sinh thiết xương đọc kết quả. Chẩn đoán xác định nhanh chóng và chính xác có thể > 90% trường hợp.

Sinh thiết cũng cần trong trường hợp tổn thương đơn độc nghi ngờ ung thư di căn. Tuy nhiên, trong trường hợp tổn thương di căn nhiều nơi trên một bệnh nhân đã xác định được ung thư nguyên phát thì có thể không cần sinh thiết.

Nếu nghi ngờ tổn thương ác tính trên mô bệnh học cắt lạnh, các bác sĩ phẫu thuật thường đợi kết quả mô bệnh học thường quy trước khi quyết định điều trị. Sai lầm thường xảy ra ở những bệnh viện ít có kinh nghiệm với những bệnh nhân u xương nguyên phát ác tính.

Những điểm chính

  • Ở trẻ em, hầu hết các khối u xương là nguyên phát và lành tính, một số nguyên phát và ác tính, rất ít khi di căn.

  • Ở người lớn, đặc biệt là những người trên 40 tuổi, ung thư di căn gặp nhiều hơn khoảng 100 lần so với các khối u nguyên phát ác tính.

  • Đánh giá ban đầu bằng phim Xquang nhưng thường cần phim MRI và các phương pháp khác.

  • Các dấu hiệu gợi ý tổn thương ung thư trên Xquang bao gồm tổn thương tiêu xương (đặc biệt là tổn thương đa ổ), bờ không đều, phá vỡ vỏ, xâm lấn phần mềm và gãy xương bệnh lý.

  • Sinh thiết là cần thiết để chẩn đoán u ác tính.

Các chuyên gia đọc thêm

Cũng quan tâm

TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI

TRÊN CÙNG