MSD Manual

Hãy xác nhận rằng quý vị là chuyên gia chăm sóc sức khỏe

Đang tải

Rụng tóc

(Rụng tóc, Hói)

Theo

Wendy S. Levinbook

, MD, Hartford Dermatology Associates

Xem lại/Duyệt lại toàn bộ lần cuối Thg6 2016| Sửa đổi nội dung lần cuối cùng Thg6 2016
Nguồn chủ đề

(Xem thêm Rụng tóc Areata.)

Rụng tóc được định nghĩa là mất tóc từ cơ thể. Rụng tóc thường là một nguyên nhân gây quan tâm lớn cho bệnh nhân do mỹ phẩm và tâm lý, nhưng nó cũng có thể là một dấu hiệu quan trọng của bệnh hệ thống.

Sinh lý bệnh

Chu kỳ tăng trưởng

Tóc phát triển theo chu kỳ. Mỗi chu kỳ bao gồm các giai đoạn:

  • Giai đoạn phát triển dài (anagen)

  • Một giai đọan tạm thời chuyển tiếp theo chương trình (catagen)

  • Một giai đoạn nghỉ ngơi ngắn (telogen)

Vào cuối giai đoạn nghỉ ngơi, tóc rụng (ngoại sinh) và một sợi tóc mới bắt đầu phát triển trong nang tóc, bắt đầu chu kỳ một lần nữa.

Thông thường, khoảng từ 50 đến 100 sợi tóc hết vòng đời mỗi ngày và rụng. Khi mất đáng kể hơn 100 sợi tóc / ngày hết vòng đời, rụng tóc lâm sàng (telogen effluvium) có thể xảy ra. Một sự gián đoạn của giai đoạn phát triển gây ra sự mất bất thường của các sợi tóc anagen là rụng tóc anagen (anagen effluvium).

Phân loại

Rụng tóc có thể được phân loại như khu trú hoặc lan tỏa và do sự hiện diện có hoặc không có sẹo.

Rụng tóc sẹo là kết quả của việc phá hủy nang lông. Nang tóc bị tổn thương không thể sửa chữa và thay thế bằng mô xơ. Một số bệnh về tóc cho thấy một mô hình hai pha trong đó rụng tóc không sẹo xuất hiện sớm trong quá trình của bệnh, và sau đó rụng tóc sẹo và rụng tóc vĩnh viễn xảy ra khi bệnh tiến triển. Rụng tóc sẹo có thể được chia nhỏ hơn thành các dạng tiên phát, với vị trí tác động của viêm chính là nang tóc, và dạng thứ phát, với nang bị phá hủy do viêm không đặc hiệu ( Một số nguyên nhân rụng tóc).

Rụng tóc không sẹo kết quả từ quá trình làm giảm hoặc làm chậm sự phát triển của tóc mà không làm hỏng nang tóc. Bệnh chủ yếu ảnh hưởng đến thân tóc (trichodystrophies) cũng được coi là chứng rụng tóc không triệu chứng.

Bảng
icon

Một số nguyên nhân rụng tóc

Rụng tóc

Nguyên nhân hoặc mô tả

Rụng tóc không sẹo lan tỏa

Rụng tóc anagen (gây ra bởi các tác nhân làm suy yếu hoặc làm phá vỡ chu kỳ Anagen)

tác nhân hóa trị liệu

Ngộ độc (ví dụ, tali, arsenic, các kim loại khác)

Bức xạ (cũng gây ra sẹo rụng tóc)

Rụng tóc Androgenetic (Rụng tóc kiểu hói nam hoặc nữ)

Androgens (ví dụ, dihydrotestosterone)

Gia đình

tăng sinh bệnh lý (nam hóa ở nữ giới-xem Rậm lông)

Rối loạn bẩm sinh

không có lông tóc bẩm sinh với các sẩn

loạn sản ngoại bì

Các bất thường thân tóc tiên phát

Dễ gãy (trichorrhexis nodosa)

Rối loạn di truyền

Hội chứng tóc anagen lỏng lẻo

sử dụng quá nhiều máy sấy tóc (bong bóng tóc)

Rụng tóc telogen (tăng số lượng tóc bước vào giai đoạn nghỉ ngơi)

Thuốc (Thuốc hóa trị liệu, thuốc chống đông, retinoid, thuốc tránh thai uống, thuốc ức chế ACE, chẹn beta, lithium, kháng giáp, chống co giật, thừa VitA )

Các vấn đề về nội tiết (ví dụ, cường giáp, suy giáp)

Thiếu hụt dinh dưỡng (ví dụ, kẽm, biotin, hoặc thiếu sắt)

Các căng thẳng sinh lý hoặc tâm lý (ví dụ phẫu thuật, hoặc mệt mỏi, mang thai)

Rụng tóc mảng

Rụn tóc lan tỏa da đầu (ít phổ biến hơn của rụng tóc mảng)

Rụng tóc toàn bộ (rụng tóc da đầu hoàn toàn)

Chứng rụng tóc toản hể (mất lông tóc toàn thân và da đầu)

Rụng tóc điểm không sẹo

rụng tóc mảng da đầu (dạng phổ biến nhất của rụng tóc mảng)

Hói dạng dải (rụng tóc dạng dải dọc theo đường xung quanh của thái dương và ra sau chẩm)

Khác

Rụng tóc do kéo tóc, xoắn, hoặc chọc (tật nhỏ tóc)

Rụng tóc Lipederrmatous

Rụng tóc sau phẫu thuật (áp lực)

Các bất thường thân tóc tiên phát

Bệnh giang mai 2

SLE (thường gây ra những tổn thương dạng đĩa có sẹo hay rụng tóc lan tỏa không sẹo)

Mất tóc tam giác tạm thời

Microsporum audouinii

Microsporum canis

Trichophyton schoenleinii

Trichophyton tonsurans

Rụng tóc do kéo

Lực kéo do bím tóc, con lăn, hoặc buộc đuôi ngựa (xảy ra chủ yếu ở sợi tóc phía trước và thái dương)

Rụng tóc sẹo (khu trú hoặc lan tỏa)

Viêm nang lông dạng sẹo lồi

Viêm nang lông trên da đầu chẩm dẫn đến sẹo rụng tóc

Rụng tóc sẹo ly tâm (CCCA)

Rụng tóc sẹo tiến triển trên vùng vương niệm hoặc đỉnh của da đầu

Nguyên nhân phổ biến nhất của rụng tóc ở bệnh nhân da đen, thường xảy ra ở phụ nữ gốc Phi

Lupus da mạn tính

Tổn thương dạng đĩa của lupus ở da đầu

Viêm mô bào vùng da đầu

Các tổn thương viêm sưng kết hợp với sự hình thành xoang

Một phần của bít tắc nang tóc

Lichen phằng da đầu (lichen planus của da đầu)

thường có ban đỏ quanh nang tóc và dày sừng nang lông quá mức

Rụng tóc sẹo thứ phát

bỏng

xơ cứng bì khu trú

Xơ cứng hệ thống tiến triển ( xơ cứng bì)

Phóng xạ trị liệu (cũng gây rụng tóc không sẹo lan tỏa)

Sarcoidosis

Ung thư da

bội nhiễm (do giang mai tiên phát nghiêm trọng hoặc nấm da đầu nặng)

Chấn thương

* Nấm da đầu có thể gây sẹo nếu nang tóc bị tổn thương.

Các tắc nghẽn nang tóc (còn gọi là mụn trứng cá đảo ngược) là mụn trứng cá bọc, viêm tuyến mồ hôi mủ, viêm mô bào của da đầu, và xoang nang- rối loạn tăng sừng hóa nang tóc chung.

Nguyên nhân

Rụng tóc bao gồm một nhóm lớn bệnh lý với nhiều nguyên nhân khác nhau ( Một số nguyên nhân rụng tóc).

Các nguyên nhân phổ biến nhất của rụng tóc là

  • Rụng tóc Androgenetic (rụng tóc kiểu hói nam hoặc nữ)

Rụng tóc androgenetic là một rối loạn di truyền phụ thuộc androgen, trong đó dihydrotestosterone đóng một vai trò quan trọng. dạng rụng tóc này có thể ảnh hưởng tới 80% đàn ông da trắng ở tuổi 70 (rụng tóc theo kiểu nam) và khoảng một nửa số phụ nữ (tóc rụng kiểu nữ).

Các nguyên nhân phổ biến khác rụng tóc là

  • Thuốc (bao gồm các chất hoá học trị liệu)

  • Nhiễm trùng (ví dụ như nấm da đầu, kerion)

  • Bệnh hệ thống (rối loạn gây sốt cao, lupus ban đỏ hệ thống, rối loạn nội tiết và thiếu hụt dinh dưỡng)

  • Rụng tóc mảng

  • Chấn thương

Các nguyên nhân gây chấn thương bao gồm tật nhổ tóc, kéo tóc, chứng rụng tóc sẹo ly tâm (CCCA), bỏng, bức xạ, và rụng tóc do áp lực (ví dụ: rụng tóc sau phẫu thuật).

Các nguyên nhân ít phổ biến hơn

  • Các bất thường thân tóc nguyên phát

  • Bệnh tự miễn dịch

  • Ngộ độc kim loại nặng

  • Các tình trạng da liễu (ví dụ, viêm mô bào ở da đầu, thường ảnh hưởng đến người đàn ông da đen trẻ)

Đánh giá

Bệnh sử

Bệnh sử nên bao gồm sự khởi đầu và thời gian rụng tóc, cho dù tóc rụng được tăng lên, và liệu rụng tóc là lan rộng hoặc tại chỗ. Các triệu chứng liên quan như ngứa và sẹo. Bệnh nhân cần được hỏi về các phương pháp chăm sóc tóc thông thường, bao gồm việc sử dụng các buộc tóc, con lăn và máy sấy tóc, và liệu có thường xuyên kéo hoặc xoắn tóc không.

Rà soát hệ thống nên bao gồm những phơi nhiễm gần đây đối với các kích thích độc hại (ví dụ thuốc, chất độc, phóng xạ) và các yếu tố căng thẳng (ví dụ phẫu thuật, bệnh mãn tính, sốt, căng thẳng tâm lý). Có thể tìm thấy triệu chứng của các nguyên nhân, bao gồm mệt mỏi và không dung nạp lạnh (suy giáp) và ở phụ nữ, chứng rậm lông, giọng nói sâu và tăng ham muốn tình dục (virilization). Cần lưu ý các tính năng khác, bao gồm giảm cân đột ngột, thực hành chế độ ăn kiêng (bao gồm các chế độ ăn kiêng hạn chế khác nhau) và hành vi ám ảnh cưỡng chế. Ở phụ nữ, nên khai thác lịch sử về hoocmon / phụ khoa / sinh sản.

Tiền sử nên lưu ý đến các nguyên nhân có thể có của rụng tóc, bao gồm rối loạn nội tiết và da. Việc sử dụng thuốc hiện tại và gần đây cần được xem xét đối với các tác nhân có thê liên quan ( Một số nguyên nhân rụng tóc). Một lịch sử gia đình rụng tóc nên được ghi lại.

Khám thực thể

Khám da đầu cần lưu ý đến sự phân bố của rụng tóc, sự hiện diện và đặc điểm của bất kỳ tổn thương da nào, và liệu có sẹo hay không. Nên đo chiều rộng của vùng. Cần lưu ý đến những bất thường của thân tóc.

Cần phải khám toàn bộ da để đánh giá rụng tóc ở nơi khác trên cơ thể (ví dụ lông mày, lông mi, cánh tay, chân), phát ban có thể liên quan đến một số loại rụng tóc cụ thể (ví dụ: tổn thương dang đĩa của lupus, dấu hiệu giang mai thứ phát hoặc các bệnh nhiễm khuẩn hoặc nấm), và các dấu hiệu nam hóa ở phụ nữ (ví dụ, rậm lông, trứng cá, giọng nói trầm hơn, phì đại âm vật). Dấu hiệu của các bệnh hệ thống nên được tìm kiếm, và khám tuyến giáp nên được thực hiện.

Lưu ý

Những phát hiện sau đây đang được quan tâm đặc biệt:

  • Nam hóa ở phụ nữ

  • Dấu hiệu bệnh lý toàn thân hoặc chỉ điểm không đặc hiệu có thể cho thấy ngộ độc

Cơ chế triệu chứng

Rụng tóc bắt đầu ở thái dương và / hoặc vùng vương miện (đỉnh) rồi lan ra gây rụng tóc mỏng hoặc gần hoàn toàn là điển hình của rụng tóc kiểu nam. Tóc thưa ở vùng phía trước, bên, và vương miện là điển hình của rụng tóc kiểu hói nữ (xem Hình: Rụng tóc kiểu hói nam và nữ (chứng rụng tóc androgenetic).). Trong rụng tóc androgenetic, chiều rộng phần trung tâm của vùng đỉnh rộng hơn vùng chẩm.

Rụng tóc kiểu hói nam và nữ (chứng rụng tóc androgenetic).

Rụng tóc kiểu hói nam và nữ (chứng rụng tóc androgenetic).

Rụng tóc xảy ra từ 2 đến 4 tuần sau khi hóa trị hoặc xạ trị (anagen effluvium) thường có thể được cho là do những nguyên nhân đó. Rụng tóc xảy ra từ 3 đến 4 tháng sau khi bị căng thẳng lớn (mang thai, mệt mỏi nhiều, phẫu thuật, thay đổi thuốc hoặc căng thẳng tinh thần nghiêm trọng) gợi ý chẩn đoán telogen effluvium.

Các phát hiện khác giúp đưa ra chẩn đoán thay thế ( Giải thích những phát hiện vật lý trong Rụng tóc).

Bảng
icon

Giải thích những phát hiện vật lý trong Rụng tóc

Triệu chứng

Nguyên nhân có thể

Kiểu rụng tóc không đối xứng, kỳ quặc, bất thường

Tật nhổ tóc

Tròn, mảng rụng tóc rời rạc; tóc ngắn, gãy; dấu chấm than lông ở ngoại vi của mảng rụng tóc

Rụng tóc mảng

Rụng tóc thường biểu hiện kiều sâu bướm phá hủy

Bệnh giang mai thứ phát

Ngứa, ban đỏ và vảy da

Lupus da mạn tính, lichen phẳng da đầu

nấm da đầu (đặc biệt nếu có hiện tượng hoại tử)

Mụn mủ

Sẹo quá trình nhiễm trùng (ví dụ, viêm mô bào da đầu, viêm nang lông dạng sẹo lồi)

Mất lông tóc da đầu và cơ thể

Rụng tóc toàn thể

Tóc dạng len bất thường

bất thường thân tóc tiên phát

Nam hóa (xem Rậm lông)

Rối loạn hoặc u thượng thận

U tuyến yên

Hội chứng buồng trứng đa nang (PCOS) hoặc u buồng trứng

Dùng steroid đồng hoá (đôi khi giấu)

Khác với rụng tóc, triệu chứng da đầu (ví dụ, ngứa, bỏng, ngứa ran) thường không xuất hiện và khi có mặt, không đặc hiệu với bất kỳ nguyên nhân nào.

Dấu hiệu rụng tóc theo kiểu khác với những mô tả ở trên là không chuẩn xác và có thể cần phải kiểm tra bằng kính hiển vi hoặc sinh thiết da đầu để chẩn đoán chính xác.

Thử nghiệm

Đánh giá các bệnh lý có thể là nguyên nhân nên được xem xét (ví dụ: nội tiết, tự miễn, độc).

Rụng tóc kiểu hói nam hoặc nữ thường không yêu cầu kiểm tra. Khi xảy ra ở thanh thiếu niên không có tiền sử gia đình, bác sĩ nên hỏi bệnh nhân về việc sử dụng steroid đồng hóa và các thuốc khác. Ngoài các câu hỏi liên quan đến thuốc theo đơn và sử dụng thuốc ko theo kê đơn, phụ nữ bị rụng tóc đáng kể và biểu hiện nam hóa nên đo nồng độ hormone thích hợp (ví dụ:, testosterone và dehydroepiandrosterone sulfate [DHEAS]) được đo lường (xem Rậm lông : Thử nghiệm).

Các thử nghiệm kéo giúp đánh giá rụng tóc da đầu lan tỏa. Sự kéo nhẹ nhàng được thực hiện trên một bó tóc (khoảng 40 sợi) trên ít nhất 3 vùng khác nhau của da đầu, và số lượng tóc được lấy sau đó được đếm và kiểm tra bằng kính hiển vi. Bình thường tóc rụng < 3 sợi telogen mỗi lần kéo. Nếu ˃ 4 đến 6 sợi tóc rụng với mỗi lần kéo, bài kiểm tra kéo là dương tính và gợi ý rụng tóc telogen.

Các kiểm tra nhổ liên quan đến việc đột ngột kéo ra khoảng 50 sợi ("bằng gốc rễ"). Các rễ của tóc nhổ ra được kiểm tra bằng kính hiển vi để xác định giai đoạn phát triển và do đó giúp chẩn đoán một khiếm khuyết của telogen hoặc anagen hoặc một bệnh hệ thống nền. Các sợi tóc anagen có vỏ bọc ở gốc; sợi telogen có hành nhỏ mà không có vỏ bọc ở gốc. Thông thường, từ 85 đến 90% tóc nằm trong giai đoạn anagen, khoảng 10 đến 15% ở giai đoạn telogen, và < 1% đang trong giai đoạn catagen. Telogen effluvium cho thấy hiệu quả làm tăng % số tóc ở pha telogen khi soi kính hiển vi quang học, trong khi anagen effluvium cho thấy hiệu quả làm giảm số lượng tóc pha telogen và tăng số lượng tóc gãy rụng. Những bất thường của thân tóc nguyên phát thường rất rõ ràng khi kiểm tra dưới kính hiển vi .

Sinh thiết da đầu được chỉ định khi chứng rụng tóc vẫn còn và nghi ngờ chẩn đoán. Sinh thiết có thể phân biệt sẹo với các dạng không sẹo. Các mẫu bệnh phẩm nên được lấy từ các vùng viêm hoạt động, tốt nhất là ở rìa của mảng rụng. Nuôi cấy nấm và vi khuẩn có thể hữu ích.

Hàng ngày đếm tóc có thể được thực hiện bởi bệnh nhân để định lượng rụng tóc khi thử nghiệm kéo là âm tính. Rụng tóc vào buổi sáng khi chải hoặc trong quá trình tắm giặt được thu thập vào trong túi nilon trong suốt 14 ngày. Số lượng tóc trong mỗi túi sau đó được ghi lại. Sợi tóc đếm > 100 / ngày là bất thường ngoại trừ sau khi gội đầu, khi tóc có thể lên tới 250 có thể bình thường. Có thể lấy bệnh nhân để kiểm tra vi thể.

Điều trị

Androgenetic alopecia

Minoxidil (2% đối với phụ nữ, 2% hoặc 5% đối với nam giới) kéo dài giai đoạn tăng trưởng anagen và dần dần mở rộng các nang tóc nhỏ (tóc tơ) vào vùng tóc trưởng thành. Nên dùng minoxidil 1 mL tại chỗ ở da đầu để có hiệu quả nhất đối với chứng rụng tóc đỉnh đầu trong rụng tóc kiểu hói nam/nữ. Tuy nhiên, thường chỉ có 30 đến 40% bệnh nhân mọc tóc một cách hiệu quả, và minoxidil nói chung không hiệu quả hoặc chỉ ra các nguyên nhân gây rụng tóc khác, ngoại trừ rụng tóc mảng. Tóc mọc lại có thể mất từ 8 đến 12 tháng. Điều trị được tiếp tục vô thời hạn bởi vì, một khi điều trị được ngừng lại, tóc rụng trở lại. Tác dụng phụ thường gặp nhất là kích ứng da đầu nhẹ, viêm da tiếp xúc dị ứng và tăng lượng tóc trên khuôn mặt.

Finasteride ức chế enzym 5-alpha-reductase, ngăn chặn sự chuyển đổi testosterone thành dihydrotestosterone, và rất hiệu quả cho rụng tóc kiểu hói nam. Finasteride 1 mg uống một lần / ngày có thể ngăn rụng tóc và có thể kích thích sự phát triển của tóc. Hiệu quả thường rõ ràng trong vòng 6 đến 8 tháng điều trị. Tác dụng phụ bao gồm giảm ham muốn tình dục, rối loạn chức năng cương cứng và xuất tinh (xem Rối loạn cương dương), phản ứng quá mẫn, phì đại vú và bệnh lý cơ. Có thể làm giảm nồng độ kháng nguyên đặc hiệu tuyến tiền liệt PSA ở người đàn ông lớn tuổi, cần được tính đến khi xét nghiệm này được sử dụng để kiểm tra ung thư. Tiếp tục điều trị kép dài cho đến khi những kết quả tích cực vẫn tồn tại. Khi ngừng điều trị ngừng, rụng tóc trở về mức trước đó. Finasteride không được chỉ định đối với phụ nữ và chống chỉ định ở phụ nữ mang thai vì nó có tác động gây quái thai ở động vật.

Điều chỉnh hormone chẳng hạn như thuốc tránh thai uống hoặc spironolactone có thể hữu ích cho việc rụng tóc theo kiểu nữ giới.

Lựa chọn phẫu thuật bao gồm cấy tóc, chuyển vạt da đầu, và giảm rụng tóc. Rất ít thủ thuật có bằng chứng khoa học, nhưng những bệnh nhân đánh giá việc rụng tóc của họ có thể xem xét chúng.

Rụng tóc do các nguyên nhân khác

Điều trị các bệnh lý nền.

Điều trị cho bệnh rụng tóc mảng bao gồm tại chỗ, nội tổn thương, hoặc, trong trường hợp nặng, corticosteroids toàn thân, minoxidil tại chỗ, anthralin bôi tại chỗ, miễn dịch tại chỗ (diphenylcyclopropenone hoặc dibutylester acid squaric), hoặc psoralen cộng với tia cực tím A (PUVA).

Điều trị chứng rụng tóc kéo là loại bỏ lực kéo hoặc sức căng lên da đầu.

Điều trị nấm da đầu là thuốc chống nấm đường uống.

Tật nhổ tóc rất khó điều trị, nhưng việc điều chỉnh hành vi, clomipramine, hoặc một chất ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc (SSRI) (ví dụ, fluoxetine, fluvoxamine, paroxetine, sertraline, citalopram) có thể có lợi.

Rụng tóc sẹo như trong CCCA hoặc viêm mô tế bào của da đầu được điều trị tốt nhất với tetracycline uống phối hợp corticosteroid mạnh. Viêm nang lông dạng sẹo lồi nặng hoặc mãn tính có thể được điều trị tương tự; nếu nhẹ, retinoid tại chỗ, kháng sinh tại chỗ, và / hoặc benzoyl peroxit tại chỗ phối hợp để điều trị.

Lichen phẳng da đầu và tổn thương lupus mạn mạn có thể được điều trị bằng các thuốc như thuốc sốt rét đường uống, corticosteroid tại chỗ hoặc uống, retinoid tại chỗ hoặc uống, tacrolimus tại chỗ, hoặc thuốc ức chế miễn dịch bằng miệng.

Rụng tóc do hóa trị liệu là tạm thời và nên đội tóc giả; khi tóc mọc lại, có thể khác nhau về màu sắc và kết cấu so với tóc ban đầu. Rụng tóc telogen hoặc anagen tiết niệu thường là tạm thời và giảm sau khi loại bỏ được tác nhân.

Những điểm chính

  • Rụng tóc androgenetic (rụng tóc kiểu hói nam và nữ) là loại rụng tóc thông thường nhất.

  • Đồng thời sự nam hóa ở phụ nữ hoặc rụng tóc sẹo nên nhớ đánh giá toàn diện cho rối loạn bên dưới.

  • Xét nghiệm tóc bằng KHV hoặc sinh thiết da đầu có thể được yêu cầu để chẩn đoán xác định.

Các chuyên gia đọc thêm

Cũng quan tâm

Các video

Xem tất cả
Làm thế nào để dẫn lưu một khối máu tụ dưới da
Video
Làm thế nào để dẫn lưu một khối máu tụ dưới da

TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI

TRÊN CÙNG