Thoát vị não là dị tật thần kinh bẩm sinh kèm theo tình trạng mô thần kinh và màng não nhô ra qua chỗ khuyết ở hộp sọ. Trong nhiều trường hợp, phẫu thuật có thể phục hồi được.
Khiếm khuyết này là do sự đóng không hoàn toàn của nắp sọ (tật sọ chẻ đôi).
Thoát vị não thường xuất hiện ở đường giữa và xảy ra ở bất cứ đâu dọc theo đường từ vùng chẩm tới đường mũi, nhưng có thể xảy ra ko đối xứng ở vùng trán hoặc vùng đỉnh.
Thoát vị não cũng có thể xảy ra bên trong, ví dụ như ở cực trước của thùy thái dương, và chỉ có thể được phát hiện sau này trong quá trình đánh giá các triệu chứng phát triển thần kinh liên quan như động kinh.
Khoảng 40% trẻ sơ sinh bị ảnh hưởng có các dị tật bẩm sinh khác (1). Não úng thuỷ thường xảy ra với thoát vị não
BÁC SĨ M.A. ANSARY/THƯ VIỆN HÌNH ẢNH KHOA HỌC
Tài liệu tham khảo
1. Stoll C, Dott B, Alembik Y, Roth MP. Associated malformations among infants with neural tube defects. Am J Med Genet A. 2011;155A(3):565-568. doi:10.1002/ajmg.a.33886
Triệu chứng và dấu hiệu của thoát vị não
Các triệu chứng và dấu hiệu bao gồm khuyết tật có thể nhìn thấy, động kinh và giảm khả năng nhận thức, bao gồm cả rối loạn phát triển tâm thần vận động.
Chẩn đoán thoát vị não
Siêu âm trước khi sinh
Chẩn đoán bệnh thoát vị não có thể được thực hiện bằng siêu âm trước sinh thường quy.
Các khối thoát vị não nhỏ có thể giống với u máu đầu; đặc điểm đặc trưng trên phim chụp X-quang là khuyết xương sọ ở phần gốc của khối thoát vị não.
Điều trị thoát vị não
Sửa chữa bằng phẫu thuật
Hầu hết các trường hợp thoát vị não có thể được phục hồi bằng phẫu thuật. Ngay cả những khối u lớn thường chứa chủ yếu là mô thần kinh dị vị, có thể loại bỏ mà không ảnh hưởng xấu đến khả năng hoạt động.
Khi các dị tật vật lý lớn khác cùng tồn tại, quyết định phục hồi có thể khó khăn hơn.
Các triệu chứng phát triển thần kinh do thoát vị não thường kéo dài ngay cả sau khi phẫu thuật cắt bỏ vì trình tự phát triển bình thường của cấu trúc não và quá trình hình thành mạng lưới thần kinh bị phá vỡ.
Tiên lượng về thoát vị não
Tiên lượng phụ thuộc vào vị trí và kích thước của tổn thương.
