MSD Manual

Hãy xác nhận rằng quý vị là chuyên gia chăm sóc sức khỏe

Đang tải

Chết não

Theo

Kenneth Maiese

, MD,

  • National Heart, Lung, and Blood Institute
  • Rutgers University

Xem lại/Duyệt lại toàn bộ lần cuối Thg12 2017| Sửa đổi nội dung lần cuối cùng Thg12 2017
Nguồn chủ đề

Chết não là mất chức năng toàn bộ bán cầu não và thân não, dẫn đến tình trạng hôn mê, không tự thở được và mất toàn bộ phản xạ của thân não. Các phản xạ tủy sống, bao gồm phản xạ gân xương, phản xạ da gan bàn chân, và phản xạ co rút, có thể vẫn còn. Đây là loại tổn thương không phục hồi .

Khái niệm chết não phát triển bởi vì máy thở và thuốc có thể duy trì các chức năng của tim và phổi, mặc dù ngừng hoàn toàn tất cả các hoạt động của não. Khái niệm chết não (tức là, mất hết tất cả các chức năng của não, nhất là của thân não) cấu thành cái chết của một người đã được chấp nhận về mặt pháp lý và văn hoá ở hầu hết thế giới.

Chẩn đoán

  • Xác định theo các tiêu chuẩn lâm sàng

  • Trắc nghiệm ngưng thở

  • Đôi khi dùng ĐNĐ, chẩn đoán hình ảnh mạch não, hoặc cả hai

Để một bác sĩ tuyên bố chết não, phải biết nguyên nhân cấu trúc hoặc chuyển hóa gây tổn thương não, và phải loại trừ việc sử dụng các thuốc gây mê hoặc gây tê liệt, đặc biệt là trường hợp tự dùng thuốc.

Nếu có hiện tượng hạ thân nhiệt, thân nhiệt < 35° C phải được tăng từ từ đến> 36 ° C, và nếu nghi ngờ trạng thái động kinh, nên ghi ĐNĐ. Ở người lớn, sau khi loại trừ tất cả các bệnh nội khoa phức tạp và khám toàn diện thần kinh với các xét nghiệm cần thiết đã được thực hiện, có thể xác nhận tình trạng chết não. Một số tiểu bang khuyên các thầy thuốc lâm sàng phải thực hiện hai lần thăm khám riêng biệt cách nhau ít nhất 48 giờ ở trẻ em; phương pháp này không được khuyến cáo hoặc yêu cầu đối với người lớnxem Bảng: Hướng dẫn khẳng định chết não (ở bệnh nhân > 1 tuổi) *).

Việc thăm khám bao gồm

  • Đánh giá phản ứng của đồng tử

  • Đánh giá các phản xạ mắt não, tiền đình mắt, và giác mạc

  • Trắc nghiệm ngưng thở

Đôi khi ĐNĐ hoặc các xét nghiệm đánh giá tưới máu não được sử dụng để khẳng định sự vắng mặt của hoạt động não hoặc dòng máu não. Nhờ đó, cung cấp thêm bằng chứng cho các thành viên trong gia đình, nhưng các xét nghiệm này không phải lúc nào cũng được yêu cầu. Chúng được chỉ định khi không dung nạp được trắc nghiệm ngưng thở về mặt huyết động và mong muốn chỉ khám thần kinh một lần (ví dụ, nhằm đẩy nhanh việc lấy phủ tạng để cấy ghép).

Bảng
icon

Hướng dẫn khẳng định chết não (ở bệnh nhân > 1 tuổi) *

Tất cả 9 mục phải được khẳng định để tuyên bố chết não:

1. nguyên nhân của hôn mê phải được khẳng định và đủ để giải thích cho việc mất tất cả các chức năng não không thể hồi phục được .

2. Phải loại trừ các thuốc ức chế thần kinh trung ương, hạ thân nhiệt (< 35° C), và hạ huyết áp (MAP < 55 mm Hg) . Không có thuốc chẹn thần kinh cơ nào góp phần vào các biểu hiện thần kinh.

3. Các chuyển động quan sát được hoàn toàn chỉ nhờ vào chức năng tủy sống.

4. Khám không còn thấy phản xạ ho, phản xạ hầu họng, hoặc cả hai phản xạ.

5. Không có phản xạ ánh sáng và phản xạ giác mạc .

6. Kiểm tra phản xạ mắt-não và nhìn thấy mắt cố định khi quay đầu và phải chứng minh không có phản xạ tiền đình-mắt khi làm nghiệm pháp nhiệt bằng cách bơm nước đá vào màng nhĩ.

7. Trắc nghiệm ngưng thở kéo dài tối thiểu 8 phút cho thấy không có cử động hô hấp với PaCO2 tăng > 20 mm Hg so với lần xét nghiệm trước đó được ghi lại rõ ràng.

THỦ THUẬT: Trắc nghiệm ngưng thở được thực hiện bằng cách ngắt kết nối máy thở với ống nội khí quản. Thở oxy (6 L / phút) qua nội khí quản. Mặc dù có kích thích thông khí do Pa CO2 tăng thụ động, nhưng không có hoạt động hô hấp tự phát trong khoảng thời gian từ 8 đến 12 phút.

Lưu ý: Thử nghiệm ngưng thở nên được thực hiện cẩn thận tối đa để giảm thiểu nguy cơ thiếu oxy và hạ huyết áp, đặc biệt ở những người hiến tạng tiềm năng. Nếu huyết áp động mạch giảm đáng kể trong quá trình làm trắc nghiệm, nên dừng trắc nghiệm ngay và lấy mẫu máu động mạch để xác định xem PaCO2 đã tăng đến > 60 mm Hg hoặc đã tăng thêm > 20 mm Hg hay chưa. Phát hiện này xác nhận chẩn đoán lâm sàng chết não.

8. Ít nhất một trong 4 tiêu chí sau đã được thiết lập:

a. Mục 2-8 đã được khẳng định.

b. Các mục 2-8 đã được xác nhận VÀ (được thực hiện khi không thể hoàn thành các thành phần của việc thăm khám hoặc trắc nghiệm ngưng thở hoặc khi kết quả của việc thăm khám không chắc chắn)

  • Ghi ĐNĐ cho thấy hình ảnh im lặng điện thế.

c. Các mục 2-8 đã được xác nhận VÀ (được thực hiện khi không thể hoàn thành các thành phần của việc thăm khám hoặc trắc nghiệm ngưng thở hoặc khi kết quả của việc thăm khám không chắc chắn)

  • Chụp động mạch thường quy, siêu âm Doppler xuyên sọ, hoặc chụp CLVT mạch não có tiêm hexamethylpropyleneamine technetiumt-99m cho thấy không có dòng máu trong sọ.

d. Nếu bất kỳ mục nào trong các mục 2-8 không thể khẳng định được vì thương tích hoặc bệnh lý gây cản trở đánh giá (ví dụ, thương tích rộng khuôn mặt không cho phép kiểm tra trắc nghiệm nhiệt), thì áp dụng các tiêu chí sau:

  • Các hạng mục đánh giá được phải được xác nhận.

  • Chụp động mạch thường quy, siêu âm Doppler xuyên sọ, hoặc chụp CLVT mạch não có tiêm hexamethylpropyleneamine technetiumt-99m cho thấy không có dòng máu trong sọ hoặc ĐNĐ cho thấy không có hoạt động của vỏ não.

* Trước khi khám để xác định chết não, nên thông báo quy trình với gia đình bệnh nhân hoặc người chăm sóc.

MAP = huyết áp trung bình động mạch.

Điều chỉnh theo Hướng dẫn của Hội thần kinh học Hoa Kỳ (2010).

Tiên lượng

Chẩn đoán chết não tương đương với cái chết của người đó. Không ai đáp ứng các tiêu chuẩn chết não có thể hồi phục được.

Sau khi chết não được xác nhận, cần dừng tất cả các điều trị hỗ trợ tim và hô hấp. Ngừng hỗ trợ thở máy gây ra rối loạn nhịp giai đoạn cuối cùng. Các phản xạ vận động tủy sống có thể xảy ra trong giai đoạn ngưng thở ; bao gồm gập lưng, cổ quay, co cứng chân, và chi trên gập lại (cái gọi là dấu hiệu Lazarus ). Các thành viên trong gia đình muốn có mặt khi ngừng máy thở cần phải được thông báo trước về các động tác đó.

Các chuyên gia đọc thêm

Cũng quan tâm

TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI

TRÊN CÙNG