MSD Manual

Hãy xác nhận rằng quý vị là chuyên gia chăm sóc sức khỏe

Đang tải

Các bệnh lý co giật

Theo

Bola Adamolekun

, MD,

  • University of Tennessee Health Science Center

Xem lại/Duyệt lại toàn bộ lần cuối Thg6 2016| Sửa đổi nội dung lần cuối cùng Thg6 2016
Nguồn chủ đề

Cơn động kinh là sự phóng điện bất thường, không kiểm soát được xảy ra trong chất xám vỏ não và làm gián đoạn tạm thời chức năng bình thường của não. Cơn động kinh thường gây thay đổi nhận thức, những cảm giác bất thường, những vận động không tự chủ khu trú hoặc những cơn co giật (co lan tỏa không tự chủ cơ vân). Chẩn đoán cơn động kinh mới khởi phát dựa vào lâm sàng, các kết quả chẩn đoán hình ảnh thần kinh, xét nghiệm máu và điện não đồ, riêng các cơn động kinh đã được chẩn đoán trước đây thì cần xác định nồng độ thuốc chống co giật. Điều trị bao gồm loại bỏ nguyên nhân, thuốc chống co giật và phẫu thuật (nếu thuốc chống co giật không có hiệu quả).

Khoảng 2% người lớn bị một cơn động kinh tại một thời điểm nào đó trong cuộc đời. Hai phần ba số người này không bao giờ có cơn động kinh nào khác nữa.

Các định nghĩa

Thuật ngữ có thể gây nhầm lẫn.

Bệnh động kinh (còn gọi là bệnh co giật động kinh) là một bệnh não mạn tính đặc trưng bởi các ( 2) cơn động kinh tự phát tái diễn (tức là không liên quan đến các tác nhân gây căng thẳng có thể hồi phục) và xảy ra cách nhau trên 24 giờ. Một cơn co giật duy nhất không được coi là bệnh động kinh. Bệnh động kinh thường vô căn nhưng với các bệnh lý não khác nhau như các dị tật, đột quỵ và u có thể gây triệu chứng động kinh.

Động kinh triệu chứng là động kinh do một nguyên nhân đã biết gây ra (ví dụ khối u não, đột qụy). Những cơn động kinh này phổ biến nhất ở trẻ sơ sinh (xem Rối loạn co giật Sơ sinh) và người cao tuổi.

Động kinh căn nguyên ẩn là bệnh động kinh do một nguyên nhân cụ thể, nhưng hiện tại nguyên nhân cụ thể đó vẫn chưa được biết.

Co giật không động kinh gây ra bởi các rối loạn hoặc trạng thái stress tạm thời (rối loạn chuyển hóa, nhiễm trùng thần kinh trung ương, các bệnh lý tim mạch, độc tính của thuốc hoặc hội chứng cai thuốc, các bệnh lý tâm thần). Ở trẻ em, sốt có thể gây động kinh (cơn co giật do sốt).

Các cơn co giật căn nguyên tâm thần không phải động kinh (các cơn giả động kinh) là những triệu chứng biểu hiện giống các cơn động kinh ở bệnh nhân bị bệnh lý tâm thần nhưng các triệu chứng đó không liên quan đến sự phóng điện bất thường trong não.

Nguyên nhân

Nguyên nhân thường gặp của cơn động kinh (xem Bảng: Nguyên nhân gây động kinh) thay đổi theo tuổi khởi phát:

  • Trước 2 tuổi: Sốt, các khuyết tật bẩm sinh hoặc trong quá trình phát triển tâm thần, chấn thương khi sinh, rối loạn chuyển hóa

  • Độ tuổi từ 2 đến 14: bệnh động kinh vô căn

  • Người lớn: Chấn thương não, cai rượu, khối u, đột quỵ và không rõ nguyên nhân (50%)

  • Người già: Khối u và đột quỵ

Trong động kinh phản xạ, một bệnh lý hiếm gặp, các cơn động kinh được kích hoạt từ một kích thích bên ngoài, như âm thanh lặp đi lặp lại, đèn nhấp nháy, trò chơi điện tử, âm nhạc hoặc thậm chí chạm vào một số vị trí của cơ thể.

Trong bệnh động kinh căn nguyên ẩn và thường trong động kinh kháng trị, một nguyên nhân hiếm gặp nhưng ngày càng được hiểu rõ hơn là viêm não kháng thụ thể NMDA (N-metyl-d-aspartate), đặc biệt ở phụ nữ trẻ. Bệnh lý này cũng gây ra các triệu chứng tâm thần, rối loạn vận động và tăng lympho trong dịch não tủy. U quái buồng trứng xuất hiện ở khoảng 60% phụ nữ có viêm não kháng thụ thể NMDA. Loại bỏ khối u ác tính (nếu có) và liệu pháp miễn dịch giúp kiểm soát động kinh tốt hơn nhiều so với thuốc chống co giật.

Bảng
icon

Nguyên nhân gây động kinh

Bệnh lý

Ví dụ

Bệnh tự miễn

Viêm mạch máu não, viêm não kháng thụ thể NMDA, đa xơ cứng (hiếm khi)

Phù não

Sản giật, bệnh não do tăng huyết áp

Thiếu máu não hoặc thiếu oxy

Rối loạn nhịp tim, ngộ độc carbon monoxide, đuối nước, ngạt thở, đột quỵ, viêm mạch

Chấn thương đầu *

Chấn thương khi sinh, lún vỡ hoặc xuyên thủng

Nhiễm trùng thần kinh trung ương

AIDS, áp xe não, sốt rét, viêm màng não, nhiễm sán thần kinh, giang mai thần kinh, bệnh dại, uốn ván, nhiễm toxoplasmo, viêm não vi-rút

Bất thường bẩm sinh hoặc mắc phải

Dị dạng vỏ não, bệnh lý di truyền (ví dụ, cơn động kinh ngày thứ năm, các bệnh dự trữ lipid như bệnh Tay-Sachs), bệnh lý thần kinh (ví dụ dị dạng), phenylketon niệu

Thuốc và chất độc

Nguyên nhân cơn động kinh: camphor, ciprofloxacin, cocaine và các chất kích thích hệ thần kinh trung ương khác như: cyclosporine, imipenem, chì, pentylenetetrazol, picrotoxin, strychnine, tacrolimus

Các thuốc gây hạ thấp ngưỡng làm xuất hiện động kinh: aminophylline, thuốc chống trầm cảm (đặc biệt là thuốc chống trầm cảm ba vòng), thuốc kháng histamin loại gây buồn ngủ, thuốc chống sốt rét, thuốc chống loạn thần (như clozapine), buspiron, fluoroquinolones, theophylline

Sự gia tăng nghịch lý tần số cơn động kinh dù nồng độ phenytoin trong máu rất cao

Tổn thương nội sọ lan tỏa

Xuất huyết, não úng thủy, các khối u

Sốt quá cao

Độc tính của thuốc (ví dụ như với amphetamine hoặc cocaine), sốt, say nắng

Rối loạn chuyển hóa

Thường gặp, hạ canxi máu (ví dụ, thứ phát do suy giảm chức năng tuyến cận giáp), hạ đường huyết, hạ natri máu

Ít phổ biến hơn, bệnh acidamin niệu, bệnh não do gan hoặc tăng urê huyết, tăng đường huyết, hạ magie, tăng natri huyết

Ở trẻ sơ sinh, thiếu vitamin B6 (pyridoxin)

Bệnh lý da-thần kinh

Bệnh u xơ thần kinh, xơ cứng củ

Liên quan đến áp lực

Bệnh liên quan đến giải chèn ép, điều trị oxy cao áp

Hội chứng cai

Rượu, thuốc gây mê, barbiturate, benzodiazepine

*Các cơn co giật sau chấn thương xảy ra ở 25 đến 75% bệnh nhân bị đụng dập não, vỡ xương sọ, xuất huyết nội sọ, hôn mê kéo dài, hoặc có dấu hiệu thần kinh khu trú.

Cơn động kinh ngày thứ năm (cơn động kinh sơ sinh lành tính) là các cơn động kinh tăng trương lực -co giật xảy ra từ 4 đến 6 ngày tuổi ở trẻ sơ sinh khỏe mạnh; một thể di truyền.

Khi dùng liều độc, nhiều loại thuốc có thể gây co giật.

NMDA = N-metyl-d-aspartate.

Phân loại

Động kinh được phân loại là toàn thể hay cục bộ

Toàn thể

Trong cơn động kinh toàn thể khi khởi phát có sự phóng điện bất thường của nơron lan tỏa toàn bộ vỏ não ở cả hai bán cầu và thường mất ý thức. Động kinh toàn thể thường xảy ra do rối loạn chuyển hóa và đôi khi do bệnh lý di truyền. Cơn động kinh toàn thể bao gồm:

  • Co giật ở trẻ sơ sinh

  • Cơn động kinh vắng ý thức

  • Cơn động kinh co cứng - co giật (cơn lớn)

  • Những cơn động kinh tăng trương lực

  • Cơn động kinh mất trương lực

  • Các cơn giật cơ (ví dụ như động kinh giật cơ ở tuổi vị thành niên)

Những cơn động kinh cục bộ

Trong cơn động kinh cục bộ, nơ-ron có sự phóng điện quá mức xảy ra ở một phần vỏ não và thường là do các bất thường về cấu trúc. Động kinh cục bộ có thể

  • Đơn giản (không suy giảm ý thức)

  • Phức tạp (giảm nhưng không hoàn toàn mất ý thức)

Cơn động kinh cục bộ có thể tiến triển thành cơn động kinh toàn thể (gọi là toàn thể hóa thứ phát), gây mất ý thức. Sự toàn thể hóa thứ phát xảy ra khi một cơn động kinh cục bộ lan nhanh và kích hoạt toàn bộ não một cách đối xứng. Việc kích hoạt có thể diễn ra nhanh đến nỗi cơn động kinh cục bộ ban đầu rất ngắn, không rõ ràng trên lâm sàng.

Một hệ thống thuật ngữ sửa đổi cho cơn động kinh cục bộ đã được đề xuất [1]. Trong hệ thống này, các cơn động kinh cục bộ được gọi là động kinh khu trú và các thuật ngữ dưới đây được sử dụng cho các thể:

  • Đối với động kinh cục bộ đơn giản: động kinh khu trú không làm suy giảm ý thức hoặc nhận thức

  • Đối với các cơn động kinh cục bộ phức tạp: động kinh khu trú với suy giảm ý thức hoặc nhận thức

  • Đối với các cơn động kinh cục bộ toàn thể hóa thứ phát: động kinh khu trú tiến triển sang cả hai bên hoặc co giật

Thuật ngữ này vẫn chưa được sử dụng phổ biến.

Tham khảo phân loại

  • 1. Berg AT, Berkovic SF, Brodie MJ, et al: TRevised terminology and concepts for organization of seizures and epilepsies: Report of the ILAE [International League Against Epilepsy] Commission on Classification and Terminology, 2005–2009. Epilepsia51: 676–685, 2010.

Các triệu chứng cơ năng và triệu chứng thực thể

Một aura có thể xuất hiện trước các cơn động kinh. Aura là những cơn động kinh cục bộ đơn giản khởi phát khu trú. Aura có thể bao gồm hoạt động vận động hoặc cảm giác, thần kinh thực vật hoặc triệu chứng tâm thần (ví dụ như dị cảm, tăng cảm giác khó chiu vùng thượng vị, mùi bất thường, cảm giác sợ hãi, cảm giác chưa từng thấy hoặc đã từng gặp). Với cảm giác chưa từng thấy, một địa điểm hoặc trải nghiệm quen thuộc trở nên rất lạ lùng - trái ngược với cảm giác đã từng gặp.

Hầu hết các cơn co giật tự kết thúc trong 1 đến 2 phút.

Trạng thái sau động kinh thường theo sau cơn động kinh toàn thể; nó được đặc trưng bởi giấc ngủ sâu, đau đầu, lú lẫn và đau cơ; trạng thái này kéo dài từ vài phút đến vài giờ. Đôi khi trạng thái sau động kinh bao gồm liệt Todd (một chứng thiếu máu thần kinh thoáng qua, thường yếu ở phần chi đối diện với ổ động kinh)

Hầu hết các bệnh nhân đều có biểu hiện thần kinh bình thường giữa các cơn động kinh, mặc dù cần dùng liều cao thuốc điều trị động kinh, đặc biệt là thuốc chống co giật, có thể làm giảm sự tỉnh táo. Bất kỳ tình trạng tiến triển xấu đi nào của ý thức đều thường liên quan đến bệnh lý thần kinh gây ra cơn động kinh hơn là do chính bản thân cơn động kinh đó.

Đôi khi, co giật không ngừng lại, như trong tình trạng động kinh .

Cơn động kinh cục bộ

Có một số thể động kinh cục bộ.

Động kinh cục bộ đơn giản gây ra các triệu chứng vận động, cảm giác, hoặc tâm thần vận động mà bệnh nhân không mất ý thức. Các triệu chứng cụ thể phản ánh khu vực não bị tổn thương (xem Bảng: Biểu hiện của động kinh cục bộ ở một bên). Trong cơn động kinh kiểu Jackson, các triệu chứng vận động bắt đầu ở một tay, sau đó lan lên trên cánh tay (hành trình Jackson). Các cơn động kinh cục bộ khác sẽ ảnh hưởng đến khuôn mặt trước tiên, sau đó lan sang cánh tay và có thể lan sang chân. Một số cơn động kinh cục bộ vận động khởi phát khi cánh tay nâng lên và đầu quay về phía cánh tay đó (gọi là tư thế đấu kiếm).

Bảng
icon

Biểu hiện của động kinh cục bộ ở một bên

Biểu hiện khu trú

Vị trí rối loạn chức năng

Tư thế tăng trương lực hai bên

Thùy trán (vỏ não vận động phụ)

Các động tác tự động đơn giản (ví dụ như co giật các chi, hành trình jackson)

Thùy trán đối bên

Đầu và mắt xoay khi giữ nguyên 1 tư thế

Vỏ não vận động bổ sung

Cảm giác vị giác bất thường (rối loạn vị giác)

Thùy đảo

Các bất thường về nội tạng hoặc thần kinh tự động (ví dụ, aura vùng thượng vị, tiết nước bọt)

Vỏ não thùy đảo-ổ mắt -trán

Ảo khứu

Thùy thái dương trước giữa

Cử động nhai, tiết nước bọt, thất ngôn

Hạnh nhân, vùng nắp

Động tác tự động phức tạp

Thùy thái dương

Hành vi bất thường gợi ý căn nguyên tâm thần hoặc bệnh lý giấc ngủ

Thùy trán

Ảo giác (hình ảnh được định hình)

Thùy thái dương sau hoặc hạnh nhân hải mã

Các rối loạn cảm giác khu trú (ví dụ như kim châm hoặc tê bì ở một chi hoặc một nửa cơ thể)

Thùy đỉnh (vỏ não cảm giác)

Ảo giác (hình ảnh không định hình)

Thuỳ chẩm

Động kinh cục bộ liên tục, một bệnh lý hiếm gặp, gây các cơn động kinh vận động cục bộ, thường liên quan đến cánh tay, bàn tay hoặc một bên mặt; cơn co giật tái diễn trong vài giây hoặc vài phút và tình trạng động kinh kéo dài trong vài ngày đến nhiều năm. Nguyên nhân thường là

  • Ở người trưởng thành: một tổn thương cấu trúc (ví dụ đột quỵ)

  • Ở trẻ em: Viêm vỏ não khu trú (ví dụ viêm não Rasmussen), có thể do nhiễm vi rút mạn tính hoặc bởi các quá trình tự miễn dịch.

Lưu ý

  • Nghi ngờ động kinh cục bộ ở những bệnh nhân có những bất thường thoáng qua, không rõ nguyên nhân, tái diễn xuất hiện liên quan đến tâm thần (ví dụ ảo giác, động tác tự động phức tạp , thất ngôn, giảm đáp ứng khi nhìn chằm chằm).

Động kinh cục bộ phức tạp thường có aura xuất hiện trước. Trong cơn động kinh, bệnh nhân có thể nhìn chằm chằm. Ý thức bị suy giảm, nhưng bệnh nhân có nhận thức về môi trường xung quanh (ví dụ họ cố ý tránh khỏi các kích thích độc hại). Những điều sau đây cũng có thể xảy ra:

  • Động tác tự động vùng miệng (nhai tự động hoặc chép miệng)

  • Động tác tự động của chi (ví dụ các vận động tự động của tay)

  • Tạo ra các âm thanh vô nghĩa mà người nghe không thể hiểu họ nói gì.

  • Chống cự với sự hỗ trợ

  • Tư thế tăng hay loạn trương lực của ngọn chi đối bên với ổ động kinh

  • Quay đầu và mắt, thường về hướng đối diện với ổ động kinh.

  • Động tác kiểu đạp xe ở hai chân nếu động kinh có nguồn gốc từ mặt trong thùy trán hoặc vùng trán - ổ mắt

Các triệu chứng vận động giảm dần sau 1-2 phút, nhưng tinh trạng lú lẫn và mất phương hướng có thể kéo dài thêm 1 hoặc 2 phút. Sau cơn bệnh nhân thường mất trí nhớ. Nếu là cơn động kinh toàn thể bệnh nhân có thể kích động nếu bị ngăn lại trong cơn hoặc trong khi hồi phục ý thức. Tuy nhiên, hành vi hung hăng không do kích thích là hiếm gặp.

Động kinh thùy thái dương trái có thể gây ra những bất thường về trí nhớ ngôn ngữ; động kinh thùy thái dương phải có thể gây ra bất thường về trí nhớ không gian hình ảnh.

Cơn động kinh toàn thể

Khi khởi phát thường mất ý thức, bất thường chức năng vận động.

Cơn co giật ở trẻ nhỏ đặc trưng bởi động tác gấp và khép đột ngột cánh tay đồng thời cúi gập người về phía trước . Các cơn động kinh kéo dài vài giây và lặp lại nhiều lần trong ngày. Chúng chỉ xảy ra trong 5 năm đầu tiên của cuộc đời, sau đó được thay thế bởi các thể động kinh khác. Các khiếm khuyết thường tiến triển.

Các cơn động kinh vắng ý thức điển hình (trước đây gọi là động kinh cơn nhỏ) bao gồm mất ý thức từ 10 đến 30 giây kèm giật mi mắt; có thể mất hoặc không mất trương lực cơ thân mình. Bệnh nhân không bị ngã hoặc co giật; đột ngột ngừng hoạt động, sau đó lại khôi phục ngay lập tức, không có triệu chứng sau cơn và không biết có cơn động kinh đã xảy ra. Những cơn động kinh vắng ý thức do các bệnh lý của gen và xảy ra chủ yếu ở trẻ em. Nếu không điều trị, những cơn động kinh này có thể xảy ra nhiều lần trong ngày. Động kinh thường xảy ra khi bệnh nhân đang ngồi yên, có thể bị thúc đẩy bởi tăng thông khí và hiếm khi xảy ra trong quá trình tập thể dục. Kết quả khám thần kinh và nhận thức thường bình thường.

Các cơn động kinh vắng ý thức không điển hình thường xảy ra như là một phần của hội chứng Lennox-Gastaut, một thể động kinh nặng bắt đầu trước 4 tuổi. Chúng khác với những cơn động kinh vắng ý thức điển hình như sau:

  • Kéo dài hơn.

  • Các động tác co giật hoặc tự động rõ ràng hơn

  • Mất nhận thức không hoàn toàn.

Nhiều bệnh nhân có tiền sử tổn thương hệ thần kinh, chậm phát triển, các kết quả khám thần kinh bất thường và các loại động kinh khác. Các cơn động kinh vắng ý thức không điển hình thường kéo dài đến tuổi trưởng thành.

Động kinh mất trương lực thường xảy ra ở trẻ em, thường là một phần của hội chứng Lennox-Gastaut. Động kinh mất trương lực được đặc trưng bởi sự mất trương lực các cơ và mất ý thức. Trẻ ngã gục xuống đất có nguy cơ chấn thương, đặc biệt là chấn thương đầu.

Động kinh tăng trương lực xảy ra thường xuyên nhất trong thời gian ngủ, thường ở trẻ em. Nguyên nhân thường là hội chứng Lennox-Gastaut. Tăng trương lực (duy trì) sự co của các cơ ngọn chi bắt đầu đột ngột hoặc từ từ, sau đó lan đến các cơ gốc chi. Động kinh tăng trương lực thường kéo dài 10 đến 15 giây. Cơn động kinh tăng trương lực có thể kéo dài hơn, khi giai đoạn tăng trương lực kết thúc thì các cơn co giật nhanh có thể xảy ra.

Các cơn tăng trương lực - co giật có thể là

  • Toàn thể nguyên phát

  • Toàn thể thứ phát

Cơn động kinh toàn thể nguyên phát xảy ra chủ yếu bắt đầu bằng tiếng thét; tiếp tục với mất ý thức và ngã xuống, tiếp theo là sự co cơ (có sự luân phiên nhanh chóng giữa co và duỗi cơ), sau đó sự chuyển động của các cơ ở chi, thân mình và đầu. Đôi khi bệnh nhân xuất hiện đại - tiểu tiện không tự chủ, cắn lưỡi và sùi bọt mép. Động kinh thường kéo dài từ 1 đến 2 phút. Không có aura.

Các cơn động kinh toàn thể thứ phát thường được bắt đầu bằng một cơn động kinh cục bộ đơn giản hoặc phức tạp, sau đó tiến triển giống như cơn co giật toàn thể khác.

Cơn động kinh co giật cơ ngắn, chớp nhoáng như co giật một chi, một vài chi hoặc thân mình. Chúng có thể lặp đi lặp lại, dẫn đến hiện tượng co giật toàn thân. Các cơn co giật có thể là hai bên hoặc một bên. Cơn động kinh co giật cơ không giống như các cơn động kinh khác là co giật cả hai bên, ý thức không bị mất trừ khi cơn động kinh giật cơ tiến triển thành cơn co giật toàn thân.

Động kinh ở thanh thiếu niên là một hội chứng động kinh đặc trưng bởi cơn co giật, tăng trương lực - co giật và cơn vắng ý thức. bệnh thường xuất hiện ở tuổi vị thành niên. Động kinh bắt đầu bằng co giật hai bên, đồng bộ, 90% trường hợp có cơn tăng trương lực - co giật toàn thân. Động kinh xảy ra khi bệnh nhân thức giấc vào buổi sáng, đặc biệt là sau khi thiếu ngủ hoặc uống rượu. Những cơn động kinh vắng ý thức có thể xảy ra ở 1/3 bệnh nhân.

Sốt cao co giật theo định nghĩa, xảy ra kèm theo sốt, trong trường hợp không có nhiễm trùng nội sọ; chúng được xem là một loại động kinh. Chúng ảnh hưởng đến khoảng 4% trẻ em từ 3 đến 5 tuổi. Các cơn động kinh do sốt lành tính thường ngắn, đơn độc và thường xuất hiện cơn tăng trương lực - co giật toàn thân. Sốt cao co giật phức tạp thường tập trung, kéo dài >15 phút hoặc lặp lại 2 lần trong < 24 giờ. Nhìn chung, 2% bệnh nhân có cơn co giật do sốt tiến triển thành bệnh động kinh sau đó. Tuy nhiên, tỷ lệ mắc động kinh và nguy cơ co giật tái phát do sốt cao hơn ở trẻ em có bất kỳ yếu tố nào sau đây:

  • Cơn co giật phức tạp do sốt

  • Các bất thường thần kinh tồn tại từ trước

  • Khởi phát trước 1 tuổi

  • Tiền sử gia đình có bệnh động kinh

Trạng thái động kinh

Trạng thái động kinh có 2 dạng: co giật và không co giật.

Trạng thái động kinh co giật toàn thể gồm ít nhất một trong những điều sau đây:

  • Tăng trương lực - co giật kéo dài > 5 đến 10 phút

  • 2 cơn co giật mà bệnh nhân không tỉnh lại hoàn toàn

Định nghĩa trước đây về thời lượng > 30 phút được điều chỉnh để chẩn đoán và điều trị nhanh hơn. Động kinh toàn thể không điều trị kéo dài > 60 phút có thể gây tổn thương não vĩnh viễn; động kinh kéo dài hơn có thể gây tử vong. Tăng nhịp tim và thân nhiệt. Trạng thái động kinh co giật toàn thể có nhiều nguyên nhân gồm chấn thương sọ não và dừng đột ngột thuốc chống co giật.

Trạng thái động kinh không co giật bao gồm trạng thái động kinh cục bộ phức tạp và trạng thái động kinh vắng ý thức. Chúng thường biểu hiện như những giai đoạn kéo dài của sự thay đổi trạng thái tinh thần. Để chẩn đoán có thể phải làm điện não đồ.

Chẩn đoán

  • Đánh giá lâm sàng

  • Đối với cơn động kinh mới khởi phát cần chỉ định chẩn đoán hình ảnh hệ thần kinh, xét nghiệm máu và điện não đồ.

  • Đối với các bệnh động kinh đã chẩn đoán, thường dùng các thuốc chống co giật

  • Đối với những bệnh động kinh mới khởi phát hoặc đã có tiền sử động kinh, làm các xét nghiệm khác theo chỉ dẫn lâm sàng.

Đánh giá phải xác định xem liệu triệu chứng này là một cơn động kinh hay một nguyên nhân khác gây mất ý thức (ví dụ như chứng giả động kinh, ngất), sau đó xác định các nguyên nhân có thể xảy ra hoặc các yếu tố khởi phát cơn. Bệnh nhân có động kinh mới khởi phát được khám tại khoa cấp cứu; đôi khi có thể cho ra viện sau khi khám kỹ bệnh nhân. Những người có tiền sử bệnh động kinh có thể khám tại phòng khám chuyên khoa.

Bệnh sử

Cần hỏi bệnh nhân về những cảm giác bất thường, tiền triệu như co giật và các biểu hiện động kinh điển hình. Bệnh nhân thường không nhớ cơn co giật toàn bộ, do đó phải có nhân chứng mô tả về cơn động kinh của bệnh nhân.

Các biểu hiện của các tình trạng khác, chẳng hạn như thiếu máu não cục bộ đột ngột (ví dụ do rối loạn nhịp thất), có thể giống với động kinh gồm mất ý thức và một số cơn giật cơ.

Những điều cần lưu ý

  • Ở những bệnh nhân đột ngột mất ý thức, cần xem xét nguyên nhân thiếu máu não toàn bộ (ví dụ do rối loạn nhịp thất), ngay cả khi các nhân chứng mô tả bệnh nhân có các cơn giật cơ.

Tiền sử gồm thông tin về cơn động kinh đầu tiên và bất kỳ cơn nào sau đó (ví dụ: khoảng thời gian, tần suất, tuần tự của tiến trình, khoảng cách dài nhất và ngắn nhất giữa cơn co giật, tiền triệu, trạng thái sau động kinh, các yếu tố khởi phát). Tất cả bệnh nhân cần được hỏi về các yếu tố nguy cơ động kinh:

  • Chấn thương đầu hoặc nhiễm trùng thần kinh trung ương trước đó

  • Tiền sử bệnh lý thần kinh

  • Sử dụng hoặc ngừng thuốc, đặc biệt là thuốc kích thích

  • Cai rượu

  • Không tuân thủ dùng thuốc chống co giật

  • Tiền sử gia đình bị động kinh hoặc bệnh lý thần kinh

Bệnh nhân cũng cần được hỏi về các yếu tố khởi phát hiếm gặp (ví dụ: âm thanh lặp đi lặp lại, đèn nhấp nháy, trò chơi điện tử, chạm vào một số phần của cơ thể) và về tình trạng thiếu ngủ, là những yếu tố có thể làm giảm ngưỡng động kinh.

Khám thực thể

Bệnh nhân mất ý thức, cắn vào lưỡi, đại tiểu tiện không tự chủ (ví dụ nước tiểu hoặc phân trong quần áo) hoặc lú lẫn kéo dài sau khi mất ý thức cần xem xét chẩn đoán bệnh nhân bị động kinh.

Trong tình trạng giả động kinh, co cơ toàn thể và thiếu đáp ứng với các kích thích bằng lời thoạt nhìn có thể gợi ý các cơn động kinh co cứng toàn thể. Tuy nhiên, giả động kinh thường có thể được phân biệt với động kinh thực sự bởi các đặc điểm lâm sàng:

  • Giả động kinh thường kéo dài hơn (vài phút hoặc nhiều hơn).

  • Sau cơn thường không có lú lẫn.

  • Bệnh cảnh điển hình là tăng trương lực có tiếp nối bởi pha co giật thường không xảy ra.

  • Sự tiến triển của co cơ không tương xứng với cơn động kinh thực sự (ví dụ như các cơn giật di chuyển từ bên này sang bên kia và ngược lại [tiến trình không sinh lý], đẩy mạnh khung chậu quá mức).

  • Cường độ có thể tăng giảm từng đợt.

  • Các dấu hiệu sinh tồn, bao gồm thân nhiệt thường duy trì bình thường.

  • Bệnh nhân thường chủ động chống lại sự mở mắt thụ động.

Khám lâm sàng hiếm khi chỉ ra nguyên nhân khi động kinh là vô căn nhưng có thể cung cấp các dấu hiệu khi động kinh là triệu chứngxem Bảng: Các triệu chứng lâm sàng để xác định nguyên nhân gây động kinh triệu chứng).

Bảng
icon

Các triệu chứng lâm sàng để xác định nguyên nhân gây động kinh triệu chứng

Triệu chứng

Nguyên nhân có thể

Sốt và gáy cứng

Viêm màng não

Xuất huyết dưới nhện

Viêm não - màng não

Phù gai thị

Tăng áp lực nội sọ

Mất các xung động tĩnh mạch tự phát (ghi nhận trong soi đáy mắt)

Tăng áp lực nội sọ (đặc hiệu 80-90% *)

Các dấu hiệu thần kinh khu trú (ví dụ sự bất đối xứng của phản xạ hoặc cơ lực)

Bất thường cấu trúc (ví dụ khối u, đột quỵ )

Liệt sau đột quỵ

Tế bào thần kinh cơ dễ bị kích thích (ví dụ run, tăng phản xạ)

Ngộ độc thuốc (ví dụ, thuốc cường giao cảm).

Hội chứng cai (ví dụ như rượu hoặc thuốc an thần)

Một số rối loạn chuyển hóa (ví dụ, hạ calci, magie máu)

Các tổn thương da (ví dụ như tàn nhang ở nách hay các chấm màu cà phê sữa, các mảng giảm sắc tố trên da, tàn nhang)

Bệnh lý da-thần kinh (ví dụ u xơ thần kinh, xơ cứng củ)

* Không có xung động tĩnh mạch tự phát ở tất cả các bệnh nhân tăng áp lực nội sọ; những xung này cũng vắng mặt ở 10-20% những người có áp lực nội sọ bình thường, nhưng đôi khi chỉ tạm thời.

Cận lâm sàng

Làm các xét nghiệm thường quy nhưng khi kết quả bình thường không chắc chắn loại trừ bệnh động kinh. Do đó, chẩn đoán cuối cùng có thể dựa vào lâm sàng. Xét nghiệm phụ thuộc vào kết quả thăm khám thần kinh và khai thác tiền sử.

Nếu bệnh nhân có tiền sử bệnh động kinh và kết quả xét nghiệm bình thường hoặc không thay đổi, ít xét nghiệm cần kiểm tra, ngoại trừ đo nồng độ thuốc chống co giật trong máu. Chỉ định các xét nghiệm bổ sung nếu bệnh nhân có các triệu chứng cơ năng hoặc thực thể của các bệnh lý điều trị được như chấn thương, nhiễm trùng, hoặc rối loạn chuyển hóa.

Nếu cơn co giật mới khởi phát hoặc nếu kết quả xét nghiệm bất thường lần đầu thì cần phải chẩn đoán hình ảnh thần kinh. Bệnh nhân động kinh mới khởi phát hoặc các biểu hiện không điển hình cũng cần phải xét nghiệm, bao gồm xét nghiệm máu (điện giải đồ, nồng độ BUN, creatinin, glucose, Ca, Mg, và P) và xét nghiệm chức năng gan. Có thể chỉ định các xét nghiệm khác dựa trên những triệu chứng lâm sàng nghi ngờ:

  • Viêm màng não hoặc nhiễm trùng thần kinh trung ương với kết quả hình ảnh học thần kinh bình thường: Chọc dò dịch não tủy là cần thiết.

  • Việc sử dụng các loại thuốc gây nghiện không được ghi nhận có thể gây ra hoặc góp phần gây động kinh: Có thể thực hiện sàng lọc thuốc, mặc dù việc thực hành này gây tranh cãi vì kết quả dương tính không cho thấy mối quan hệ nhân quả và kết quả xét nghiệm có thể không chính xác.

  • Động kinh căn nguyên ẩn: cần xét nghiệm kháng thể kháng thụ thể NMDA, đặc biệt ở phụ nữ trẻ (có đến 26% có thể có kết quả dương tính); kết quả dương tính cho thấy viêm não kháng thụ thể NMDA.

Hình ảnh học thần kinh (thường chụp CT, nhưng đôi khi chụp MRI) thường được thực hiện ngay để loại trừ khối u hoặc xuất huyết. Một số chuyên gia cho rằng việc chụp CT có thể được trì hoãn và có thể tránh ở trẻ em có cơn co giật do sốt đặc trưng mà tình trạng thần kinh nhanh chóng trở lại bình thường.

Chụp MRI sau đó được khuyến cáo khi CT âm tính. Nó cung cấp độ phân giải tốt hơn với các khối u và áp xe não và có thể phát hiện chứng loạn sản vỏ não, huyết khối tĩnh mạch não và viêm não Herpes. Chụp MRI sọ não sử dụng các chuỗi xung T1 và T2 có độ phân giải cao, có thể phát hiện teo hay xơ cứng hồi hải mã. MRI có thể phát hiện ra một số nguyên nhân phổ biến của động kinh như dị tật phát triển vỏ não ở trẻ nhỏ và xơ cứng thùy thái dương giữa, tổn thương tế bào thần kinh đệm và khối u nhỏ ở người lớn.

Điện não đồ là rất quan trọng trong việc chẩn đoán động kinh co giật, đặc biệt là động kinh cục bộ phức tạp hoặc cơn vắng ý thức, khi đó điện não đồ có thể là dấu hiệu rõ ràng nhất chỉ điểm động kinh. Điện não đồ có thể phát hiện các bất thường dạng động kinh (các gai, sóng nhọn, các phức hợp gai, sóng chậm, đa gai và các phức hợp sóng chậm). Các bất thường dạng động kinh có thể là hai bên, đối xứng, và đồng bộ ở bệnh nhân động kinh toàn thể nguyên phát và có thể khu trú ở những bệnh nhân động kinh cục bộ. Các kết quả điện não đồ có thể thấy:

  • Các bất thường dạng động kinh tập trung ở thùy thái dương giữa các cơn co giật trong các cơn động kinh cục bộ phức tạp bắt nguồn từ thùy thái dương

  • Những cơn kịch phát đối xứng hai bên với tần số 4- đến 7 Hz ở thể động kinh hoạt động trong cơn tăng trương lực - co giật toàn thể nguyên phát

  • Các phóng điện dạng động kinh cục bộ trong cơn động kinh thứ phát toàn thể

  • Các đợt phóng điện, sóng chậm và nhiều gai xảy ra cùng lúc với tốc độ 3 đợt /giây và thường là điện não đồ bình thường giữa các cơn động kinh vắng ý thức điển hình

  • Các đợt phóng điện gai chậm và sóng thường ở tốc độ < 2,5 đợt / giây, điển hình là có sự xáo trộn giữa hoạt động nền và sóng chậm khuếch tán, trong các cơn động kinh vắng ý thức không điển hình

  • Đa gai và sóng bất thường hai bên ở tần số từ 4-6 Hz trong động kinh giật cơ thiếu niên

Tuy nhiên, EEG bình thường cũng không thể loại trừ chẩn đoán động kinh co giật, cần phải dựa trên lâm sàng. EEG ít có khả năng phát hiện những bất thường nếu động kinh không thường xuyên. EEG ban đầu có thể phát hiện bất thường về dạng động kinh trong 30 đến 55% bệnh nhân có tiền sử co bệnh động kinh. EEG liên tục có thể phát hiện các dạng động kinh bất thường trong 80 đến 90% các bệnh nhân này. Nói chung, EEG liên tục với thời gian ghi kéo dài cùng với các xét nghiệm được thực hiện sau khi thiếu ngủ làm tăng đáng kể khả năng phát hiện các bất thường dạng động kinh trong bệnh nhân động kinh co giật.

Bệnh nhân nội trú được theo dõi kết hợp video điện não đồ, thường từ 2 đến 7 ngày, ghi nhận hoạt động của điện não đồ và triệu chứng lâm sàng cùng một lúc. Đây là xét nghiệm EEG nhạy nhất sẵn có, do đó rất hữu ích trong việc phân biệt động kinh từ các cơn co giật không phải do động kinh.

Khi cân nhắc phẫu thuật cắt bỏ các khu vực khởi phát động kinh, cần các phương tiện chẩn đoán hình ảnh tiên tiến để xác định các khu vực này có nằm trong các trung tâm động kinh hay không. MRI chức năng có thể nhận diện chức năng vỏ não và hướng dẫn vị trí cần phẫu thuật cắt bỏ. Nếu EEG và MRI không xác định được rõ ràng vị trí ổ động kinh, từ não đồ kết hợp với EEG (gọi là hình ảnh nguồn gốc từ trường) có thể định vị tổn thương này, tránh được các thủ thuật định vị xâm lấn. Chụp cắt lớp vi tính phát xạ photon đơn (SPECT) trong suốt khoảng thời gian quanh động kinh có thể phát hiện sự gia tăng tưới máu ở ổ động kinh, điều này giúp cho việc định vị vị trí để phẫu thuật cắt bỏ. Do việc tiêm thuốc cản quang là bắt buộc trong thời gian động kinh, bệnh nhân phải nhập viện để theo dõi video- điện não đồ liên tục khi chụp SPECT trong khoảng thời gian ngắn quanh cơn động kinh.

Xét nghiệm tâm thần kinh có thể giúp xác định các thiếu hụt chức năng trước và sau khi phẫu thuật và giúp dự đoán tiên lượng và khả năng hồi phục chức năng tâm lý - xã hội.

Tiên lượng

Với điều trị, cơn động kinh được loại bỏ ở 1/3 số bệnh nhân động kinh co giật và tần suất các cơn động kinh giảm > 50% ở một phần ba khác. Khoảng 60% bệnh nhân có cơn động kinh kiểm soát tốt bằng thuốc cuối cùng có thể ngừng thuốc và duy trì không cơn.

Bệnh động kinh được coi là khỏi khi bệnh nhân không có cơn động kinh trong 10 năm và không dùng thuốc chống co giật trong 5 năm cuối của thời kỳ đó.

Chết đột ngột không giải thích được trong bệnh động kinh (SUDEP) là một biến chứng hiếm gặp, nguyên nhân chưa rõ.

Điều trị

  • Loại bỏ nguyên nhân nếu có thể

  • Tránh hoặc đề phòng trong trường hợp mất ý thức có thể đe dọa tính mạng

  • Dùng thuốc kiểm soát cơn động kinh

  • Phẫu thuật nếu 2 thuốc trong liều điều trị không kiểm soát được cơn động kinh

Điều trị tối ưu các cơn co giật là loại bỏ các nguyên nhân bất cứ khi nào có thể.

Nếu không thể điều chỉnh hoặc xác định nguyên nhân, cần dùng thuốc chống co giật, đặc biệt sau khi cơn động kinh lần thứ hai; lợi ích của thuốc chống co giật sau một cơn động kinh đơn độc còn gây tranh cãi, và những rủi ro và lợi ích cần được thảo luận với bệnh nhân. Do nguy cơ động kinh sau đó thấp, nên có thể giữ lại các loại thuốc cho đến khi có cơn động kinh lần thứ hai, đặc biệt ở trẻ em. Ở trẻ em, một số thuốc chống co giật ảnh hưởng tới hành vi và các vấn đề học tập.

Trong một cơn động kinh tăng trương lực - co giật toàn thể, nên tránh chấn thương bằng cách nới lỏng áo quanh cổ và đặt gối dưới đầu. Cố gắng bảo vệ lưỡi là vô ích và có khả năng làm hỏng răng của bệnh nhân hoặc ngón tay của người cứu hộ. Bệnh nhân nên được nằm nghiêng bên trái để tránh viêm phổi hít phải. Những biện pháp này nên được giảng dạy cho các thành viên trong gia đình và đồng nghiệp của bệnh nhân.

Do động kinh cục bộ có thể trở nên toàn thể, bệnh nhân có nguy cơ mất ý thức và do đó nên được khuyên dùng các biện pháp dự phòng nhất định. Cho đến khi động kinh được kiểm soát, bệnh nhân nên tránh các hoạt động mà mất ý thức có thể đe doạ đến tính mạng (ví dụ như lái xe, bơi lội, leo núi, vận hành các dụng cụ điện, tắm trong bồn tắm). Sau khi động kinh được kiểm soát hoàn toàn (thường > 6 tháng), các hoạt động như vậy có thể được tiếp tục nếu có các biện pháp bảo vệ thích hợp (ví dụ như nhân viên cứu hộ) và bệnh nhân nên được khuyến khích để có cuộc sống bình thường, bao gồm tập thể dục và các hoạt động xã hội.

Ở một số tiểu bang, bác sĩ phải báo cáo bệnh nhân bị động kinh cho Bộ phận quản lý các phương tiện cơ giới. Tuy nhiên, hầu hết các tiểu bang cho phép lái xe ô tô sau khi bệnh nhân không bị động kinh trong 6 tháng đến 1 năm.

Bệnh nhân nên được khuyên tránh cocaine và một số loại thuốc bất hợp pháp khác (ví dụ, phencyclidine, amphetamines), có thể gây co giật và tránh uống rượu. Một số loại thuốc (ví dụ haloperidol, phenothiazines) có thể làm giảm ngưỡng khởi phát động kinh và nên tránh nếu có thể.

Các thành viên trong gia đình phải được dạy cách tiếp xúc thông thường nhất đối với bệnh nhân. Nên hỗ trợ giảm thiểu những cảm xúc tiêu cực (ví dụ như tự ti hoặc e dè) thay vì bảo vệ quá mức; cần phòng tránh tàn tật.

Chăm sóc có hệ thống hiếm khi được khuyến khích và nên dành cho những bệnh nhân suy giảm nhận thức nghiêm trọng và những bệnh nhân không thể điều trị tại nơi khác do động kinh thường xuyên với cường độ mạnh và kháng trị.

Động kinh cấp và trạng thái động kinh

Hầu hết các cơn động kinh đều tự phát trong vài phút hoặc ít hơn và không cần điều trị bằng thuốc cấp cứu. Tuy nhiên, nếu trạng thái động kinh và cơn co giật kéo dài > 5 phút cần dùng thuốc cắt cơn, theo dõi tình trạng hô hấp. Cần thiết đặt nội khí quản nếu có bất cứ dấu hiệu nào của sự tắc nghẽn đường thở.

Liệu pháp chống co giật nên được bắt đầu càng sớm càng tốt để việc kiểm soát động kinh càng tốt hơn và dễ dàng hơn.

Nên nhanh chóng đặt đường truyền tĩnh mạch và bệnh nhân được dùng lorazepam 0,05 đến 0,1 mg/kg tiêm tĩnh mạch (thường là liều 4 mg tiêm tĩnh mạch cho người lớn) với tốc độ 2 mg / phút. Đôi khi cần dùng liều lớn hơn. Sau khi dùng lorazepam có thể chỉ định thuốc thứ hai chống co giật tác dụng kéo dài hơn.

Không có sự đồng thuận hoặc hướng dẫn dựa trên bằng chứng cho thấy thuốc chống co giật tác dụng kéo dài nào được ưa dùng hơn. Nhiều chuyên gia chọn một trong các cách sau:

  • Fosphenytoin 15 đến 20 PE (tương đương với phenytoin)/kg tiêm tĩnh mạch, được dùng với tốc độ từ 100 đến 150 PE/phút

  • Phenytoin 15 đến 20 mg/kg tiêm tĩnh mạch, được dùng với tốc độ 50 mg/phút

Nếu động kinh vẫn còn sau khi dùng liều này, có thể cho thêm 5 đến 10 PE/kg fosfenytoin hoặc 5 đến 10 mg/kg phenytoin.

Các thuốc chống co giật khác bao gồm:

  • Valproate từ 20 đến 40 mg/kg tiêm tĩnh mạch (liều nạp) trong 30 phút, tiếp theo là 4 đến 8 mg/kg uống 3 lần/ngày

  • Levetiracetam 1500 đến 3000 mg tiêm tĩnh mạch trong 25 phút, sau đó uống 1500 mg 2 lần/ngày

Nếu không thể thiết lập được đường truyền tĩnh mạch, các lựa chọn bao gồm tiêm bắp fosphenytoin và benzodiazepine dưới lưỡi hoặc trực tràng.

Động kinh kéo dài sau khi sử dụng lorazepamphenytoin (hoặc thuốc chống co giật thứ hai khác) xem như tình trạng động kháng trị.

Các khuyến cáo về thuốc chống co giật thứ 3 khác nhau bao gồm phenobarbital, propofol, midazolam, levetiracetam và valproate. Liều phenobarbital là 15 đến 20 mg/kg tiêm tĩnh mạch 100 mg/phút (3 mg/kg/phút ở trẻ em); các cơn động kinh sau đó cần thêm liều từ 5 đến 10 mg/kg. Một liều nạp valproate 20 đến 40 mg/kg tiêm tĩnh mạch là một phương pháp thay thế.

Tại thời điểm này, nếu trạng thái động kinh không giảm cần đặt nội khí quản và gây mê toàn thân. Thuốc gây mê tối ưu cho trường hợp này là vấn đề gây tranh cãi, nhưng nhiều bác sĩ sử dụng propofol 1 đến 2 mg/kg ở liều 100 mg/phút hoặc pentobarbital 5-8 mg/kg (liều nạp) sau đó truyền 2 đến 4 mg/kg/h cho đến khi trên điện não đồ các cho thấy hoạt động của sóng động kinh đã bị ức chế. Ít khi sử dụng thuốc gây mê đường hít.

Sau khi điều trị ban đầu, phải xác định và điều trị nguyên nhân của trạng thái động kinh.

Động kinh sau chấn thương

Nếu chấn thương đầu gây ra tổn thương cấu trúc đáng kể (ví dụ: các vết xước hoặc tụ máu lớn, dập não, vỡ xương sọ) hoặc thang điểm hôn mê Glasgow (GCS) của bệnh nhân < 10 cần chỉ định dùng thuốc ngăn ngừa động kinh. Những loại thuốc này làm giảm nguy cơ co giật trong tuần đầu sau khi chấn thương nhưng không ngăn ngừa lâu dài bệnh động kinh sau chấn thương nhiều tháng hoặc nhiều năm sau đó. Nên ngừng thuốc sau 1 tuần trừ khi động kinh xảy ra.

Nếu cơn động kinh bắt đầu > 1 tuần sau khi chấn thương sọ não, cần điều trị lâu dài bằng thuốc.

Điều trị thuốc lâu dài

Thuốc chống co giật có thể được dùng suốt đời, nhưng nhiều loại co giật (ví dụ như hầu hết các cơn co giật do sốt, động kinh do cai rượu, động kinh không tái phát) không cần điều trị bằng thuốc chống co giật.

Không có thuốc duy nhất kiểm soát tất cả các loại co giật, và các bệnh nhân khác nhau yêu cầu các loại thuốc khác nhau. Một số bệnh nhân cần nhiều thuốc. Các loại thuốc được ưu tiên khác nhau tùy thuộc vào loại động kinh (xem Bảng: Lựa chọn thuốc cho Động kinh). Để có thêm thông tin cụ thể về thuốc, xem Thuốc điều trị động kinh : Lựa chọn thuốc chống co giật để điều trị lâu dài.

Phẫu thuật

Khoảng 10 đến 20% bệnh nhân có cơn động kinh tái phát kháng trị và thường là đối tượng cần phẫu thuật. Nếu cơn động kinh bắt nguồn từ một điểm, vùng có thể cắt bỏ được trong não, việc cắt bỏ ổ động kinh ổ thường giúp cải thiện rõ rệt việc kiểm soát cơn động kinh. Nếu ổ khởi phát ở thùy thái dương trước giữa, việc cắt bỏ sẽ giúp giải quyết cơn co giật ở khoảng 60% bệnh nhân. Sau khi phẫu thuật, một số bệnh nhân không còn co giật và không cần dùng thuốc, nhưng nhiều người vẫn cần thuốc, tuy nhiên có thể giảm liều và chỉ cần đơn trị liệu.

Vì phẫu thuật đòi hỏi phải kiểm tra và theo dõi chuyên sâu, những bệnh nhân này tốt nhất nên được điều trị ở các trung tâm động kinh chuyên biệt.

Kích thích thần kinh phế vị

Kích thích điện liên tục dây thần kinh phế vị trái sử dụng thiết bị tạo nhịp cấy ghép (kích thích dây thần kinh X) là liệu pháp bổ trợ cho điều trị thuốc ở những bệnh nhân co giật không kiểm soát và không có chỉ định phẫu thuật. Thủ thuật này làm giảm số cơn động kinh cục bộ 50% trong khoảng 40% bệnh nhân. Sau khi thiết bị được lập trình, bệnh nhân có thể kích hoạt nó bằng nam châm để ngăn cơn động kinh sắp xảy ra.

Tác dụng phụ của kích thích thần kinh X bao gồm làm trầm giọng nói trong khi kích thích, ho, và khàn tiếng. Các biến chứng là tối thiểu .

Thời gian có hiệu quả không rõ ràng.

Những điểm chính

  • Nguyên nhân thường gặp của động kinh bao gồm dị tật bẩm sinh hoặc chấn thương, khuyết tật mắc phải và rối loạn chuyển hóa ở trẻ <2 tuổi; bệnh động kinh tự phát ở trẻ em từ 2 đến 14 tuổi; chấn thương sọ não, cai rượu, khối u và đột quỵ ở người lớn; và khối u và đột quỵ ở người cao tuổi.

  • Mất ý thức có thể là do động kinh nếu bệnh nhân cắn phải lưỡi, mất kiểm soát cơ tròn (ví dụ nước tiểu hoặc phân trong quần áo), hoặc lú lẫn trong một thời gian dài sau khi mất ý thức.

  • Đánh giá bệnh nhân động kinh cho ta dấu hiệu gợi ý các nguyên nhân (ví dụ như sốt, cứng gáy, tổn thương thần kinh khu trú, kích thích thần kinh cơ và tăng phản xạ, phù gai thị) và định hướng xét nghiệm sau đó.

  • Đánh giá tất cả các bệnh nhân có cơn động kinh mới hoặc đông kinh chưa rõ nguyên nhân bằng hình ảnh học thần kinh, điện não đồ và xét nghiệm máu.

  • Nói chuyện với bệnh nhân về cách tránh hoặc giảm thiểu các cơn động kinh và làm thế nào để giảm nguy cơ tai biến do động kinh (ví dụ như không lái xe và không bơi một mình).

  • Thuốc chống co giật có thể phải dùng suốt đời, nhưng nhiều loại động kinh (ví dụ như hầu hết các cơn co giật do sốt, co giật do cai rượu, động kinh không tái phát) không cần điều trị chống co giật.

  • Cân nhắc phẫu thuật nếu điều trị ≥ 2 thuốc chống co giật vẫn không kiểm soát được cơn động kinh.

Các chuyên gia đọc thêm

Cũng quan tâm

TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI

TRÊN CÙNG