MSD Manual

Hãy xác nhận rằng quý vị là chuyên gia chăm sóc sức khỏe

Đang tải

Tổng quan về Thiếu dinh dưỡng

Theo

John E. Morley

, MB, BCh, Saint Louis University School of Medicine

Xem lại/Duyệt lại toàn bộ lần cuối Thg10 2016| Sửa đổi nội dung lần cuối cùng Thg10 2016
Nguồn chủ đề

Thiếu dinh dưỡng là một dạng của suy dinh dưỡng. (Suy dinh dưỡng cũng bao gồm thừa dinh dưỡng -xem Béo phì và hội chứng chuyển hóa). Thiếu dinh dưỡng có thể là kết quả từ ăn không đủ các chất dinh dưỡng, giảm hấp thu, chuyển hóa kém, mất các chất dinh dưỡng do tiêu chảy, hoặc tăng nhu cầu dinh dưỡng (như xảy ra ở ung thư hoặc nhiễm trùng). Thiếu dinh dưỡng tiến triển theo giai đoạn; có thể phát triển chậm khi do chán ăn hoặc rất nhanh, như khi suy mòn nhanh chóng liên quan đến ung thư. Trước tiên, mức dinh dưỡng thay đổi trong máu và trong mô, tiếp theo là thay đổi nội bào về các chức năng và cấu trúc sinh hóa. Cuối cùng, các triệu chứng và dấu hiệu xuất hiện. Chẩn đoán là dựa vào tiền sử, khám lâm sàng, phân tích thành phần cơ thể, và đôi khi cần xét nghiệm (thí dụ, albumin).

Các yếu tố nguy cơ

Thiếu dinh dưỡng là có liên quan đến nhiều rối loạn và các hoàn cảnh, bao gồm sự đói nghèo và xã hội thiếu thốn.

Nguy cơ cũng lớn hơn vào một số thời điểm nhất định (ví dụ, trong thời kỳ sơ sinh, thời đầu thơ ấu, thiếu niên, phụ nữ mang thai, phụ nữ cho con bú, và tuổi già).

Trẻ sơ sinh và tuổi thơ ấu

Trẻ sơ sinh và trẻ em đặc biệt dễ bị thiếu dinh dưỡng bởi vì do nhu cầu cao về năng lượng và các chất dinh dưỡng cần thiết. Bởi vì vitamin K không dễ dàng vượt qua nhau thai nên trẻ sơ sinh có thể bị thiếu hụt, do đó chúng được tiêm 1 liều vitamin K trong vòng 1 giờ sau sinh để phòng ngừa bệnh xuất huyết của trẻ sơ sinh, một rối loạn đe dọa tính mạng. Trẻ sơ sinh chỉ ăn sữa mẹ, thường không giàu vitamin D, được bổ sung vitamin D; chúng có thể mắc chứng thiếu vitamin B12 nếu mẹ chúng ăn chay. Trẻ sơ sinh và trẻ em không được ăn đầy đủ có nguy cơ thiếu dinh dưỡng protein-năng lượng (PEU- trước đây gọi là suy dinh dưỡng protein - năng lượng) và thiếu sắt, folate (axit folic), vitamin A và C, đồng và kẽm.

Trong giai đoạn thanh thiếu niên, nhu cầu dinh dưỡng tăng bởi vì tốc độ tăng trưởng nhanh hơn. Chứng chán ăn tâm thần có thể ảnh hưởng đến các trẻ gái vị thành niên nói riêng.

Giai đoạn mang thai và cho con bú

Nhu cầu cho các chất dinh dưỡng tăng trong khi mang thai và cho con bú. Sự sai lệch của chế độ ăn, bao gồm dị thực (tiêu thụ các chất không có dinh dưỡng, như đất sét và than củi), có thể xảy ra trong khi mang thai. Thiếu máu do thiếu sắt là phổ biến, cũng như thiếu máu do thiếu folate, đặc biệt là trong số phụ nữ đã dùng thuốc tránh thai đường uống (xem Thiếu máu khi mang thai). Thiếu vitamin D là phổ biến trong thời gian cuối thai kì, dẫn đến trẻ giảm khối xương.

Giai đoạn tuổi già

Lão hóa - thậm chí khi không có bệnh hoặc khi chế độ ăn vẫn đầy đủ - dẫn tới thiểu cơ (mất khối lượng nạc cơ thể), bắt đầu sau tuổi 40 và khối lượng cơ mất có thể đến khoảng 10kg (22 lb) ở nam giới và 5kg (11 lb) ở phụ nữ. Thiếu dinh dưỡng góp phần gây thiểu cơ, và thiểu cơ đóng góp cho nhiều biến chứng của thiếu dinh dưỡng (ví dụ, giảm cân bằng nitơ, tăng nhạy cảm với nhiễm trùng).

Những nguyên nhân của thiểu cơ bao gồm:

  • Giảm hoạt động thể chất

  • Giảm lượng thực phẩm đưa vào

  • Tăng mức cytokine (đặc biệt là interleukin-6)

  • Giảm mức hormone tăng trưởng và yếu tố tăng trưởng mechano ( yếu tố tăng trưởng-3 giống insulin)

  • Ở nam giới, giảm mức androgen

Lão hóa giảm tỷ lệ trao đổi chất cơ bản (do giảm phần lớn khối mỡ tự do), tổng cân nặng cơ thể, chiều cao và khối xương; từ khoảng 40 tuổi đến 65 tuổi, chất béo cơ thể trung bình (tính bằng phần trăm cân nặng cơ thể) tăng đến khoảng 30% (từ 20%) ở nam giới và đến 40% (từ 27%) ở nữ giới.

Từ 20 đến 80 tuổi, thực phẩm đưa vào giảm, đặc biệt ở nam giới.

Chán ăn do lão hóa bản thân nó có nhiều nguyên nhân, bao gồm

  • Giảm thư giãn thích ứng của đáy dạ dày

  • Tăng sự giải phóng và hoạt động của cholecystokinin (gây cảm giác ngấy)

  • Tăng leptin (một hormone chán ăn được sản xuất bởi tế bào mỡ)

  • Giảm bớt vị và mùi, có thể làm giảm thú vui ăn uống nhưng thường chỉ giảm nhẹ lượng thức ăn đưa vào

  • Trầm cảm (một nguyên nhân phổ biến)

  • Cô đơn

  • Không thể mua hoặc chuẩn bị bữa ăn

  • Sa sút trí tuệ

  • Một số rối loạn mạn tính

  • Sử dụng một số thuốc nhất định

Thi thoảng, chứng chán ăn tâm thần (đôi khi được gọi là chứng chán ăn muộn ở người cao tuổi), chứng bệnh hoang tưởng hoặc chứng điên cuồng gây cản trở việc ăn uống. Các vấn đề nha khoa hạn chế khả năng nhai và sau đó đến tiêu hóa các thực phẩm. Những khó khăn về nuốt (ví dụ, do đột quị, các rối loạn thần kinh khác, nấm thực quản, hoặc khô miệng) là phổ biến. Nghèo đói hoặc suy giảm chức năng hạn chế việc tiếp cận với các chất dinh dưỡng.

Người già ở viện dưỡng lão có nguy cơ đặc biệt về PEU. Họ thường bị rối trí và có thể không thể diễn tả là bị đói hoặc nêu nguyện vọng về thức ăn. Họ có thể không tự ăn được. Nhai hoặc nuốt có thể rất chậm, làm người cho họ ăn thấy mệt mỏi nên không cho họ ăn đủ.

Ở người cao tuổi, đặc biệt là người sống ở viện dưỡng lão, lượng thức ăn đưa vào không đầy đủ và thường giảm sự hấp thụ hoặc tổng hợp vitamin D, nhu cầu vitamin D gia tăng, và sự tiếp xúc không đầy đủ vào ánh nắng mặt trời góp phần gây thiếu hụt vitamin D và chứng loãng xương.

Các rối loạn và các biện pháp y tế

Bệnh đái tháo đường, một số rối loạn mạn tính có ảnh hưởng đến đường tiêu hoá, cắt đoạn ruột và một số quy trình phẫu thuật GI khác có xu hướng làm giảm hấp thu các vitamin tan trong dầu, vitamin B12, canxi, và sắt. Bệnh ruột do gluten, suy tụy, hoặc các rối loạn khác có thể gây chứng kém hấp thu. Giảm hấp thu có thể góp phần gây thiếu hụt sắt và chứng loãng xương.

Các rối loạn gan làm giảm dự trữ vitamin A và B12 và gây trở ngại cho chuyển hóa protein và các nguồn năng lượng. Suy thận dẫn đến sự thiếu hụt protein, sắt, và vitamin D.

Chán ăn là nguyên nhân ở một số bệnh nhân ung thư hoặc trầm cảm và ở những bệnh nhân AIDS không tiêu thụ đủ số lượng thực phẩm.

Nhiễm trùng, chấn thương, cường giáp, bỏng diện rộng, và sốt kéo dài tăng nhu cầu chuyển hóa. Bất kỳ điều kiện nào làm tăng cytokine có thể song hành với mất cơ, phân giải lipid, mức albumin thấp, và chán ăn.

Các chế độ ăn chay

Thiếu sắt có thể xảy ra ở những người ăn chay có trứng-sữa (mặc dù chế độ ăn này có thể tương thích với sức khoẻ tốt). Ăn chay thuần có thể phát triển sự thiếu hụt vitamin B12 trừ khi họ tiêu thụ các chất được chiết xuất từ men hoặc các thực phẩm đã lên men theo phong cách Châu Á. Lượng canxi, sắt, và kẽm đưa vào cũng có xu hướng thấp.

Một chế độ ăn chỉ với trái cây không được khuyến nghị bởi vì nó thiếu protein, natri và nhiều vi chất dinh dưỡng.

Chế độ ăn thiếu khoa học

Một số chế độ thiếu khoa học gây ra sự thiếu hụt vitamin, chất khoáng, và protein; các rối loạn tim, thận, và chuyển hóa; và đôi khi gây tử vong. Chế độ ăn calorie rất thấp (<400 kcal/ngày) không thể duy trì sức khoẻ lâu dài.

Các loại thuốc và chất bổ sung dinh dưỡng

Nhiều loại thuốc (ví dụ, các chất ngăn sự thèm ăn, digoxin) làm giảm sự thèm ăn; một số khác làm giảm hấp thu chất dinh dưỡng hoặc chuyển hóa. Một số thuốc (ví dụ, chất kích thích) có hiệu ứng dị hóa. Một số loại thuốc có thể làm giảm hấp thu nhiều chất dinh dưỡng; ví dụ, thuốc chống co giật có thể làm giảm hấp thu các vitamin.

Sự phụ thuộc rượu hoặc thuốc

Những bệnh nhân lệ thuộc vào rượu hoặc thuốc có thể xao nhãng nhu cầu dinh dưỡng. Sự hấp thu và chuyển hóa của các chất dinh dưỡng có thể bị suy giảm. Những người nghiện thuốc tiêm qua đường tĩnh mạch thường bị thiếu dinh dưỡng, cũng như những người nghiện rượu tiêu thụ 1/4 lít rượu mạnh/ngày. Chứng nghiện rượu có thể gây thiếu hụt magiê, kẽm, và một số vitamin nhất định, bao gồm vitamin B1.

Các triệu chứng và Các dấu hiệu

Các triệu chứng thay đổi phụ thuộc vào nguyên nhân và loại thiếu dinh dưỡng (ví dụ, thiếu dinh dưỡng protein-năng lượng, thiếu vitamin).

Đánh giá

Chẩn đoán của thiếu dinh dưỡng dựa trên kết quả của tiền sử y tế và chế độ ăn, kiểm tra thể chất, phân tích thành phần cơ thể, và các xét nghiệm chọn lọc.

Lịch sử

Tiền sử nên bao gồm các câu hỏi về chế độ ăn (xem Hình: Đánh giá dinh dưỡng rút gọn.), những thay đổi gần đây về cân nặng, và các yếu tố nguy cơ gây thiếu dinh dưỡng, bao gồm việc sử dụng thuốc và rượu. Mất không chủ ý 10% trọng lượng cơ thể thông thường trong khoảng thời gian 3 tháng cho thấy khả năng bị thiếu dinh dưỡng cao. Tiền sử xã hội nên bao gồm các câu hỏi về việc liệu có đủ tiền mua thực phẩm và liệu bệnh nhân có thể đi chợ và nấu ăn.

Xem xét các hệ thống nên tập trung vào các triệu chứng thiếu hụt dinh dưỡng (xem Bảng: Các triệu chứng và Các dấu hiệu của sự thiếu hụt dinh dưỡng). Ví dụ, giảm thị lực ban đêm có thể cho thấy sự thiếu hụt vitamin A.

Bảng
icon

Các triệu chứng và Các dấu hiệu của sự thiếu hụt dinh dưỡng

Khu vực/Hệ thống

Triệu chứng hoặc Dấu hiệu

Sự thiếu hụt

Biểu hiện tổng thể

Sự hao mòn

Năng lượng

Da

Phát ban

Nhiều loại vitamin, kẽm, các axit béo thiết yếu

Phát ban trong vùng tiếp xúc với ánh nắng mặt trời

Vitamin B3 (pellagra)

Dễ bầm tím

Tóc và móng tay

Thưa hoặc mất tóc

Protein

Tóc bạc sớm

Móng tay (lõm) hình thìa

Mắt

Suy giảm tầm nhìn ban đêm

Màng sừng khô nhuyễn giác mạc (khô và đám mây giác mạc)

Vitamin A

Miệng

Khô nứt môi và viêm lưỡi

Vitamin B2, vitamin B3, vitamin B6, sắt

Chảy máu lợi

Vitamin C, vitamin B2

Các giới hạn

Phù

Protein

Hệ thần kinh

Dị cảm hoặc tình trạng tê trong vùng đeo găng tay

Vitamin B1 (beriberi)

Co cứng

Thiếu nhận thức và cảm giác

Vitamin B1, vitamin B3,vitamin B6, vitamin B12

Chứng mất trí

Vitamin B1, vitamin B3, vitamin B12

Cơ xương

Sự hao mòn cơ

Protein

Biến dạng xương (ví dụ, tật gối lệch ra ngoài, đầu gồi lệch vào trong, cong cột sống)

Vitamin D, canxi

Mềm xương

Vitamin D

Đau hoặc sưng khớp

Vitamin C

GI

Tiêu chảy

Protein, vitamin B3, folate, vitamin B12

Tiêu chảy và rối loạn vị giác

Kẽm

Chứng khó nuốt hoặc chứng nuốt đau (do hội chứng Plummer-Vinson)

Sắt

Nội tiết

Bướu giáp

Đánh giá dinh dưỡng rút gọn.

Guigoz Y và Garry PJ. Đánh giá dinh dưỡng rút gọn. Một công cụ đánh giá thực tế cho sự phân loại tình trạng dinh dưỡng của những bệnh nhân cao tuổi. Thực tế và Nghiên cứu trong Lão khoa. Phụ lục 2: 15-59, 1994. Rubenstein LZ, Jarker J, Guigoz Y, và Vellas B. Đánh giá lão khoa toàn diện (CGA) và MNA: Tổng quan về CGA, đánh giá dinh dưỡng và sự phát triển từ một phiên bản rút ngắn của MNA. Trong Mini nutritional assessment (MNA): Research and practice in the elderly. Vellas B, Garry PJ, và Guigoz Y, các biên tập viên. Chuỗi hội thảo về dinh dưỡng của Nestlé. Chương trình lâm sàng & thực hiện, vol. 1, Karger, Bale, 1997. ® Société des Produits Nestlé SA, Vevey, Thụy Sĩ, chủ sở hữu nhãn hiệu. In lại với sự cho phép

Đánh giá dinh dưỡng rút gọn.

Kiểm tra thể chất

Kiểm tra thể chất cần bao gồm

  • Đo chiều cao và cân nặng

  • Kiểm tra sự phân bố mỡ của cơ thể

  • Đo nhân trắc khối nạc của cơ thể

Chỉ số khối cơ thể (BMI = trọng lượng [kg]/chiều cao [m]2) điều chỉnh trọng lượng cho chiều cao (xem Bảng: Chỉ số khối cơ thể (BMI)). Nếu trọng lượng là < 80% được dự đoán cho chiều cao bệnh nhân hoặc nếu BMI <18, nên nghi ngờ thiếu dinh dưỡng. Mặc dù những phát hiện này rất hữu ích trong chẩn đoán thiếu dinh dưỡng và độ nhạy chấp nhận được, nhưng thiếu tính đặc hiệu.

Vùng cơ giữa cánh tay ước tính khối nạc cơ thể. Vùng này được suy ra từ độ dày nếp gấp da cơ tam đầu (TSF) và chu vi giữa cánh tay. Cả hai đều được đo tại cùng một vị trí, với cánh tay phải của bệnh nhân ở một vị trí thả lỏng. Chu vi giữa cánh tay trung bình khoảng 34,1 cm đối với nam giới và 31,9 cm đối với nữ giới (1). Công thức tính vùng cơ giữa cánh tay là cm2 theo cách sau:

equation

Công thức này hiệu chỉnh vùng cánh tay cho mỡ và xương. Các giá trị trung bình của vùng cơ giữa cánh tay là 54 ± 11cm2 cho nam giới và 30 ± 7 cm2 đối với nữ giới. Giá trị < 75% của tiêu chuẩn này (phụ thuộc vào độ tuổi) cho biết sự suy giảm khối lượng nạc của cơ thể (xem Bảng: Vùng cơ giữa cánh tay ở người trưởng thành). Sự đo lường này có thể bị ảnh hưởng bởi hoạt động thể lực, yếu tố di truyền và mất cơ liên quan tới tuổi.

Bảng
icon

Vùng cơ giữa cánh tay ở người trưởng thành

Tỉ lệ phần trăm của tiêu chuẩn (%)

Nam giới (cm2)

Nữ giới (cm2)

Khối cơ

100 ± 20*

54 ± 11

30 ± 7

Đầy đủ

75

40

22

Giới hạn biên

60

32

18

Suy kiệt

50

27

15

Hao mòn

* Khối cơ giữa cánh tay trung bình ± 1 độ lệch chuẩn.

Từ Điều tra Sức khỏe và Dinh dưỡng Quốc gia I và II.

Khám sức khoẻ nên tập trung vào các dấu hiệu của sự thiếu hụt dinh dưỡng đặc trưng. Các dấu hiệu của PEU (ví dụ, phù, hao mòn cơ, thay đổi da) nên được tìm kiếm. Khám cũng nên tập trung vào các dấu hiệu của các tình trạng có thể dẫn đến sự thiếu hụt dinh dưỡng, chẳng hạn như các vấn đề nha khoa. Tình trạng tâm thần nên được đánh giá, bởi vì trầm cảm và suy giảm nhận thức có thể dẫn đến việc mất cân.

Các công cụ đánh giá sau đây có thể giúp ích:

  • Đánh giá tổng thể chủ quan (SGA) sử dụng thông tin từ tiền sử bệnh nhân (ví dụ, mất cân, thay đổi trong thức ăn đưa vào, các triệu chứng GI), các kết quả khám lâm sàng (ví dụ, mất cơ, mỡ dưới da, phù, cổ chướng) và đánh giá của bác sỹ lâm sàng về tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân.

  • Đánh giá Dinh dưỡng rút gọn (MNA) đã được xác nhận và được sử dụng rộng rãi, đặc biệt đối với những bệnh nhân cao tuổi (xem Hình: Đánh giá dinh dưỡng rút gọn.).

  • Bảng câu hỏi đánh giá dinh dưỡng rút gọn (SNAQ), một phương pháp đơn giản đã được phê chuẩn để dự báo mất cân trong tương lai, có thể sử dụngxem Hình: Bộ câu hỏi đánh giá dinh dưỡng rút gọn (SNAQ).)

Bộ câu hỏi đánh giá dinh dưỡng rút gọn (SNAQ).

Bộ câu hỏi đánh giá dinh dưỡng rút gọn (SNAQ).

Xét nghiệm

Việc mở rộng phạm vi của các xét nghiệm cần thiết là chưa rõ ràng và có thể phụ thuộc vào tình huống của bệnh nhân. Nếu nguyên nhân là rõ ràng và có thể hiệu chỉnh (ví dụ, tình trạng sống trong hoang dã), sự xét nghiệm có lẽ ít có ích. Những bệnh nhân khác có thể yêu cầu đánh giá chi tiết hơn.

Đo lượng anbumin huyết thanh là xét nghiệm thường được sử dụng nhất. Giảm albumin và các protein khác (ví dụ, prealbumin [transthyretin], transferrin, protein gắn kết retinol) có thể cho dấu hiệu thiếu protein hoặc PEU. Khi thiếu dinh dưỡng tiến triển, albumin giảm chậm; prealbumin, transferrin, và protein gắn kết retinol giảm nhanh. Đo lượng albumin không tốn kém và dự đoán tỉ lệ mắc bệnh và tử vong tốt hơn so với đo các protein khác. Tuy nhiên, sự tương quan của albumin với tỷ lệ mắc bệnh và tử vong có thể liên quan đến các yếu tố không phải dinh dưỡng cũng như các yếu tố dinh dưỡng. Viêm sinh ra các cytokine là nguyên nhân làm cho các dấu ấn albumin và protein dinh dưỡng protein khác thoát mạch, làm giảm nồng độ huyết thanh. Bởi vì prealbumin, transferrin và protein liên kết retinol giảm nhanh hơn trong khi đói so với albumin, người ta sử dụng các phép đo chúng để chẩn đoán hoặc đánh giá mức độ nghiêm trọng của đói cấp. Tuy nhiên, liệu chúng có độ nhạy hơn hoặc đặc hiệu hơn albumin là không rõ ràng.

Tổng số tế bào lymphocyte, thường giảm do thiếu dinh dưỡng tiến triển, có thể được xác định. Thiếu dinh dưỡng gây ra sự giảm đáng kể các tế bào lympho CD4+ T, vì thế việc đếm tế bào này không có ích đối với bệnh nhân AIDS.

Thử da sử dụng các kháng nguyên có thể phát hiện suy miễn dịch qua trung gian qua tế bào trong PEU và trong một số rối loạn khác của thiếu dinh dưỡng (xem Cách tiếp cận với bệnh nhân nghi ngờ suy giảm miễn dịch : Đánh giá).

Các xét nghiệm khác, như đo mức vitamin và khoáng chất, được sử dụng có chọn lọc để chẩn đoán những thiếu hụt đặc trưng.

Tham khảo đánh giá

  • 1. McDowell MA, Fryar CD, Ogden CL, Flegal KM: Số liệu tham khảo nhân trắc học cho trẻ em và người trưởng thành: Hoa Kỳ, 2003–2006. Natl Health Stat Report Ngày 22 tháng 10 (10): 1-48, 2008.

Cũng quan tâm

Các video

Xem tất cả
Nối tắt dạ dày kiểu Roux-en-Y
Video
Nối tắt dạ dày kiểu Roux-en-Y
Quá trình tiêu hóa bắt đầu trong miệng, nơi thức ăn được phân cắt nhờ dịch vị và hoạt động...
Tổng quan về bệnh Wilson
Video
Tổng quan về bệnh Wilson

TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI

TRÊN CÙNG