MSD Manual

Hãy xác nhận rằng quý vị là chuyên gia chăm sóc sức khỏe

honeypot link

Ghép tế bào gốc tạo máu

Theo

Martin Hertl

, MD, PhD, Rush University Medical Center

Xem lại/Duyệt lại toàn bộ lần cuối Thg9 2016| Sửa đổi nội dung lần cuối cùng Thg10 2016

Ghép tế bào gốc tạo máu (HSC) là một kỹ thuật có những bước tiến nhanh cung cấp một phương pháp điều trị tiềm năng cho các ung thư máu (lơ xê mi, u lympho, đa u tủy xương) và các rối loạn huyết học khác (ví dụ, suy giảm miễn dịch tiên phát, thiếu máu giảm sinh, rối loạn sinh tủy). Ghép tế bào gốc tạo máu đôi khi cũng được áp dụng cho các khối u đặc (ví dụ, một số khối u tế bào mầm) đáp ứng với hóa trị liệu.

Ghép tế bào gốc tạo máu góp phần chữa bệnh bằng cách

  • Phục hồi tủy xương sau điều trị diệt tủy loại trừ ung thư

  • Thay thế tủy xương bất thường bằng tủy xương bình thường ở các rối loạn huyết học không ác tính

Ghép tế bào gốc tạo máu có thể là ghép tự thân hoặc ghép cùng loài. Tế bào gốc có thể được thu thập từ

  • Tủy xương

  • Máu ngoại vi

  • Máu dây rốn

Máu ngoại vi đã thay thế tủy xương như một nguồn cung cấp tế bào gốc, đặc biệt trong ghép tế bào gốc tự thân vì việc thu thập tế bào gốc dễ dàng hơn và bạch cầu trung tính, số lượng tiểu cầu hồi phục nhanh hơn. Ghép tế bào gốc tạo máu từ máu cuống rốn được giới hạn chủ yếu ở trẻ em vì có quá ít tế bào gốc trong máu cuống rốn cho một người lớn. Một nguồn tế bào gốc tiềm năng trong tương lai có thể là các tế bào gốc vạn năng (một số tế bào lấy từ người lớn và được lập trình lại để hoạt động như các tế bào gốc).

Không có chống chỉ định đối với ghép tế bào gốc tạo máu tự thân.

Chống chỉ định ghép tế bào gốc tạo máu cùng loài là tương đối và bao gồm tuổi > 50, đã ghép tế bào gốc tạo máu trước đó và có các bệnh kèm theo nặng.

Ghép tế bào gốc tạo máu cùng loài bị hạn chế chủ yếu do thiếu người cho phù hợp. Người cho là anh chị em ruột trùng hoàn toàn HLA là lý tưởng, tiếp theo là người cho là anh chị em ruột có trùng HLA. Vì chỉ có một phần tư số bệnh nhân có người cho là anh chị em ruột nên người cho có cùng huyết thống không trùng hợp hoặc người cho không cùng huyết thống có trùng hợp (được xác định thông qua đăng ký quốc tế) thường được sử dụng. Tuy nhiên, tỉ lệ sống còn không bệnh của tạng ghép kéo dài có thể thấp hơn những tạng ghép được hiến từ người cho là anh chị em ruột có HLA giống nhau.

Kỹ thuật ghép tế bào gốc tạo máu từ máu cuống rốn vẫn đang được xây dựng, nhưng sự trùng hợp HLA có thể không quan trọng.

Thủ thuật

Cho thu thập tế bào gốc tủy xương, 700 đến 1500 mL (tối đa 15 mL / kg) tủy được hút ra từ mào chậu sau của người cho; sử dụng thuốc tê tại chỗ hoặc đường toàn thân.

Cho thu thập máu ngoại vi, người cho được điều trị với các yếu tố tăng trưởng tái tổ hợp (yếu tố kích thích dòng tế bào hạt hoặc yếu tố kích thích dòng tế bào hạt - đại thực bào) để kích thích tăng sinh và huy động các tế bào gốc; việc gạn tách tế bào gốc chuẩn được thực hiện 4 đến 6 ngày sau đó. Việc phân loại tế bào hoạt hóa huỳnh quang được sử dụng để xác định và tách các tế bào gốc khỏi các tế bào khác.

Các tế bào gốc sau đó được truyền từ 1 đến 2 giờ thông qua một catheter tĩnh mạch trung tâm đường kính rộng.

Chế độ điều hoà

Trước khi ghép tế bào gốc tạo máu cùng loài cho ung thư, người nhận đầu tiên được sử dụng thuốc điều hòa (ví dụ thuốc diệt tủy xương như cyclophosphamide 60 mg / kg truyền tĩnh mạch một lần / ngày trong 2 ngày kết hợp chiếu xạ toàn thân liều đầy đủ hoặc busulfan 1 mg / kg uống 4 lần/ ngày, kết hợp cyclophosphamide mà không kèm chiếu xạ toàn thân) để đạt được sự thuyên giảm bệnh và ức chế hệ miễn dịch giúp mô ghép có thể được chấp nhận.

Các phác đồ điều hòa tương tự được sử dụng trước khi ghép tế bào gốc tạo máu cùng loài, ngay cả khi ung thư không có chỉ định, để làm giảm tỷ lệ thải ghép và tái phát.

Các phác đồ điều trị như vậy không được sử dụng trước khi ghép tế bào gốc tạo máu tự thân cho ung thư, thay vào đó là các thuốc điều trị đặc hiệu với ung thư được sử dụng.

Các chế độ điều hòa không diệt tủy (chẳng hạn như cyclophosphamide, chiếu xạ tuyến ức, globulin kháng tế bào tuyến ức (ATG) và / hoặc cyclosporine) có thể làm giảm nguy cơ bệnh nặng và tử vong và có thể có ích cho các bệnh nhân cao tuổi, các bệnh nhân mắc các bệnh kèm theo và các bệnh nhân nhạy cảm với hiệu ứng mô ghép khối u (ví dụ, các bệnh nhân đa u tủy xương)

Sau ghép

Sau ghép, người nhận được sử dụng các yếu tố kích thích dòng để làm rút ngắn thời gian giảm bạch cầu sau ghép, thuốc kháng sinh dự phòng và sau ghép tế bào gốc tạo máu cùng loài HSC đồng hợp tử, cần 6 tháng sử dụng thuốc ức chế miễn dịch dự phòng (điển hình là methotrexatecyclosporine) để ngăn các tế bào T của người cho khỏi phản ứng với các phân tử HLA người nhận (bệnh ghép chống chủ). Các kháng sinh phổ rộng thường không được dùng trừ khi có sốt.

Hội chứng ghép thường xảy ra khoảng 10 đến 20 ngày sau ghép tế bào gốc tạo máu (trước đó với các tế bào gốc máu ngoại vi) và được xác định bởi số lượng bạch cầu trung tính tuyệt đối > 500 ×106/ L.

Biến chứng

Các biến chứng của ghép tế bào gốc có thể xuất hiện sớm (<100 ngày sau ghép) hoặc sau muộn hơn. Sau ghép tế bào gốc tạo máu cùng loài, nguy cơ nhiễm trùng sẽ tăng lên.

Các biến chứng sớm

Các biến chứng sớm chủ yếu bao gồm:

  • Ghép thất bại

  • Bệnh ghép chống chủ (GVHD)

Ghép thất bạithải ghép ảnh hưởng đến < 5% số bệnh nhân và biểu hiện như giảm 3 dòng kéo dài hoặc giảm không hồi phục các tế bào máu. Điều trị bằng corticosteroid trong vài tuần.

Bệnh ghép chống chủ cấp xảy ra ở những người nhận ghép tế bào gốc tạo máu cùng loài (ở 40% người nhận mô ghép từ anh chị em ruột trùng hợp HLA và 80% những người nhận mô ghép từ người cho không cùng huyết thống). Bệnh gây sốt, nổi ban, viêm gan với tăng bilirubin máu, nôn, tiêu chảy, đau bụng (có thể tiến triển đến tắc ruột) và giảm cân.

Các yếu tố nguy cơ của bệnh ghép chống chủ cấp bao gồm

  • Không trùng HLA và không cùng giới tính

  • Người cho không cùng huyết thống

  • Người nhận hoặc người cho tuổi cao hoặc cả hai

  • Tiền mẫn cảm ở người cho

  • Dự phòng bệnh ghép chống chủ không đầy đủ

Chẩn đoán bệnh ghép chống chủ cấp dựa vào tiền sử, thăm khám lâm sàng, kết quả xét nghiệm chức năng gan. Điều trị bằng methylprednisolone 2 mg / kg truyền tĩnh mạch một lần / ngày, tăng lên 10 mg / kg nếu không đáp ứng trong vòng 5 ngày.

Các biến chứng muộn

Các biến chứng muộn chính bao gồm:

  • Bệnh ghép chống chủ mạn tính

  • Tái phát bệnh

Bệnh ghép chống chủ mạn tính có thể tự xảy ra, phát triển từ bệnh ghép chống chủ cấp hoặc xảy ra sau điều trị bệnh ghép chống chủ cấp. Thường xảy ra từ 4 đến 7 tháng sau ghép tế bào gốc tạo máu (khoảng từ 2 tháng đến 2 năm). Bệnh ghép chống chủ mạn tính xảy ra ở những người nhận ghếp tế bào gốc tạo máu cùng loài (khoảng 35 đến 50% người nhận mô ghép từ anh chị em ruột có trùng hợp HLA và 60 đến 70% người nhận mô ghép từ người cho không cùng huyết thống).

Bệnh ghép chống chủ mạn tính ảnh hưởng chủ yếu tới da (ví dụ, ban dạng liken, xơ cứng bì) và niêm mạc (ví dụ viêm khô kết giác mạc, viêm quanh răng, phản ứng dạng liken niệu sinh dục), nhưng nó cũng ảnh hưởng đến đường tiêu hóa và gan. Suy giảm miễn dịch là dấu hiệu chính; viêm tiểu phế quản tắc nghẽn tương tự như tình trạng sau ghép phổi có thể xuất hiện. Cuối cùng, bệnh ghép chống chủ gây tử vong ở 20 đến 40% số bệnh nhân mắc bệnh.

Điều trị có thể không cần thiết đối với bệnh ghép chống chủ chỉ ảnh hưởng đến da và niêm mạc; điều trị các trường hợp bệnh phức tạp hơn tương tự như điều trị bệnh ghép chống chủ cấp. Diệt tế bào T của các mô ghép được hiến cùng loài sử dụng các kháng thể đơn dòng hoặc gạn tách cơ học giúp làm giảm tỷ lệ và mức độ nặng của bệnh ghép chống chủ nhưng cũng làm giảm hiệu ứng mô ghép - khối u, hiệu ứng kích thích tăng sinh tế bào gốc và mô ghép đồng thời làm giảm tỷ lệ tái phát bệnh. Tỷ lệ tái phát với ghép tế bào gốc tạo máu tự thân là cao hơn do không có hiệu ứng mô ghép - khối u và vì các tế bào khối u trong tuần hoàn máu có thể được ghép. Gạn tách các tế bào khối u ngoài cơ thể trước ghép tự thân hiện đang còn nghiên cứu.

Ở những bệnh nhân không có bệnh ghép chống chủ mạn tính, tất cả các thuốc ức chế miễn dịch có thể được ngừng tại thời điểm 6 tháng sau ghép tế bào gốc tạo máu; do đó, các biến chứng muộn ở những bệnh nhân này hiếm xảy ra.

Tiên lượng

Tiên lượng sau ghép tế bào gốc tạo máu thay đổi dựa trên chỉ định và thủ thuật.

Nhìn chung, tái phát bệnh xảy ra ở

  • 40 đến 75% người nhận ghép tế bào gốc tạo máu tự thân

  • 10 đến 40% người nhận ghép tế bào gốc dị sinh

Tỷ lệ thành công (tủy xương không có ung thư) là

  • 30 đến 40% đối với các bệnh nhân u lympho tái phát, nhạy cảm với hóa trị liệu

  • 20 đến 50% đối với các bệnh nhân lơ xê mi cấp có đáp ứng

So với đơn hoá trị liệu, ghép tế bào gốc tạo máu giúp cải thiện sự sống còn của các bệnh nhân đa u tủy xương. Tỷ lệ thành công thấp đối với những bệnh nhân có bệnh tiến triển hoặc ung thư tạng đặc nhạy cảm (ví dụ, các khối u tế bào mầm). Tỉ lệ tái phát giảm ở những bệnh nhân mắc bệnh ghép chống chủ (GVHD), nhưng tỷ lệ tử vong chung tăng lên nếu bệnh ghép chống chủ trầm trọng.

Các biện pháp điều trị tích cực, điều trị dự phòng bệnh ghép chống chủ hiệu quả, biện pháp dựa trên cyclosporine và chăm sóc hỗ trợ cải tiến (ví dụ kháng sinh khi cần, dự phòng herpesvirus và cytomegalovirus) làm tăng tỷ lệ sống còn không bệnh kéo dài sau ghép tế bào gốc tạo máu.

Các chuyên gia đọc thêm

Cũng quan tâm

TRÊN CÙNG