MSD Manual

Hãy xác nhận rằng quý vị là chuyên gia chăm sóc sức khỏe

honeypot link

Thalassemias

(Thiếu máu Địa Trung Hải, Thalassemia thể nặng Thalassemia thể nhẹ)

Theo

Evan M. Braunstein

, MD, PhD, Johns Hopkins School of Medicine

Xem lại/Duyệt lại toàn bộ lần cuối Thg1 2017| Sửa đổi nội dung lần cuối cùng Thg1 2017

Thalassemias là một nhóm các bệnh thiếu máu tan máu di truyền hồng cầu nhỏ, đặc trưng bởi sự khiếm khuyết trong tổng hợp huyết sắc tố (Hb). Bệnh alpha thalassemia đặc biệt phổ biến ở người Châu Phi, Địa Trung Hải hay Đông Nam Á. Beta-thalassemia phổ biến hơn ở người Địa Trung Hải, Trung Đông, Đông Nam Á, hoặc Ấn Độ. Các triệu chứng và dấu hiệu do thiếu máu, tan máu: lách to, tăng sinh ở tủy xương, và, nếu đã có nhiều lần truyền máu, sẽ có quá tải sắt. Chẩn đoán dựa trên xét nghiệm di truyền và phân tích định lượng Hb. Điều trị các dạng nặng có thể bao gồm truyền máu, cắt lách, thải sắt và ghép tế bào gốc.

Sinh lý bệnh

Thalassemia là một bệnh huyết sắc tố đó là một trong những rối loạn di truyền phổ biến nhất của sản xuất hemoglobin. Nó là kết quả từ việc tổng hợp Hb không cân bằng do sự giảm sản xuất ít nhất một chuỗi globin (beta, alpha, gamma, delta).

Alpha-thalassemia

Alpha Thalassemia là kết quả do giảm sản xuất chuỗi alpha-polypeptide do mất 1 hoặc nhiều gen alpha. Bình thường có bốn allele alpha (hai trên một trong cặp nhiễm sắc thể) vì gen alpha được nhân đôi. Phân loại bệnh dựa trên số lượng gen bị mất:

  • thalassemia: thể Apha + Mất một gen đơn trên một nhiễm sắc thể (alpha / -)

  • Thalassemia thể Alpha 0: Mất cả hai gen trên cùng một nhiễm sắc thể (- / -)

Beta thalassemia

Beta-thalassemia là kết quả của sự giảm sản xuất chuỗi beta-do đột biến gen hoặc mât gen quy định chuỗi beta, dẫn đến hư hại sản xuất Hb A Các đột biến hoặc mất gen có thể dẫn đến mất một phần (beta +) hoặc mất hoàn toàn ( beta 0) của chức năng beta globin. Có hai gen beta globin, và bệnh nhân có thể đột biến dị hợp tử, đồng hợp tử, hoặc phức hợp dị hợp tử. Ngoài ra, bệnh nhân có thể là dị hợp tử hoặc đồng hợp tử cho những bất thường ở 2 gen globin khác nhau (ví dụ beta và delta).

Beta-delta-thalassemia là một hình thức ít phổ biến hơn, trong đó sản xuất cả chuỗi delta cũng như chuỗi beta bị suy giảm. Những đột biến này có thể là dị hợp tử hoặc đồng hợp tử.

Triệu chứng và Dấu hiệu

Các đặc điểm lâm sàng của thalassemia giống nhau nhưng khác nhau về mức độ nghiêm trọng tùy thuộc vào lượng Hb bình thường.

Alpha-thalassemia

Bệnh nhân khiếm khuyết 1gen alpha (một alpha+ allen) có lâm sàng bình thường (người mang gen)

Dạng dị hợp tử với khiếm khuyết ở 2 trong số 4 gen (hoặc hai alfa + allele hoặc một alpha 0 allele) có xu hướng thiếu máu hồng cầu nhỏ từ nhẹ đến vừa, nhưng không có triệu chứng. Những bệnh nhân này mang bệnh alpha thalassemia thể không phát bệnh.

Khiếm khuyết ở 3 trong số 4 gen (hai alpha + và alpha 0) làm ảnh hưởng xấu đến sản xuất chuỗi alpha, dẫn đến sự hình thành HbH (4 chuỗi beta) hoặc Hb Bart (4 chuỗi gamma) Bệnh nhân Hb H thường có thiếu máu tan máu có triệu chứng và lách to

Khiếm khuyết ở tất cả 4 gen (hai alen alpha 0) là một tình trạng nguy hiểm, gây phù thai trong tử cung , bởi vì Hb thiếu chuỗi alpha không vận chuyển oxy.

Beta thalassemia

Trong beta-thalassemia, các kiểu hình lâm sàng được phân thành 3 nhóm dựa trên mức độ sản xuất beta globin bị suy giảm:

  • Nhẹ (hoặc không phát bệnh)

  • Trung gian

  • Nặng

beta-thalassemia nhẹ (không phát bệnh) là dạng dị hợp tử, thường không có triệu chứng, thiếu máu hồng cầu nhỏ từ nhẹ đến trung bình.

Beta-thalassemia thể trung gian tạo ra một hình ảnh lâm sàng biến thiên giữa nhẹ và nặng .

Beta-thalassemia nặng (hoặc thiếu máu Cooley) là dạng đồng hợp tử hoặc dị hợp tử kép (chứa một beta 0 allele) và kết quả từ sự thiếu hụt globin beta nghiêm trọng. Những bệnh nhân này bị thiếu máu trầm trọng và tủy xương tăng sản mạnh. Beta-thalassemia nặng biểu hiện từ 1-2 tuổi với các triệu chứng thiếu máu trầm trọng và quá tải sát. Bệnh nhân bị vàng da, loét chân và sỏi mật (như trong bệnh hồng cầu liềm). Thường có lách to, thường rất lớn. Tăng phá hủy các hồng cầu bình thường được truyền tại lách. Tăng hoạt động tủy xương để sinh máu làm bè xương sọ, xương gò má. Gãy bệnh lý các xương dài, giảm phát triển chiều cao, chậm dậy thì.

Quá tải sắt, nhiễm sắt trong cơ tim có thể gây suy tim. Gan nhiễm sắt, dẫn đến suy giảm chức năng và xơ gan. Cần thải sắt

Chẩn đoán

  • Đánh giá thiếu máu tan máu nếu nghi ngờ

  • Tiêu bản máu ngoại vi

  • Điện di hemoglobin

  • Xét nghiệm DNA (chẩn đoán trước sinh)

Thalassemia nhẹ thường được phát hiện khi xét nghiệm tiêu bản máu ngoại vi, công thức máu thấy có thiếu máu hồng cầu nhỏ và tăng số lượng hồng cầu. Để chản đoán beta thalassemia trait, cần định lượng Hb. Không cần can thiệp.

Các trường hợp thalassemia nặng hơn được nghi ngờ ở những bệnh nhân có tiền sử gia đình, các triệu chứng hoặc dấu hiệu gợi ý, hoặc thiếu máu tan máu hồng cầu nhỏ. Nếu nghi ngờ thalassemia, cần tiến hành các xét nghiệm phát hiện hồng cầu nhỏ, tình trạng thiếu máu tan máu, và định lượng Hb. Bilirubin huyết thanh, sắt, và ferritin huyết thanh tăng.

Ở alpha-thalassemias, phần trăm Hb F và Hb A2 nói chung là bình thường, và chẩn đoán thalassemia khiếm khuyết 1 hay 2 gen cần dựa vào kỹ thuật di truyền mới, và thường phải loại trừ các nguyên nhân khác gây thiếu máu hồng cầu nhỏ.

Trong bệnh beta-thalassemia thể nặng, thiếu máu trầm trọng, thường là với Hb 6 g / dL. Số lượng hồng cầu tăng lên tương đối so với Hb vì các hồng cầu rất nhỏ. Chẩn đoán dựa trên tiêu bản máu ngoại vi: thấy hồng cầu có nhân, hồng cầu bia bắn, hồng cầu nhỏ, có đốm ưa ba dơ.

Định lượng Hb, tăng Hb A2 thường trong beta thalasemia thể nhẹ. Trong bệnh beta-thalassemia thể nặng, Hb F thường tăng lên, đôi khi đến 90%, và Hb A2 thường > 3%.

Chản đoán bệnh Hb H bằng điện di Hb. Các khiếm khuyết phân tử cụ thể có thể đặc trưng nhưng không làm thay đổi cách tiếp cận lâm sàng.

Giải trình tự gen cần thiết cho chẩn đoán trước sinh và tư vấn di truyền.

Nếu xét nghiệm tủy xương sẽ thấy sinh hồng cầu tăng rõ rệt. Chụp X quang xương ở bệnh nhân beta thalassemia thể nặng thấy biến dạng xương do hoạt động quá mức của tủy xương. Có thể thấy mỏng vỏ xương sọ, rộng khoang tủy, có viền sáng quanh xương, có hạt hoặc mất chất xương Ở xương dài: mỏng vỏ xương, khoang tủy rộng, có nhiều vùng hủy xương. Thân đốt sống có thể có hạt hoặc khoảng sáng do mất chất xương Các đầu xương hình chữ nhât hoặc lồi hai mặt.

Tiên lượng

Beta thalassemia thể nhẹ hoặc alpha thalassemia thể nhẹ: tuổi thọ bình thường Bênh Hb H và beta-thalassemia thể trung gian: tiên lượng thay đổi.

Beta thalassemia thể nặng: đời sống ngắn, chủ yếu là do biến chứng của truyền máu nhiều lần.

Điều trị

  • Thường truyền khối hồng cầu, có hoặc không có kết hợp thải sắt

  • Cắt lách nếu lách to

  • Ghép tế bào gốc đồng loài nếu có điều kiện

Alpha-thalassemia, beta-thalassemia thể không phát bệnh: không điều trị.

Bệnh Hb H: cắt lách cắt có thể hữu ích nếu thiếu máu trầm trọng hoặc có lách to.

Beta-thalassemia thể trung gian: nên hạn chế truyền máu để tránh tình trạng quá tải sắt. Beta thalassemia thể nặng: truyền máu giúp ức chế sự sinh máu bất thường do phản ứng với thiếu máu, nên truyền máu khi cần thiết để duy trì Hb khoảng 9 đến 10 g / dL và tránh biểu hiện lâm sàng nghiêm trọng. Để ngăn ngừa hoặc trì hoãn các biến chứng do sắt quá tải, cần điều trị thải sắt. Thải sắt thường bắt đầu khi nồng độ ferritin trong huyết thanh> 1000 ng / mL hoặc sau khoảng 1 đến 2 năm truyền máu theo kế hoạch. Cắt lách có thể giúp giảm nhu cầu truyền máu đối với bệnh nhân lách to.

ghép tế bào gốc đồng loài là phương án chữa khỏi bệnh và cần được xem xét ở tất cả các bệnh nhân.

Những điểm chính

  • Thalassemia là kết quả của sự giảm sản xuất ít nhất một chuỗi polypeptide globin (beta, alpha, gamma, delta); kết quả tạo ra các hồng cầu nhỏ, hình dạng bất thường, dễ tan máu.

  • Lách to, thường rất to dẫn đến tăng hấp thu và tiêu hủy hồng cầu (kể cả những những hồng cầu bình thường do truyền máu).

  • Thường quá tải sắt vì tăng hấp thu (do khiếm khuyết sinh hồng cầu) và truyền máu thường xuyên.

  • Chẩn đoán bằng điện di Hb.

  • Truyền máu nếu cần, nhưng cần theo dõi tình trạng quá tải sắt và sử dụng liệu pháp thải sắt.

  • Cắt lách có thể giúp giảm nhu cầu truyền máu đối với bệnh nhân lách to.

  • Ghép tế bào gốc đồng loại có thể chữa khỏi bệnh.

Các chuyên gia đọc thêm

Cũng quan tâm

TRÊN CÙNG