MSD Manual

Hãy xác nhận rằng quý vị là chuyên gia chăm sóc sức khỏe

honeypot link

Sa van hai lá (MVP)

Theo

Guy P. Armstrong

, MD, North Shore Hospital, Auckland

Xem lại/Duyệt lại toàn bộ lần cuối Thg9 2016| Sửa đổi nội dung lần cuối cùng Thg9 2016
Nguồn chủ đề

Sa van hai lá (MVP) là tình trạng bờ van hai lá sa vào tâm nhĩ trái trong suốt giai đoạn tâm thu. Nguyên nhân phổ biến nhất là tình trạng thoái hoá mô liên kết vô căn. Sa van hai lá thường lành tính, nhưng các biến chứng bao gồm hở van hai lá, viêm nội tâm mạc và đứt cầu cơ. Sa van hai lá thường không có triệu chứng khi không có hở van đáng kể, mặc dù có những báo cáo rằng một số bệnh nhân có biểu hiện đau ngực, khó thở, chóng mặt, và đánh trống ngực. Các dấu hiệu bao gồm tiếng click giữa tâm thu, sau đó là tiếng thổi tâm thu muộn nếu hở hai lá hiện diện. Chẩn đoán chủ yếu dựa vào lâm sàng và siêu âm tim. Tiên lượng khá khi không có triệu chứng hở van đáng kể nhưng đứt cầu cơ và viêm nội tâm mạc có thể xảy ra Không cần điều trị đặc hiệu trừ khi có triệu chứng hở van hai lá xuất hiện.

Sa van hai lá khá phổ biến; tỷ lệ từ 1 đến 3% đối với những người bình thường khác, tùy thuộc vào các tiêu chuẩn siêu âm tim được sử dụng. Bệnh ảnh hưởng như nhau đến cả hai giới; bệnh thường khởi phát thường sau thời kỳ vị thành niên.

Nguyên nhân

Sa van hai lá nguyên nhân thường gặp nhất

  • Sự thoái hóa mô liên kết của lá van hai lá và dây chằng

Trong thoái hóa mô liên kết, lớp collagen xơ của van mỏng đi và tích tụ dịch nhầy. Thừng gân trở nên dài hơn và mỏng hơn, các lá van mở rộng và trở nên mềm hơn. Những thay đổi này dẫn đến các lá van mềm nhẹ có thể cuộn lại (sụp) sa vào tâm nhĩ trái khi tâm thất trái co lại. Đứt một thừng gân thoái hoá có thể làm cho một phần của van lọt vào tâm nhĩ, điều này thường gây ra tình trạng hở hai lá trầm trọng.

Thoái hoá thường là tình trạng tự phát, mặc dù nó có thể di truyền gen trội hoặc, hiếm khi, di truyền lặn liên kết với nhiễm sắc thể X. Thoái hoá nhầy cũng có thể do rối loạn mô liên kết (ví dụ:, hội chứng Marfan, Hội chứng Ehlers-Danlos, người lớn bệnh thận đa nang, thiếu xương, Giả u vàng sợi chun, SLE, viêm đa khớp) và chứng loạn dưỡng cơ. Sa van hai lá phổ biến hơn ở bệnh nhân Bệnh Graves, hypomastia, hội chứng von Willebrand, bệnh hồng cầu lưỡi liềm, và Thấp tim. Thoái hoá nhầy cũng có thể ảnh hưởng đến van động mạch chủ hoặc van ba lá, dẫn sa van động mạch chủ hoặc van ba lá. Hở van bá lá tiên phát ít phổ biến hơn nhiều so với việc hở van ba lá thứ phát do bệnh lý thất trái.

Hở van hai lá (MR) do sa van hai lá có thể xảy ra ở những bệnh nhân có các lá van hai lá bình thường do cầu cơ bị tổn thương do thiếu máu hoặc đứt cầu cơ do thấp. Sa van hai la thoáng qua có thể xảy ra khi thể tích trong mạch máu giảm đáng kể, như xảy ra trong tình trạng mất nước nghiêm trọng hoặc đôi khi trong khi mang thai (khi phụ nữ nằm ngửa và tử cung đè ép vào tĩnh mạch chủ dưới làm giảm máu tĩnh mạch trở lại).

Biến chứng

Hở van hai lá là biến chứng thường gặp nhất của sa van hai lá Hở van hai lá cấp tính (lá van hai lá hai lá phất phơ do đứt dây chằng) hoặc mạn tính. Hậu quả của sa van hai lá có hở van hai lá bao gồm suy tim, viêm nội tâm nhiễm khuẩn, và rung nhĩ (AF) có huyết khối. Vẫn chưa xác định rõ tình trạng sa van hai lá có phải là nguyên nhân gây đột quỵ hoặc viêm nội tâm mạc độc lập với hở hai lá và rung nhĩ hay không.

Triệu chứng cơ năng và thực thể

Hầu hết bệnh nhân bị sa van hai lá đều không có triệu chứng. Một số các triệu chứng không đặc hiệu (ví dụ như đau ngực, khó thở, đánh trống ngực, chóng mặt, gần ngất, chứng đau nửa đầu, lo âu) do các biểu hiện bất thường liên quan đến adrenergic hơn là do bệnh van hai lá. Khoảng 1/3 bệnh nhân căng thẳng cảm xúc làm tim đập nhanh, có thể là triệu chứng nhịp tim lành tính (ngoại tâm thu nhĩ, nhịp nhanh nhĩ kich phát, ngoại tâm thu thất, nhịp thoát thất phức tạp).

Một số bệnh nhân có triệu chứng hở hai lá. Một số ít bệnh nhân có viêm nội tâm mạc (ví dụ như sốt, giảm cân,huyết khối) hoặc đột quy. Đột tử xảy ra < 1% bệnh nhân, thường là kết quả của đứt dây chằng và van di động tự do do đứt dây chằng van tim. Tử vong do loạn nhịp thất rất hiếm.

Các thăm khám khác có liên quan đến chẩn đoán sa van hai lá bao gồm kém phát triển tuyến vú, lõm lồng ngực, hội chứng lưng thẳng và lồng ngực hẹp trước sau.

Nghe

Thông thường, sa van hai lá không gây ra các triệu chứng có thể quan sát hay sờ thấy được.

Sa van hai lá đơn độc thường gây ra tiếng click giai đoạn giữa tâm thu khi tổ chức dưới van đột ngột thắt chặt. Tiếng click nghe rõ nhất ở vị trí mỏm tim khi bệnh nhân nằm nghiêng về bên trái. Sa van hai lá có hở van tạo ra tiếng click tâm thu giai đoạn cuối tâm thu. Tiếng click ngay sau tiếng tim (S1) với nghiệm pháp làm giảm thể tích thất trái (LV) (ví dụ, ngồi, đứng, Valsalva nghiệm pháp); những nghiệm pháp tương tự gây xuất hiện tiếng thổi toàn tâm thu hoặc tiếng click trở nên to hơn và kéo dài hơn. Những ảnh hưởng xảy ra do việc giảm thể tích thất trái khiến các cơ nhú và dây chằng kéo mạnh ở dưới van hơn, dẫn đến xuất huyết nhanh hơn, mạnh hơn trước sớm hơn, và gây hở nhiều hơn. Ngược lại, ngồi xổm hoặc nắm chặt tay làm trễ tiếng click S1 và rút ngắn tiếng thổi toàn tâm thu.

Tiếng cick tâm thu có thể nhầm lẫn với tiếng click của hẹp động mạch chủ bẩm sinh; có thể phân biệt bởi tiếng thổi của hẹp động mạch chủ bẩm sinh xảy ra rất sớm trong thì tâm thu và không di chuyển khi thay đổi tư thê hoặc thay đổi thể tích. Có thể nghe thấy tiếng rung thì tâm thu do các thanh van rung lên (tiếng honk và whoop); những tiếng này thường thoáng qua và có thể thay đổi theo hô hấp. Tiếng clac tiền tâm trương do van trở lại trạng thái bình thường hiếm khi nghe thấy. Ở một số bệnh nhân, đặc biệt là trẻ em, những tiếng rung sa van hai lá có thể thấy rõ hơn sau khi làm nghiệm pháp gắng sức.

Chẩn đoán

  • Siêu âm tim

Chẩn đoán sa van hai lá được gợi ý bằng lâm sàng và được xác nhận bởi siêu âm tim. Độ dày lá van hai lá (≥ 5 mm) cho là có sự thoái hóa nhiều hơn và có nguy cơ viêm nội tâm mạc và hở hai lá nhiều hơn.

Tiên lượng

Sa van hai lá thường lành tính, nhưng sự thoái hóa nghiêm trọng của van có thể dẫn đến hở van hai lá. Những bệnh nhân hở hai lá nặng có tỉ lệ khoảng khoảng 2-4%/năm đối với các biến cố phì đại nhĩ trái hoặc thất trái, rung nhĩ, viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn, đột quỵ, cần phải thay van, và tử vong . Nam giới ít có khả năng sa van hai lá, nhưng những người nếu bị thì có nhiều khả năng tiến triển đến hở van hai lá trầm trọng .

Điều trị

  • Thường không điều trị

  • Có thể sử dụng thuốc chẹn beta

Sa van hai lá thường không cần điều trị.

Thuốc chẹn beta có thể được sử dụng để làm giảm các triệu chứng của tình trạng cường giao cảm quá mức (như đánh trống ngực, chứng đau nửa đầu, chóng mặt) và giảm nguy cơ nhịp tim nhanh, mặc dù không có dữ liệu nào ủng hộ vấn đề này. Phác đồ điển hình là atenolol 25 đến 50 mg uông một lần / ngày hoặc propranolol 20 đến 40 mg/lần x 2 lần / ngày.

Có thể cần điều trị rung nhĩ

Điều trị hở van hai lá phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng và sự thay đổi tâm thất trái và tâm nhĩ trái đi kèm.

Dự phòng kháng sinh chống viêm nội tâm mạc không còn được khuyến cáo nữa. Thuốc chống đông dự phòng huyết khối chỉ được khuyến cáo cho những bệnh nhân bị rung nhĩ, cơn thiếu máu thoáng qua hoặc đột quỵ.

Những điểm chính

  • Bệnh sa van thường xảy ra do thoái hóa vô căn của van hai lá và các thừng gân.

  • Hở van hai lá (MR) là biến chứng phổ biến nhất.

  • Nghe tim thường phát hiện tiếng click sắc nhọn giữa tâm thu, xảy ra sớm hơn khi làm nghiệp pháp Valsalva.

  • Tiên lượng thường là lành tính trừ khi hở hai lá tiến triển, khi đó, bệnh nhân có nguy cơ suy tim, rung nhĩ, đột quỵ, và viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn,

  • Điều trị là không cần thiết trừ khi có hở hai lá nặng.

Các chuyên gia đọc thêm

Cũng quan tâm

TRÊN CÙNG