MSD Manual

Hãy xác nhận rằng quý vị là chuyên gia chăm sóc sức khỏe

Đang tải

Rối loạn cương dương

(Bất lực)

Theo

Irvin H. Hirsch

, MD, Sidney Kimmel Medical College of Thomas Jefferson University

Xem lại/Duyệt lại toàn bộ lần cuối Thg6 2017| Sửa đổi nội dung lần cuối cùng Thg7 2017
Nguồn chủ đề

Rối loạn rối loạn cương dương là không có khả năng đạt được hoặc duy trì sự cương cứng của dương vật để tiến hành cuộc giao hợp trọn vẹn. Hầu hết các rối loạn cương dương đều liên quan đến chứng rối loạn về mạch máu, thần kinh, tâm lý và hoóc môn; việc sử dụng thuốc cũng có thể là một nguyên nhân. Đánh giá bệnh gồm sàng lọc các bệnh lý nền và đo nồng độ testosterone. Các lựa chọn điều trị bao gồm các thuốc ức chế phosphodiesterase đường uống, prostaglandin đặt trong niệu đạo hoặc tiêm trực tiếp vào dương vật, các thiết bị hút chân không và phẫu thuật thay vật hang nhân tạo.

Rối loạn cương dương (RLCD, trước đây gọi là bệnh liệt dương) ảnh hưởng đến 20 triệu nam giới ở Mỹ. Tỷ lệ rối loạn cương dương hoàn toàn hoặc một phần là > 50% ở nam giới tuổi từ 40 đến 70, và tỷ lệ mắc tăng theo tuổi tác. Hầu hết những nam giới bị ảnh hưởng bởi rối loạn cương dương đều có thể điều trị thành công.

Nguyên nhân

Có 2 loại rối loạn cương dương

  • Rối loạn cương dương nguyên phát, người đàn ông chưa bao giờ có thể đạt được hoặc duy trì sự cương cứng dương vật.

  • Rối loạn cương dương thứ phát, xuất hiện trong cuộc đời của một người đàn ông mà trước đây họ cương cứng bình thường.

Rối loạn cương dương nguyên phát là rất hiếm và gần như luôn luôn do các yếu tố tâm lý hoặc bất thường rõ ràng giải phẫu.

Rối loạn cương dương thứ phát phổ biến hơn và > 90% trường hợp có nguyên nhân thực thể. Nhiều người đàn ông bị rối loạn cương dương thứ phát hình thành những vấn đề tâm lý tiêu cực, điều này làm tồi tệ hơn tình trạng rối loạn cương dương.

Các yếu tố tâm lý, đều phải được xem xét trong mọi trường hợp của rối loạn cương dương, dù là tâm lý phản ứng hay tâm lý nguyên phát. Các nguyên nhân tâm lý của RLCD nguyên phát bao gồm cảm giác tội lỗi, nỗi sợ hãi quan hệ tình dục, trầm cảm, hoặc lo âu. Trong rối loạn cương dương thứ phát, các nguyên nhân có thể liên quan đến tình trạng lo lắng, căng thẳng, hoặc trầm cảm. RLCD do tâm lý có thể là xuất hiện ở một tình huống, liên quan đến một nơi, một khoảng thời gian hoặc đối tác cụ thể.

Các nguyên nhân chính của RLCD

  • Rối loạn mạch máu

  • Rối loạn thần kinh

Những rối loạn này thường xuất phát từ xơ vữa động mạch hoặc đái tháo đường.

Phổ biến nhất nguyên nhân mạch máu là chứng xơ vữa động mạch hang dương vật, thường do hút thuốc và đái tháo đường. Xơ vữa động mạch và sự lão hóa làm giảm khả năng giãn của động mạch và giãn của cơ trơn thành mạch, làm giảm lượng máu đi vào dương vật (xem Tổng quan về chức năng tình dục nam giới : Sự cương cứng). Rối loạn cơ chế gây tắc nghẽn tĩnh mạch làm cho máu thoát ra từ tĩnh mạch, dẫn đến không có khả năng duy trì sự cương cứng.

Cương đau dương vật, thường liên quan đến việc sử dụng trazodone, lạm dụng cocaine và bệnh hồng cầu hình liềm có thể gây xơ hóa dương vật và dẫn đến ED bằng cách gây xơ hóa vật hang và do đó làm giảm lưu lượng máu đến dương vật cần thiết cho việc cương cứng.

Nguyên nhân thần kinh bao gồm đột quị, động kinh cục bộ phức tạp , bệnh đa xơ cứng, các bệnh lý thần kinh ngoại biên, tự chủ và các tổn thương tủy sống. Bệnh thần kinh đái tháo đường và tổn thương do phẫu thuật là những nguyên nhân phổ biến.

Các biến chứng của phẫu thuật vùng chậu (ví dụ, cắt bỏ tuyến tiền liệt triệt để (thậm chí với các kỹ thuật bảo tồn thần kinh), cắt bỏ bàng quang triệt để, phẫu thuật cắt bỏ tuyến tiền liệt qua đường niệu đạo, phẫu thuật ung thư trực tràng) là những nguyên nhân phổ biến khác. Các nguyên nhân khác bao gồm rối loạn nội tiết, thuốc, tia xạ vùng chậu, và các rối loạn cấu trúc của dương vật (ví dụ: Bệnh xơ hóa vật hang). Áp lực tác động lên vùng chậu kéo dài (như xảy ra trong quá trình đạp xe) hoặc chấn thương khung chậu hoặc vùng đáy chậu có thể gây RLCD.

Bất cứ bệnh lý nội tiết hoặc sự lão hóa nào liên quan đến thiếu hụt testosterone(suy sinh dục) có thể làm giảm ham muốn tình dục và gây RLCD. Tuy nhiên, chức năng cương cứng hiếm khi được cải thiện với sự bình thường hóa nồng độ testosterone huyết thanh bởi vì hầu hết những người bị ảnh hưởng cũng có các nguyên nhân thần kinh-mạch máu gây RLCD.

Nhiều thuốc có thể là nguyên nhân(xem Bảng: Các thuốc được sử dụng có thể gây ra rối loạn cương dương). Rượu cũng có thể gây RLCD tạm thời.

Chẩn đoán

  • Đánh giá lâm sàng

  • Sàng lọc trầm cảm

  • Định lượng nồng độ Testosterone

Đánh giá lâm sàng nên bao gồm tiền sử dùng thuốc (kể cả thuốc theo toa và các sản phẩm thảo dược) và sử dụng rượu, phẫu thuật vùng chậu và chấn thương, hút thuốc, đái tháo đường, tăng huyết áp, xơ vữa động mạch và các triệu chứng rối loạn về mạch máu, hoocmon, thần kinh và tâm thần. Nên tìm hiểu sự hài lòng của bệnh nhân với các mối quan hệ tình dục, bao gồm đánh giá của bạn tình và rối loạn chức năng tình dục của bạn tình (ví dụ viêm teo âm đạo, chứng giao hợp đau, trầm cảm).

Điều quan trọng là phải sàng lọc trầm cảm, điều này không phải lúc nào cũng rõ ràng. Thang điểm đánh giá trầm cảm trầm cảm Beck hoặc đối với những người đàn ông cao tuổi có thang điểm đánh giá trầm cảm người cao tuổi Yesavage (xem Bảng: Thang trầm cảm ở người cao tuổi (dạng ngắn)) rất dễ sử dụng và đánh giá.

Thăm khám nên tập trung vào bộ phận sinh dục và các dấu hiệu của rối loạn nội tiết, thần kinh, và mạch máu. Bộ phận sinh dục được khám phát hiện các dị thường, dấu hiệu suy sinh dục và các dải hoặc mảng xơ (bệnh xơ hóa vật hang). Rối loạn chức năng thần kinh biểu hiện giảm trương lực cơ thắt hậu môn, giảm cảm giác tầng sinh môn, hoặc phản xạ hành hang bất thường. Rối loạn chức năng mạch máu biểu hiện mạch ngoại vi nhỏ.

Nguyên nhân tâm lý nên được nghi ngờ ở những người đàn ông trẻ khỏe mạnh khới phát đột ngột RLCD, đặc biệt nếu khởi phát có liên quan đến một biến cố cảm xúc cụ thể hoặc nếu rối loạn xảy ra chỉ ở một số tình huống nhất định. Tiền sử bị RLCD nhưng tự cải thiện cũng cho thấy nguồn gốc tâm lý (RLCD do tâm lý). Nam giới với RLCD do tâm lý thường có cương dương vào ban đêm sau khi thức dậy vào buổi sáng bình thường, trong khi nam giới có RLCD do thực thể thì không.

Bảng
icon

Các thuốc được sử dụng có thể gây ra rối loạn cương dương

Loại

Thuốc

Hạ huyết áp

Thuốc chẹn beta, clonidin, thuốc lợi tiểu quai (có thể), spironolactone, thuốc lợi tiểu thiazid

Thuốc tác động lên thần kinh trung ương

Rượu, thuốc giảm lo âu, cocaine, chất ức chế monoamine oxidase (MAO), opioid, thuốc ức chế tái hấp thu serotonin chọn lọc, thuốc chống trầm cảm ba vòng

Thuốc khác

Amphetamines, thuốc ức chế 5-alpha-reductase, thuốc kháng androgen, thuốc hóa trị ung thư, thuốc kháng cholinergic, cimetidin, estrogens, chất chủ vận và đối kháng hormone LH-RH

Xét nghiệm

Xét nghiệm nên bao gồm đo nồng độ testosterone vào buổi sáng; nếu ở mức thấp hoặc bình thường - thấp, prolactin và hoocmon luteinizing (LH) nên được định lượng. Đánh giá bệnh đái tháo đường, rối loạn lipid máu, cường prolactin, bệnh tuyến giáp và hội chứng Cushing cần được thực hiện dựa trên nghi ngờ lâm sàng.

Đánh giá hệ mạch máu của dương vật bằng siêu âm duplex sau khi tiêm nội hang hỗn hợp thuốc giãn mạch gồm prostaglandin E1, papaverine, và phentolamine ( thuốc thương mại có sẵn dạng kết hợp). Các giá trị bình thường bao gồm vận tốc dòng chảy đỉnh tâm thu > 25 cm / giây và chỉ số kháng trở > 0,8. Chỉ số kháng trở là tỉ lệ giữa vận tốc đỉnh tâm thu và vận tốc cuối tâm trương. Đôi khi, một số bệnh nhân được xem xét phẫu thuật phục hồi mạch máu dương vật sau chấn thương vùng chậu, chụp động mạch chậu, chụp vật hang (giúp xác định vị trí rò rỉ tĩnh mạch) và có thể đo thể hang ký (giúp xác định mức độ rò rỉ tĩnh mạch). Cương dương vật khi ngủ sâu hay gặp ở nam giới khỏe mạnh. Sự cương dương này được đo bằng cách theo dõi sự cương cứng về đêm, có thể giúp phân biệt giữa nguyên nhân thực thể và tâm lý của rối loạn cương dương. Tuy nhiên, việc sử dụng hiện tại của các dụng cụ này chủ yếu là trong nghiên cứu y khoa.

Điều trị

  • Điều trị các nguyên nhân cơ bản

  • Thuốc, thường là thuốc ức chế phosphodiesterase đường uống (xem Bảng: Thuốc ức chế PDE-5 đường uống điều trị rối loạn cương dương)

  • Thiết bị cương cứng hút chân không hoặc prostaglandin E1 tiêm nội hang hoặc đặt niệu đạo (Điều trị bậc 2)

  • Nếu các phương pháp điều trị khác thất bại, có thể xem xét chỉ định phẫu thuật thay vật hang nhân tạo.

Cần điều trị các bệnh lý nền (ví dụ bệnh đái tháo đường, u tuyến yên tiết prolactin, suy sinh dục, bệnh peyronie - bệnh xơ hóa vật hang). Các loại thuốc có liên quan tạm thời đến sự khởi phát của RLCD cần được ngưng hoặc thay thế. Cần điều trị trầm cảm. Đối với tất cả bệnh nhân, các biện pháp tâm lý giúp bệnh nhân yên tâm và giáo dục bệnh nhân (bao gồm cả bạn tình của bệnh nhân) rất quan trọng.

Thêm vào đó, lựa chọn đầu tay là một thuốc ức chế phosphodiesterase đường uống. Nếu cần thiết, một phương pháp không xâm lấn khác có thể được chỉ định chẳng hạn như thiết bị cương dương hút chân không hoặc prostagandin E1 đặt niệu đạo hoặc tiêm nội hang. Các phương pháp điều trị xâm lấn chỉ được sử dụng khi các phương pháp không xâm lấn thất bại. Tất cả các loại thuốc và thiết bị cần được thử 5 lần trước khi được coi là không có hiệu quả.

Thuốc điều trị rối loạn cương dương

Điều trị đầu tay trong RLCD thường là một thuốc ức chế phosphodiesterase đường uống. Các thuốc khác được sử dụng bao gồm prostaglandin E1 tiêm nội hang hoặc đặt niệu đạo. Tuy nhiên, vì hầu hết các bệnh nhân đều muốn dùng thuốc uống, thuốc uống được chỉ định trừ khi có chống chỉ định hoặc không dung nạp.

Thuốc ức chế phosphodiesterase đường uống ức chế có chọn lọc guanosine monophosphate vòng (cGMP)-đặc biệt là phosphodiesterase type 5 (PDE5), chất đồng phân phosphodiesterase chủ yếu trong dương vật. Những loại thuốc này bao gồm sildenafil, vardenafil, avanafiltadalafil (xem Bảng: Thuốc ức chế PDE-5 đường uống điều trị rối loạn cương dương). Thuốc có tác dụng làm cho cương cứng bình thường thông qua cơ chế ngăn ngừa sự thủy phân của cGMP, các thuốc này điều khiển sự giãn cơ trơn phụ thuộc cGMP. Mặc dù vardenafiltadalafil có tính chọn lọc hơn đối với hệ mạch dương vật so với sildenafil, nhưng đáp ứng lâm sàng và tác dụng phụ của các thuốc này cũng tương tự nhau. Trong các thử nghiệm lâm sàng so sánh, các thuốc này cho thấy hiệu quả tương đương (60 đến 75%).

Bảng
icon

Thuốc ức chế PDE-5 đường uống điều trị rối loạn cương dương

Thuốc

Liều *

Thời gian khởi phát tác dụng

Bình luận

Avanafil

50, 100 hoặc 200 mg

30 phút

Có thể uống 15 phút trước khi giao hợp

Sildenafil

Khởi đầu: 50 mg

Duy trì: 25-100 mg (hầu hết đàn ông đáp ứng tốt với 100 mg)

60 phút

Thời gian tác dụng: ≈ 4 h

Tadalafil

10-20 mg

60 phút

Thời gian tác dụng: 24-36 giờ

Tadalafil, liều thấp

2,5-5 mg

60 phút

Để dùng hàng ngày, uống vào cùng một thời điểm mỗi ngày, không liên quan đến thời gian hoạt động tình dục

Liều dùng hàng ngày có thể cho những bệnh nhân cần điều trị phì đại lành tính tuyến tiền liệt

Vardenafil

10-20 mg

60 phút

Thời gian tác dụng: ≈ 4 h

Vardenafil, dạng tan trong miệng

10 mg

30 phút

Có thể uống trước khi giao hợp 30 phút

* Các chất ức chế PDE5 nên được uống vào lúc dạ dày rỗng trong ít nhất 1 giờ trước khi quan hệ tình dục trừ khi được lưu ý. Tần suất tối đa là một lần / ngày trừ khi có ghi chú khác.

PDE5 = phosphodiesterase loại 5.

Tất cả các thuốc ức chế PDE5 gây giãn mạch vành trực tiếp làm tăng tác dụng hạ huyết áp của nitrat khác, kể cả những thuốc dùng để điều trị bệnh mạch vành cũng như amyl nitrat dạng hít ("poppers"). Do đó, việc sử dụng đồng thời nitrat và chất ức chế PED5 có thể gây nguy hiểm và nên tránh. Cần thảo luận về những nguy cơ, sự lựa chọn và thời gian thích hợp để sử dụng thuốc ức chế PDE5 với bác sĩ tim mạch ở những bệnh nhân chỉ thỉnh thoảng sử dụng nitrat (ví dụ như cơn đau thắt ngực không thường xuyên ).

Tác dụng ngoại ý của thuốc ức chế PDE5 bao gồm đỏ bừng mặt, bất thường thị giác, mất thính lực, rối loạn tiêu hóa và nhức đầu. Sildenafilvardenafil có thể gây ra sự nhận thức màu sắc bất thường (lóe xanh). Sử dụng Tadalafil có mối liên quan với chứng đau cơ. Hiếm gặp, bệnh lý thị thần kinh thiếu máu (NAION) liên quan đến việc sử dụng thuốc ức chế PDE5, nhưng mối quan hệ nhân quả này vẫn chưa được chứng minh. Do có nguy cơ hạ huyết áp nên tất cả các thuốc ức chế PDE5 cần được sử dụng cẩn thận và ở những liều lượng ban đầu thấp hơn cho những bệnh nhân dùng thuốc chẹn alpha (ví dụ, prazosin, terazosin, doxazosin, tamsulosin). Bệnh nhân dùng thuốc chẹn alpha nên đợi ít nhất 4 giờ trước khi dùng thuốc ức chế PDE5. Hiếm khi, chất ức chế PDE5 gây ra hiện tượng cương đau dương vật.

Alprostadil (prostaglandin E1), tự sử dụng bằng tiêm nội hang hoặc đặt niệu đạo, có thể đạt được sự cương cứng với thời gian trung bình là 30 đến 60 phút. Để tăng hiệu quả điều trị có thể phối hợp alprostadil tiêm nội hang với papaverinephentolamine. Liều dùng quá mức có thể gây ra cương đau dương vật 1% bệnh nhân và đau bộ phận sinh dục hoặc xương chậu khoảng 10%. Bác sĩ cần hướng dẫn và theo dõi để giúp bệnh nhân đạt được mục đích sử dụng tối ưu và an toàn, bao gồm giảm thiểu nguy cơ cương cứng kéo dài. Thuốc đặt niệu đạo có ít hiệu quả hơn trong việc tạo ra sự cương cứng thỏa đáng (lên tới 60% nam giới) so với tiêm nội hang (lên tới 90%). Đối với một số bệnh nhân không đáp ứng với điều trị đơn độc thuốc ức chế PDE5 cần xem xét chỉ định liệu pháp kết hợp giữa thuốc ức chế PDE5 và alprostadil đặt niệu đạo.

Thiết bị cơ học điều trị rối loạn cương dương

Những người đàn ông có thể đạt được nhưng không duy trì được sự cương cứng có thể sử dụng một vòng đai co thắt để giúp duy trì sự cương dương; một vòng đàn hồi được đặt xung quanh gốc của dương vật cương cứng, ngăn ngừa sự xìu xuống sớm. Những người đàn ông không thể đạt được sự cương cứng có thể sử dụng một thiết bị hút chân không kéo máu vào dương vật qua hoạt động hút, sau đó một vòng đàn hồi được đặt tại gốc của dương vật để duy trì sự cương cứng. Một số nhược điểm của phương pháp này là dương vật bị bầm tím, lạnh đầu dương vật và sự thiếu tự nhiên. Nếu cần các dụng cụ này cũng có thể được kết hợp với thuốc.

Phẫu thuật điều trị rối loạn cương dương

Nếu thuốc và thiết bị chân không thất bại có thể xem xét chỉ định phẫu thuật cấy ghép một bộ phận dương vật giả. Bộ phận cấy ghép giả bao gồm các thanh silicone bán cứng và các thiết bị gồm nhiều thành phần có thể bơm phồng bằng nước muối. Cả hai mẫu này đều có nguy cơ chung của gây tê, nhiễm trùng và sự đào thải vật ghép hoặc trục trặc bộ phận cấy ghép giả. Với các bác sĩ phẫu thuật có kinh nghiệm, tỷ lệ nhiễm trùng kéo dài hoặc trục trặc của bộ phận cấy ghép giả là dưới 5% và tỷ lệ bệnh nhân và đối tác hài lòng là> 95%. Ưu điểm của việc cấy ghép dương vật giả bằng phẫu thuật là rõ ràng: cương cứng được tạo ra ngay lập tức và tự nhiên, sự cương cứng kéo dài cho đến khi bệnh nhân làm xẹp thiết bị của mình và hoạt động tình dục có thể diễn ra thường xuyên như mong muốn của cặp vợ chồng. Vì vậy khi so sánh mức độ hài lòng giữa tất cả các phương pháp điều trị, cấy ghép dương vật giả có tỷ lệ hài lòng cao nhất.

Những điểm chính

  • Các rối loạn về mạch máu, thần kinh, tâm lý, hoóc môn và đôi khi việc sử dụng thuốc có thể ảnh hưởng đến sự cương cứng dương vật.

  • Đánh giá tất cả nam giới có RLCD về hoóc môn, thần kinh, mạch máu và trầm cảm.

  • Đo nồng độ testosterone và xem xét các xét nghiệm khác dựa trên các triệu chứng lâm sàng.

  • Điều trị các bệnh lý nền và sử dụng thuốc ức chế PDE5 đường uống nếu cần.

  • Nếu các biện pháp đó không có hiệu quả, hãy xem xét dùng prostaglandin E1 tiêm nội hang hoặc đặt niệu đạo hoặc sử dụng thiết bị hút chân không; biện pháp cuối cùng là xem xét chỉ định phẫu thuật cấy ghép dương vật giả..

Các chuyên gia đọc thêm

Cũng quan tâm

Các video

Xem tất cả
Cách đặt ống thông niệu đạo ở phụ nữ
Video
Cách đặt ống thông niệu đạo ở phụ nữ
Các mô hình 3D
Xem tất cả
Hệ thống Sinh sản Nam giới
Mô hình 3D
Hệ thống Sinh sản Nam giới

TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI

TRÊN CÙNG