MSD Manual

Hãy xác nhận rằng quý vị là chuyên gia chăm sóc sức khỏe

honeypot link

Tổng quan về bệnh cầu thận

Theo

Navin Jaipaul

, MD, MHS, Loma Linda University School of Medicine

Xem lại/Duyệt lại toàn bộ lần cuối Thg1 2018| Sửa đổi nội dung lần cuối cùng Thg1 2018
Nguồn chủ đề

Dấu hiệu đặc trưng của bệnh cầu thận là protein niệu, thường ở mức thận hư (≥ 3 g / ngày).

Bệnh cầu thận được phân loại dựa trên những bất thường trên xét nghiệm nước tiểu biểu hiện chủ yếu với

  • Protein niệu ngưỡng thận hư và biểu hiện cặn niệu trong hội chứng thận hư (trụ mỡ, thể mỡ hình ovan nhưng ít tế bào hoặc trụ tế bào)

  • Đái máu, thường kết hợp với protein niệu (có thể ở ngưỡng thân hư); các hồng cầu niệu thường biến dạng và thường có trụ hồng cầu hoặc trụ tế bào kết hợp (biểu hiện cặn nước tiểu trong hội chứng viêm thận)

Hội chứng thận hư có biểu hiện cặn nước tiểu trong hội chứng thận hư cùng với phù và giảm albumin máu (điển hình có tăng cholesterol máu và tăng triglycerid máu).

Hội chứng viêm thận có biểu hiện cặn nước tiểu trong hội chứng viêm cầu thận có hoặc không có tăng huyết áp, tăng creatinin huyết thanh và thiểu niệu kèm theo.

Một số bệnh cầu thận thường biểu hiện với các triệu chứng của cả hội chứng viêm thận và hội chứng thận hư. Gồm một số bệnh lý như bệnh cầu thận tơ huyết miễn dịch, viêm cầu thận màng tăng sinh (GN) và viêm thận lupus.

Sinh lý bệnh của tổn thương viêm thận và hội chứng thận hư có sự khác biệt đáng kể, nhưng có những biểu hiện lâm sàng tương đồng đáng kể - ví dụ như một vài tổn thương có thể biểu hiện với những dấu hiệu lâm sàng giống nhau - và sự xuất hiện của đái máu hay protein niệu không đủ để tiên đoán đáp ứng với điều trị hoặc tiên lượng bệnh.

Các tổn thương có xu hướng biểu hiện ở các độ tuổi khác nhau (xem Bảng: Các tổn thương cầu thận phân loại theo tuổi và triệu chứng) mặc dù có nhiều trùng lặp. Các tổn thương có thể là

Bảng
icon

Các tổn thương cầu thận phân loại theo tuổi và triệu chứng

Tuổi (năm)

Hội chứng viêm thận

Hội chứng thận hư

Hội chứng thận hư kết hợp viêm thận

< 15

Viêm cầu thận sau nhiễm trùng nhẹ

Viêm thận lupus (dưới type bệnh cầu thận màng)

Viêm thận lupus

15–40

Bệnh thận IgA

Bệnh màng đáy mỏng

Viêm thận lupus

Viêm thận di truyền

Viêm cầu thận tiến triển nhanh

Viêm cầu thận sau nhiễm trùng

Xơ hóa cầu thận ổ cục bộ

Viêm thận lupus (dưới type bệnh cầu thận màng)

Bệnh cầu thận thay đổi tối thiểu

Viêm cầu thận sau nhiễm trùng muộn

Viêm cầu thận màng tăng sinh

Bệnh thận IgA

Viêm thận lupus

Viêm cầu thận tiến triển nhanh

> 40

Bệnh thận IgA

Viêm cầu thận tiến triển nhanh

Viêm cầu thận sau nhiễm trùng

Bệnh thận màng

Bệnh thận đái tháo đường

Bệnh thận IgA

Bệnh lắng đọng chuỗi nhẹ

Viêm cầu thận sau nhiễm trùng muộn

Bệnh thận IgA

Viêm cầu thận tơ huyết miễn dịch

Viêm cầu thận tiến triển nhanh

* Thường biểu hiện như hội chứng thận hư.

GN = viêm cầu thận; PIGN = viêm cầu thận sau nhiễm trùng; RPGN = viêm cầu thận tiến triển nhanh.

Trích từ Rose BD: Pathophysiology of Renal Disease, ed. 2. New York, McGraw-Hill, 1987, tr. 167.

Chẩn đoán

  • Nồng độ creatinine huyết thanh và xét nghiệm nước tiểu

Bệnh cầu thận thường được nghĩ đến khi xét nghiệm sàng lọc hoặc chẩn đoán có tăng nồng độ creatinine huyết thanh và xét nghiệm nước tiểu bất thường (đái máu có hoặc không có trụ niệu, protein niệu hoặc cả hai). Cách tiếp cận bệnh nhân bao gồm việc phân biệt giữa các triệu chứng của hội chứng viêm thận và hội chứng thận hư và xác định các nguyên nhân có thể theo tuổi bệnh nhân, bệnh kèm theo (xem Bảng: Các tổn thương cầu thận phân loại theo tuổi và triệu chứng và xem Bảng: Nguyên nhân của hội chứng thận hư) các yếu tố tiền sử (ví dụ thời gian bị bệnh, biểu hiện toàn thân, tiền sử gia đình).

Sinh thiết thận được chỉ định khi bệnh nhân chưa có tiền sử bị bệnh rõ ràng hoặc khi kết quả mô bệnh học ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương pháp điều trị và kết quả điều trị (ví dụ viêm thận lupus).

Các chuyên gia đọc thêm

Cũng quan tâm

TRÊN CÙNG