MSD Manual

Hãy xác nhận rằng quý vị là chuyên gia chăm sóc sức khỏe

honeypot link

Bệnh túi thừa của dạ dày và ruột non

Theo

Joel A. Baum

, MD, Icahn School of Medicine at Mount Sinai;


Rafael Antonio Ching Companioni

, MD, Digestive Diseases Center

Xem lại/Duyệt lại toàn bộ lần cuối Thg6 2017| Sửa đổi nội dung lần cuối cùng Thg7 2017

Túi thừa là những túi niêm mạc nhô ra từ cấu trúc ống (xem thêm Định nghĩa của bệnh túi thừa).

Túi thừa hiếm khi ở dạ dày nhưng có ở tá tràng với tới 25% số người. Hầu hết các túi thừa tá tràng đều đơn độc và xuất hiện ở phần thứ hai của tá tràng tiếp giáp hoặc có liên quan đến bóng Vater (periampullary). Trong phần còn lại của ruột non (hỗng tràng và hồi tràng), túi thừa xuất hiện ở 5% bệnh nhân, xảy ra phổ biến nhất ở ruột thừa, và phổ biến hơn cả ở những bệnh nhân có rối loạn nhu động ruột. Túi thừa Meckel xuất hiện ở phần giữa đến phần xa hồi tràng.

Hầu hết các túi thừa của dạ dày và ruột non đều không có triệu chứng và được phát hiện tình cờ. Các biến chứng của túi thừa bao gồm xuất huyết, thủng, và tiêu chảy với kém hấp thu là kết quả từ sự phát triển quá mức của vi khuẩn. Túi thừa không triệu chứng không cần điều trị. Cần thận trọng khi đề nghị phẫu thuật cho bệnh nhân có túi thừa và các triệu chứng tiêu hóa không rõ ràng (vd., chứng khó tiêu) bởi vì túi thừa có thể không phải là nguyên nhân của các triệu chứng.

Túi thừa dạ dày

Túi thừa dạ dày thường được phát hiện ngẫu nhiên trong quá trình nội soi hoặc chẩn đoán hình ảnh (ví dụ, chụp cản quang đường tiêu hóa cao, CT với độ tương phản). Vị trí hay gặp là phần gần của dạ dày dọc theo bờ cong lớn. Kích thước của túi thừa có đường kính từ 1 đến 3 cm. Túi thừa dạ dày được tạo thành bởi niêm mạc dạ dày nhô ra thông qua lớp cơ nhưng không xuyên qua toàn bộ thành dạ dày (có lẽ do độ dày của các lớp cơ trong dạ dày) và do đó được gọi là túi thừa trong vách hoặc túi thừa không toàn bộ.

Túi thừa dạ dày thường không có triệu chứng, nhưng một số bệnh nhân miêu tả một cảm giác mơ hồ về đầy bụng và khó tiêu. Các biến chứng như chảy máu, thủng và ung thư là không thường gặp.

Không cần điều trị đặc hiệu đối với một trường hợp túi thừa không triệu chứng; xử trí phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng. Một số nghiên cứu đã báo cáo rằng sử dụng thuốc ức chế bơm proton trong vài tuần có thể làm giảm chứng khó tiêu. Tuy nhiên, các dữ liệu khác cho thấy các triệu chứng có thể không phản ứng với thuốc ức chế bơm proton hoặc chẹn H2.

Túi thừa tá tràng

Túi thừa tá tràng có thể là

  • Ngoài lòng ruột (nhô ra bên ngoài thành tá tràng)

  • Trong lòng ruột(nhô ra vào trong lòng tá tràng)

Túi thừa ngoài lòng ruột tá tràng là phổ biến và được thấy ở khoảng 25% bệnh nhân> 50 tuổi trải qua ERCP; chúng ở xung quanh bóng vater gặp ở ba phần tư những bệnh nhân này. Một túi thừa phát sinh trong vòng 2 đến 3 cm quanh bóng vater được gọi là túi thừa gần nhú tá tràng. Bệnh nhân không có triệu chứng hoặc than phiền về các triệu chứng bụng không đặc hiệu.

Các biến chứng của túi thừa ngoài lòng ruột bao gồm: xuất huyết, viêm túi thừa, và thủng. Tiêu chảy và rối loạn hấp thu do vi khuẩn phát triển quá mức có thể xảy ra nếu có nhiều túi thừa cùng xuất hiện. Tắc nghẽn tá tràng là rất hiếm. Túi thừa gần nhú tá tràng có thể gây ra các biến chứng như viêm đường mật, viêm tụy tái phát, sỏi ống mật chủ (thậm chí sau khi cắt bỏ túi mật) và rối loạn chức năng cơ thắt Oddi.

Túi thừa trong lòng ruột hoặc túi thừa kiểu ống gió là các túi thừa xuất hiện hoàn toàn trong lòng ruột. Chúng rất hiếm và có sự phát triển bất thường dẫn đến tạo thành màng chắn hoặc màng lưới bắt ngang lòng ruột. Qua thời gian, nhu động ruột kéo màng lưới và thành ruột vào 1 bao và dính vào lòng ruột. Thành ruột được lồng vào bao sau đó tạo thành một túi thừa trong lòng ruột. Túi thừa trong lòng ruột điển hình xuất hiện ở đoạn thứ hai của tá tràng, đa số xảy ra gần nhú bóng Vater. Chúng có thể bao gồm toàn bộ chu vi hoặc chỉ là một phần của thành tá tràng và có thể phát triển ra xa như phần thứ tư của tá tràng. Thường có một khe hở thứ hai nằm bất thường trong túi thừa. Chúng thường không có triệu chứng, nhưng một số bệnh nhân bị tắc nghẽn không hoàn toàn tá tràng, thủng hoặc xuất huyết.

Các túi thừa này có thể được chẩn đoán bằng chụp cản quang đường tiêu hóa trên, nhưng CT kết hợp với uống thuốc cản quang và nội soi đường tiêu hóa trên cũng có thể được chỉ định. Trong khi nội soi, một túi thừa có thể được nhận định sai là tá tràng hoặc polyp lớn. Lựa chọn điều trị là phẫu thuật cắt bỏ khi tắc nghẽn hoặc chảy máu xảy ra. Có một vài trường hợp báo cáo về điều trị nội soi thành công nơi mà các túi thừa được phá bỏ để ngăn chặn thức ăn mắc lại.

Túi thừa hỗng và hồi tràng

Các túi thừa ruột non này xuất hiện ở khoảng 5% dân số và có thể phát triển trong hỗng tràng (80%), hồi tràng (15%), hoặc cả hai (5%). Chúng thường có nhiều, và kích thước của chúng chỉ từ vài milimet đến 10 cm chiều dài. Túi thừa ruột non thiếu một lớp cơ thật và thường nằm trên bờ mạc treo ruột. Những túi thừa này có thể nguyên nhân do rối loạn nhu động ruột.

Nhiều bệnh nhân không triệu chứng hoặc báo cáo các triệu chứng không đặc hiệu như đau bụng tái diễn, nhanh no, đầy bụng, sôi bụng nhiều và tiêu chảy dai dẳng. Các biến chứng bao gồm chảy máu, viêm túi thừa và thủng. Một số bệnh nhân có vi khuẩn đường ruột phát triển quá mức dẫn tới rối loạn hấp thu hoặc tắc ruột do xoắn ruột non.

Túi thừa ruột non thường được chẩn đoán bằng chụp cản quang ruột non, CT đường tiêu hóa, hoặc nội soi viên nang.

Quản lý chặt chẽ thường được khuyến cáo cho bệnh nhân không có triệu chứng. Kháng sinh có thể được kê cho hội chứng loạn khuẩn. Phẫu thuật có thể là cần thiết ở bệnh nhân có thủng hoặc viêm túi thừa. Phẫu thuật thường tránh ở những bệnh nhân bị tắc ruột mạn tính.

Những điểm chính

  • Túi thừa hiếm khi xuất hiện ở dạ dày nhưng thường gặp ở tá tràng và ruột non.

  • Hầu hết các túi thừa không có triệu chứng và được phát hiện tình cờ.

  • Các biến chứng bao gồm chảy máu, thủng, và rối loạn hấp thu do rối loạn vi khuẩn đường ruột.

  • Túi thừa không triệu chứng không cần điều trị.

  • Hãy thận trọng khi đề nghị phẫu thuật cho bệnh nhân có túi thừa và các triệu chứng tiêu hóa không rõ ràng (ví dụ, chứng khó tiêu).

Các chuyên gia đọc thêm

Cũng quan tâm

TRÊN CÙNG