MSD Manual

Hãy xác nhận rằng quý vị là chuyên gia chăm sóc sức khỏe

Đang tải

Sa sút trí tuệ do mạch

Theo

Juebin Huang

, MD, PhD,

  • Memory Impairment and Neurodegenerative Dementia (MIND) Center, University of Mississippi Medical Center

Xem lại/Duyệt lại toàn bộ lần cuối Thg2 2016| Sửa đổi nội dung lần cuối cùng Thg3 2016
Nguồn chủ đề

Sa sút trí tuệ do mạch là sự suy giảm nhận thức cấp tính hoặc mạn tính do nhồi máu não lan tỏa hoặc khu trú, thường là liên quan đến bệnh mạch não.

Sa sút trí tuệ là sự suy giảm của nhận thức mạn tính, toàn bộ, thường không thể đảo ngược . sa sút trí tuệ do mạch là nguyên nhân thường gặp thứ hai của sa sút trí tuệ ở người cao tuổi. Nó phổ biến hơn ở nam giới và thường bắt đầu sau tuổi 70. Nó xảy ra thường xuyên hơn ở những người có các yếu tố nguy cơ mạch máu (ví dụ tăng huyết áp, đái tháo đường, tăng lipid máu, hút thuốc) và ở những người đã từng bị đột quỵ vài lần Nhiều người bị cả sa sút trí tuệ do mạch và Bệnh Alzheimer.

Không nên nhầm sa sú trí tuệ với mê sảng mặc dù nhận thức bị rối loạn trong cả hai. Những điều sau giúp phân biệt chúng:

  • sa sút trí tuệ ảnh hưởng chủ yếu đến trí nhớ, điển hình là do sự thay đổi giải phẫu trong não, khởi phát chậm hơn, và thường không thể đảo ngược được.

  • Mê sảng ảnh hưởng chủ yếu đến sự chú ý, điển hình là do bệnh cấp tính hoặc độc tính của thuốc (đôi khi đe doạ đến tính mạng), và thường có thể đảo ngược được.

Các đặc điểm đặc trưng khác cũng giúp phân biệt 2 rối loạn (xem Bảng: Phân biệt giữa sảng và sa sút trí tuệ *).

Nguyên nhân

Sa sút trí tuệ do mạch thường xảy ra khi nhiều ổ nhồi máu não nhỏ (hoặc đôi khi xuất huyết) gây ra mất tế bào thần kinh hoặc sợi trục đủ nhiều để làm giảm chức năng của não.

Sa sút trí tuệ do mạch bao gồm các loại sau:

  • Nhồi máu ổ khuyết đa ổ: Các mạch máu nhỏ bị ảnh hưởng. Nhồi máu ổ khuyết đa ổ xảy ra sâu trong chất trắng và chất xám của bán cầu.

  • Sa sút trí tuệ do nhồi máu nhiều lần: Các mạch máu trung bình bị ảnh hưởng.

  • Sa sút trí tuệ do nhồi máu một ổ ở vị trí chiến lược : Một ổ nhồi máu xảy ra tại một khu vực quan trọng của não (ví dụ, hồi góc, đồi thị).

  • Sa sú trí tuệ do bệnh Binswanger (bệnh não do xơ vữa động mạch dưới vỏ): Biến thể hiếm gặp của chứng sa sút trí tuệ do tổn thương mạch nhỏ có liên quan đến tăng huyết áp nặng, kém được kiểm soát và bệnh mạch máu toàn thân. Nó gây ra tổn thương lan tỏa và không đều các sợi trục và myelin với sự tăng sinh tế bào thần kinh đệm lan rộng, mất nhu mô do nhồi máu, hoặc mất nguồn cấp máu do chất trắng của não.

Triệu chứng và Dấu hiệu

Triệu chứng và dấu hiệu của sa sút trí tuệ do mạch cũng tương tự như các triệu chứng của các hội chứng sa sút trí tuệ khác (ví dụ như mất trí nhớ, suy giảm chức năng điều hành, khó khởi động hoặc bắt đầu công việc khó khăn, tư duy chậm chạp, thay đổi tính cách và khí sắc, rối loạn ngôn ngữ). Tuy nhiên, so với bệnh Alzheimer, sa sút trí tuệ do mạch có khuynh hướng làm mất trí nhớ muộn hơn và ảnh hưởng đến chức năng điều hành sớm hơn. Ngoài ra, các triệu chứng có thể khác nhau tùy thuộc vào nơi xảy ra các ổ nhồi máu.

Không giống như các hội chứng sa sút trí tuệ khác, sa sút trí tuệ do nhồi máu nhiều lần có xu hướng tiến triển theo các bước không liên tục; mỗi đợt đi kèm với suy giảm trí tuệ, đôi khi tiếp nối bằng một giai đoạn phục hồi khiêm tốn. Sa sút trí tuệ do mạch dưới vỏ do tổn thương các mạch máu nhỏ (bao gồm nhồi máu ở khuyết đa ổ và sa sút trí tuệ do bệnh Binswanger) có khuynh hướng gây ra thiếu sót nhẹ, kín đáo; do đó, sự suy giảm biểu hiện tăng dần.

Khi bệnh tiến triển,các thiếu sót thần kinh khu trú thường phát triển:

  • Tăng phản xạ gân xương

  • Dáu hiệu duỗi ngón cái khi làm ohanr xạ da gan bàn chân

  • Dáng đi bất thường

  • Yếu cơ một chi

  • Liệt nửa người

  • Liệt giả hành tủy với biểu hiện cười và khóc bệnh lý

  • Các dấu hiệu khác của rối loạn chức năng ngoại tháp

  • Thất ngôn

Mất nhận thức có thể khu trú Ví dụ, trí nhớ ngắn hạn có thể ít bị ảnh hưởng hơn so với các hội chứng sa sút trí tuệ khác. Vì tổn thương có thể khu trú, bệnh nhân có thể còn giữ lại nhiều khía cạnh của chức năng tâm thần. Do đó, họ có thể nhận thức rõ hơn về các thiếu sót của mình, do vậy, trầm cảm có thể phổ biến hơn so với các hội chứng sa sút trí tuệ khác.

Chẩn đoán

  • Nói chung, giống như chẩn đoán các hội chứng sa sút trí tuệ khác

  • Chẩn đoán hình ảnh thần kinh

Chẩn đoán bệnh nhân sa sút trí tuệ do mạch cũng tương tự như các hội chứng sa sút trí tuệ khác (xem Sa sút trí tuệ : Chẩn đoán). Nói chung chẩn đoán bệnh sa sút trí tuệ đòi hỏi tất cả những điều sau đây:

  • Các triệu chứng nhận thức hoặc hành vi (neuropsychiatric) ảnh hưởng đến khả năng làm việc hoặc thực hiện các hoạt động hàng ngày thông thường.

  • Các triệu chứng này biểu hiện sự suy giảm so với các mức độ hoạt động trước đó.

  • Những triệu chứng này không do mê sảng hoặc rối loạn tâm thần.

Đánh giá chức năng nhận thức bao gồm khai thác bệnh sử từ bệnh nhân và từ một người biết bệnh nhân cộng với việc kiểm tra tình trạng tâm thần tại giường hoặc , nếu thăm khám tại giường không kết luận được, cần làm trắc nghiệm thần kinh tâm lý kỹ lưỡng (xem Sa sút trí tuệ : Đánh giá chức năng nhận thức).

Sự khác biệt của sa sút trí tuệ do mạch với các hội chứng sa sút trí tuệ khác dựa trên sự đánh giá lâm sàng. Các yếu tố cho thấy sa sút trí tuệ do mạch (hoặc bệnh Alzheimer kèm theo bệnh mạch não) bao gồm:

  • Bằng chứng của các đợt nhồi máu não

  • Điểm Hachinski cao

  • Các đặc điểm lâm sàng đặc trưng của sa sút trí tuệ mạch máu (ví dụ rối loạn chức năng điều hành nổi trội, mất trí nhớ nhẹ hoặc không có)

Xác nhận chứng sa sút trí do mạch đòi hỏi phải có tiền sử đột quỵ or hoặc bằng chứng về nguyên nhân mạch máu của sa sút trí tuệ được phát hiện trên chẩn đoán hình ảnh thần kinh. Nếu có dấu hiệu thần kinh khu trú hoặc chứng cớ bệnh mạch não, nên thực hiệnđánh giá đột quỵ đầy đủ

Chụp CLVT và CHT có thể cho thấy nhiều ổ nhồi máu ở bán cầu ưu thế và các cấu trúc của hệ viền, nhiều ổ nhồi máu ổ khuyết hoặc các tổn thương trắng xung quanh não thất mở rộng vào trong vùng chất trắng ở sâu. Trong sa sút trí tuệ do bệnh Binswanger, chẩn đoán hình ảnh cho thấy bệnh thiếu máu não ở vùng bán bầu dục của bán cầu, gần vỏ não, thường có nhiều ổ khuyết, ảnh hưởng đến các cấu trúc sâu trong chất xám (ví dụ, hạch nền, nhân đồi thị).

Điểm thang Hachinski đôi khi được sử dụng để giúp phân biệt sa sút trí tuệ do mạch với bệnh Alzheimer (xem Bảng: Thang điểm nhồi máu Hachinski Sửa đổi).

Bảng
icon

Thang điểm nhồi máu Hachinski Sửa đổi

Đặc tính

Điểm *

Đột ngột xuất hiện triệu chứng

2

Sự suy giảm theo từng bước (ví dụ, suy giảm-ổn định-suy giảm)

1

tiến triển bệnh dao động

2

Lú lẫn ban đêm

1

Nhân cách tương đối được bảo tồn

1

Trầm cảm

1

Các triệu chứng cơ thể (ví dụ, đau người, đau ngực)

1

Khi sắc không ổn định

1

Tiền sử hoặc hiện có tăng huyết áp

1

Tiền sử đột quỵ

2

Bằng chứng xơ vữa động mạch cùng tồn tại (ví dụ, PAD, MI)

1

Các triệu chứng thần kinh khu trú (ví dụ,liệt nửa người, bán manh đồng danh, thất ngôn)

2

Các dấu hiệu thần kinh khu trú (ví dụ, yếu cơ một bên, mất cảm giác, phản xạ mất cân xứng, dấu Babinski)

2

* Tổng số điểm được xác định:

  • <4 gợi ý sa sút trí tuệ nguyên phát (ví dụ bệnh Alzheimer).

  • 4-7 là không xác định.

  • > 7 gợi ý sa sút trí tuệ do mạch.

PAD = bệnh động mạch ngoại vi.

Tiên lượng

Tỉ lệ tử vong 5 năm là 61%, cao hơn so với hầu hết các thể sa sút trí tuệ, có lẽ vì các rối loạn xơ vữa động mạch khác cùng tồn tại.

Điều trị

  • Các biện pháp an toàn và hỗ trợ

  • Quản lý các yếu tố nguy cơ mạch, bao gồm ngừng hút thuốc lá

Các biện pháp an toàn và hỗ trợ cũng tương tự như những hội chứng sa sút trí tuệ khác. Ví dụ, môi trường nên đủ sáng, vui vẻ, và quen thuộc, và cần được thiết kế để củng cố định hướng (ví dụ, đặt đồng hồ lớn và lịch trong phòng). Cần thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn bệnh nhân (ví dụ hệ thống giám sát tín hiệu cho bệnh nhân lang thang).

Triệu chứng gây rối loạn nhiều có thể được điều trị.

Quản lý các yếu tố nguy cơ mạch máu (ví dụ như tăng huyết áp, đái tháo đường, tăng lipide máu) có thể làm chậm sự tiến triển của sa sút trí tuệ và giúp ngăn ngừa đột quỵ trong tương lai, điều này có thể gây ra suy giảm nhận thức thêm. Việc quản lý bao gồm:

  • Kiểm soát huyết áp

  • Điều trị hạ cholesterol

  • KIểm soát đường huyết tương (90 đến 150 mg / dL)

  • Ngừng hút thuốc

Thuốc, như chất ức chế cholinesterasememantine, có thể hữu ích trong một số hội chứng sa sút trí tuệ Chất ức chế cholinesterase có thể cải thiện chức năng nhận thức. Memantine, một chất đối vận NMDA (N-metyl-d-partate), có thể giúp làm chậm sự mất chức năng nhận thức ở những bệnh nhân mắc chứng sa sút trí tuệtrung bình và nặng và có tác dụng cộng hưởng khi sử dụng cùng với chất ức chế cholinesterase.

Tuy nhiên, hiệu quả của chất ức chế cholinesterase và memantine là không chắc chắn trong sa sút trí tuệ do mạch. Tuy nhiên, có thể thử dùng của các thuốc này vì bệnh nhân cao tuổi mắc chứng sa sút trí tuệ do mạch máu cũng có thể bị bệnh Alzheimer.

Thuốc phối hợp điều trị trầm cảm, rối loạn tâm thần và rối loạn giấc ngủ rất hữu ích.

Những điểm chính

  • Sa sút trí tuệ do mạch có thể xuất hiện theo nhiều đợt không liên tục (có thể giống như sự suy giảm tăng dần) hoặc trong đợt suy nhất.

  • Các dấu hiệu thần kinh khu trú có thể giúp phân biệt chứng sa sút trí tuệ do mạch với các hội chứng sa sút trí tuệ khác.

  • Xác nhận rằng bệnh sa sút trí tuệ là do mạch máu dựa trên tiền sử đột quỵ hoặc các triệu chứng thần kinh gợi ý nguyên nhân mạch máu.

  • Kiểm soát các yếu tố nguy cơ mạch máu, và nếu bệnh Alzheimer cũng có thể xảy ra, hãy dùng thuốc ức chế cholinesterase và memantine.

Các chuyên gia đọc thêm

Cũng quan tâm

TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI

TRÊN CÙNG