MSD Manual

Hãy xác nhận rằng quý vị là chuyên gia chăm sóc sức khỏe

Đang tải

Viêm não

Theo

John E. Greenlee

, MD,

  • University of Utah School of Medicine

Xem lại/Duyệt lại toàn bộ lần cuối Thg1 2017| Sửa đổi nội dung lần cuối cùng Thg1 2017
Nguồn chủ đề

Viêm não là phản ứng viêm trong nhu mô não, do sự xâm nhập trực tiếp của virut . Viêm não tủy rải rác cấp tính là viêm não tủy do phản ứng quá mẫn đối với một virut hoặc một protein ngoại lai khác. Cả hai bệnh lý thường có nguyên nhân bởi vi rút. Triệu chứng bao gồm sốt, đau đầu và tình trạng tinh thần thay đổi, thường đi kèm với co giật hoặc thiếu sót thần kinh khu trú. Chẩn đoán cần phải phân tích DNT và chẩn đoán hình ảnh thần kinh. Điều trị mang tính hỗ trợ và bao gồm cả thuốc kháng vi-rút đối với một số nguyên nhân.

Nguyên nhân

Viêm não thường là biểu hiện nguyên phát hoặc biến chứng miễn dịch thứ phát (sau nhiễm khuẩn) của nhiễm virus.

Nhiễm virut nguyên phát

Vi-rút gây viêm não nguyên phát xâm nhập trực tiếp vào não. Những nhiễm trùng này có thể

  • Thành dịch (ví dụ, do arbovirus, echovirus, coxsackievirus, hoặc poliovirus [ở một số nước kém phát triển])

  • Rải rác (ví dụ, do cytomegalovirus hoặc herpes simplex, varicella-zoster, viêm màng não tăng lympho, bệnh dại, hoặc bệnh quai bị)

Viêm não arbovirus do muỗi lây truyền vào người trong mùa xuân, mùa hè và đầu mùa thu khi thời tiết ấm áp (xem Bảng: Một số viêm não Arbovirus ở Mỹ). Tỷ lệ mắc ở Mỹ dao động từ 150 đến > 4000 trường hợp hàng năm, chủ yếu ở trẻ em. Hầu hết các trường hợp xảy ra trong các vụ dịch .

Bảng
icon

Một số viêm não Arbovirus ở Mỹ

Virus

Phân bố

Tỷ lệ tử vong

Bình luận

Florida, Puerto Rico, Quần đảo Virgin thuộc Hoa Kỳ

Phổ biến ở Châu Phi, Ấn Độ, Guam, Đông Nam Á, New Guinea, Trung Quốc, Mexico, Trung Mỹ Đảo Reunion, các khu vực giới hạn của Châu Âu

Nên được xem xét ở những người du lịch Mỹ đã lây lan viêm não sau khi đến các vùng lưu hành dịch

Có thể dẫn đến viêm não nặng và thậm chí tử vong, đặc biệt ở trẻ sơ sinh và những người> 65

Virus La Crosse (Virus California)

Đầu tiên ở miền bắc Trung Mỹ nhưng lan rộng khắp về mặt địa lý

Xấp xỉ <1%

Có lẽ không được phát hiện thích hợp

Gây ra hầu hết các trường hợp viêm não arbovirus ở trẻ em

Vi-rút viêm não St Louis

Chủ yếu ở miền Trung và miền Đông nước Mỹ

Cho đến năm 1975, xảy ra 10 năm một lần; bây giờ hiếm gặp

Virus West Nile

Trên khắp Hoa Kỳ

Khoảng 9% bệnh nhân có tổn thương thần kinh trung ương

Vào năm 2009, trải dài từ Bờ biển phía Đông, nơi nó xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1999, tới tất cả các bang phía tây

Virus viêm não ngựa phía đông

Đông Hoa Kỳ

Khoảng 50-70%

Xảy ra các đợt dịch nhỏ 10-20 năm một lần, chủ yếu ở trẻ nhỏ và người > 55

Vi-rút viêm não ngựa phương Tây

Vì những lý do không rõ, phần lớn đã biến mất khỏi Mỹ từ năm 1988

Florida

Nam Mỹ, Trung Mỹ, Quần đảo Caribê, Quần đảo Thái Bình Dương, Cape Verde (một quốc gia thuộc các hòn đảo ngoài khơi tây bắc châu Phi), Đông Nam Á

Có thể gây ra bệnh giống sốt xuất huyết và có liên quan đến việc gây ra hội chứng Guillain-Barré, tổn thương não nghiêm trọng và bệnh não nhỏ ở những trẻ nhỏ có mẹ bị nhiễm bệnh

Ở Mỹ, viêm não tản phát thường gặp do herpes simplex vi rút (HSV); vài trăm đến vài nghìn trường hợp xảy ra hàng năm. Hầu hết là do HSV-1, nhưng HSV-2 có thể phổ biến hơn ở những bệnh nhân suy giảm miễn dịch. Viêm não do HSV xuất hiện vào bất kỳ thời điểm nào trong năm, có xu hướng ảnh hưởng đến bệnh nhân < 20 hoặc > 40 năm, và thường gây tử vong nếu không được điều trị.

Bệnh dại vẫn là một nguyên nhân quan trọng gây ra viêm não ở các nước đang phát triển và vẫn gây ra một vài trường hợp viêm não ở Mỹ.

Viêm não nguyên phát có thể xảy ra do hậu quả của nhiễm virus Các loại được biết đến nhiều nhất

Phản ứng miễn dịch

Viêm não có thể xảy ra như một biến chứng miễn dịch thứ phát của một số bệnh nhiễm vi rút hoặc tiêm chủng. Phản ứng viêm mất myelin của não và tủy sống có thể xảy ra 1 đến 3 tuần sau (như viêm não tủy rải rác cấp tính) Hệ miễn dịch sẽ tấn công các kháng nguyên của hệ thần kinh trung ương giống với các protein của các tác nhân lây nhiễm. Nguyên nhân phổ biến nhất của biến chứng này thường là sởi, rubella, thủy đậu và quai bị (tất cả bây giờ không hay gặp vì tiêm chủng ở trẻ em đã phổ biến rộng rãi); vắc xin thủy đậu; vắc-xin virus sống (ví dụ, vắc-xin phòng bệnh dại trước đây được sản xuất từ não cừu hoặc dê). Ở Hoa Kỳ, hầu hết các trường hợp là do virus cúm A hoặc B, enterovirus, virus Epstein-Barr, viêm gan loại A hoặc B, hoặc HIV.

Bệnh não do các tự kháng thể đối với các protein màng tế bào thần kinh (ví dụ, các thụ thể N-metyl-d [NMDA] có thể biểu hiện giống bệnh viêm não do virut.

Sinh lý bệnh

Trong viêm não cấp, phản ứng viêm và phù nề xảy ra ở các khu vực bị nhiễm khuẩn trong toàn bộ bán cầu não, thân não, tiểu não, và đôi khi, cả tủy sống. Xuất huyết dạng chấm có thể biểu hiện ở những bệnh nhiễm trùng nặng. Sự xâm nhập trực tiếp của virut tới não thường gây tổn hại cho các nơ-ron, đôi khi tạo ra các thể vùi có thể nhìn thấy trên kính hiển vi. Nhiễm trùng nặng, đặc biệt là viêm não HSV không được điều trị, có thể gây hoại tử xuất huyết não.

Viêm não tủy rải rác cấp tính được đặc trưng bởi nhiều ổ mất myelin quanh tĩnh mạch và không có virus trong não.

Triệu chứng cơ năng và thực thể

Các triệu chứng bao gồm sốt, đau đầu và thay đổi trạng thái tâm thần, thường kèm theo các cơn co giật và thiếu sót thần kinh khu trú. Tiền triệu bệnh đường tiêu hóa hoặc đường hô hấp có thể xuất hiện trước những triệu chứng này. Các dấu hiệu màng não thường nhẹ và ít nổi bật hơn các biểu hiện khác.

Trạng thái động kinh, nhất là trạng thái động kinh co giật, hoặc hôn mê gợi ý viêm não nặng và tiên lượng xấu.

Các cơn động kinh khứu giác, biểu hiện dưới dạng cơn aura khứu giác như luồng hơi mùi hôi (trứng thối, thịt cháy), cho thấy sự ảnh hưởng tới thùy thái dương và gợi ý viêm não HSV.

Chẩn đoán

  • CHT

  • Xét nghiệm DNT

Cần nghi ngờ viêm não ở những bệnh nhân có những thay đổi không thể giải thích về tình trạng tinh thần. Biểu hiện lâm sàng và chẩn đoán phân biệt có thể gợi ý các xét nghiệm chẩn đoán nhất định, nhưng chụp CHT và phân tích DNT (bao gồm PCR tìm HSV và các virus khác) thường được thực hiện, kèm theo các xét nghiệm khác (ví dụ xét nghiệm huyết thanh học) để xác định virut gây bệnh. Mặc dù làm nhiều xét nghiệm, nhưng nhiều trường hợp viêm não vẫn chưa rõ nguyên nhân.

CHT

CHT có tiêm thuốc đối quang từ rất nhậy đối với viêm não HSV giai đoạn sớm, có hình ảnh phù nề vùng trán mắt và vùng thái dương, những khu vực thường bị nhiễm HSV. CHT cho thấy hình ảnh mất myelin trong bệnh não chất trắng đa ổ tiến triển và có thể cho thấy các bất thường khu vực hạch nền và đồi thị trong viêm não do vi rút West Nile và viêm não ngựa miền đông. CHT cũng có thể loại trừ các tổn thương có biểu hiện giống bệnh viêm não vi-rút (ví dụ, áp xe não, huyết khối xoang tĩnh mạch dọc).

CLVT ít nhạy hơn CHT đối với viêm não HSV nhưng có thể hữu ích vì phim này luôn sẵn có và có thể loại trừ các bệnh lý có thể gây nguy hiểm nhiều khi chọc dò thắt lưng (ví dụ: tổn thương gây choán chỗ, tràn dịch não, phù não).

xét nghiệm DNT

Nếu có viêm não thì DNT (xem Chọc dò tủy sống) sẽ đặc trưng bởi tăng tế bào lympho, glucose bình thường, protein tăng nhẹ và không có các mầm bệnh sau khi nhuộm Gram và nuôi cấy (tương tự như DNT trong viêm màng não vô khuẩn). Có thể tăng tế bào là đa nhân trong nhiễm trùng nặng. Các bất thường của CSF có thể không tiến triển đến 8-24 giờ sau khi xuất hiện triệu chứng. Hoại tử xuất huyết có thể làm hồng cầu xuất hiện trong DNT và tăng protein. Nồng độ glucose trong DNT có thể thấp khi nguyên nhân gây bệnh là virut varicella-zoster hoặc virut viêm màng não tăng lympho.

Xét nghiệm PCR DNT là xét nghiệm chẩn đoán được lựa chọn đối với HSV-1, HSV-2, virus varicella-zoster, cytomegalovirus, enteroviruses và virus JC. PCR đối với HSV trong DNT đặc biệt nhạy và đặc hiệu. Tuy nhiên, kết quả không thể có nhanh chóng được và dù có những tiến bộ trong công nghệ, các kết quả âm tính giả và dương tính giả có thể vẫn xảy ra do nhiều điều kiện khác nhau; không phải tất cả đều là lỗi kỹ thuật (ví dụ, máu trong một DNT do chọc bị chạm ven nhẹ có thể ức chế bước khuếch đại của PCR). Kết quả âm tính giả có thể xảy ra sớm trong viêm não HSV-1; trong những trường hợp như vậy, cần phải làm lại từ 48 đến 72 giờ.

Enteroviruses có thể phát triển trong môi trường nuôi cấy DNT nhưng hầu hết các virut khác không được. Vì lý do này, nuôi cấy virus trong DNT hiếm khi được sử dụng để chẩn đoán.

Các bảng chuẩn độ IgM của DNT thường hữu ích để chẩn đoán nhiễm trùng cấp tính, đặc biệt là bệnh viêm não West Nile. Đối với loại bệnh này, các xét nghiệm này đáng tin cậy hơn so với PCR. Các bảng chuẩn độ IgG và IgM của DNT có thể nhạy hơn PCR đối với bệnh viêm não do virus varicella-zoster. Các xét nghiệm huyết thanh học giai đoạn cấp tính và giai đoạn hồi phục của DNT và máu phải được thực hiện cách nhau vài tuần; Các xét nghiệm này có thể phát hiện sự gia tăng của các nồng độ kháng thể virus đối với một số bệnh nhiễm virut nhất định.

Sinh thiết não

Sinh thiết não có thể được chỉ định cho những bệnh nhân

  • Đang xấu đi

  • Đáp ứng kém với điều trị bằng acyclovir hay thuốc chống vi khuẩn khác

  • Có thương tổn vẫn chưa chẩn đoán được

Tuy nhiên, sinh thiết não có độ chính xác thấp trừ khi đích sinh thiết là một bất thường nhìn thấy trên CHT hoặc CLVT.

Tiên lượng

Quá trình hồi phục sau viêm não vi-rút có thể mất một thời gian rất dài. Tỷ lệ tử vong thay đổi theo nguyên nhân, nhưng mức độ nghiêm trọng của dịch bệnh do cùng một loại virus cũng thay đỗi trong các năm khác nhau. Thiếu sót thần kinh thường gặp ở những bệnh nhân sống sót sau nhiễm trùng nặng.

Điều trị

  • Chăm sóc hỗ trợ

  • Acyclovir đối với HSV hoặc viêm não vi rút varicella-zoster

Liệu pháp hỗ trợ đối với bệnh viêm não bao gồm điều trị sốt, mất nước, rối loạn điện giải, và động kinh. Cần được duy trì tình trạng đẳng tích.

Cho đến khi loại trừ được viêm não do virus HSV và varicella-zoster, nên bắt đầu ngay acyclovir 10 mg / kg IV mỗi 8 giờ và liên tục trong 14 ngày hoặc cho đến khi loại trừ được nhiễm vi khuẩn Acyclovir tương đối không độc hại nhưng có thể gây bất thường chức năng gan, ức chế tủy xương, và suy thận thoáng qua. Truyền acyclovir tĩnh mạch chậm trong vòng hơn 1 giờ với lượng nước phù hơp giúp ngăn ngừa độc tính trên thận.

Bởi vì rất khó loại trừ nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương do vi khuẩn khi bệnh nhân biểu hiện bệnh nghiêm trọng, điều trị kháng sinh theo kinh nghiệm cho đến khi nào viêm màng não vi khuẩn được loại trừ.

Nếu viêm não do phản ứng miễn dịch, điều trị có thể bao gồm corticosteroid (prednisone hoặc methylprednisolone) và globulin miễn dịch trong huyết tương hoặc trao đổi chất hoặc globulin miễn dịch.

Những điểm chính

  • Virus gây ra dịch bệnh hoặc nhiễm trùng lẻ tẻ có thể xâm nhập và lây nhiễm vào nhu mô não (gây ra viêm não) và / hoặc gây ra sự thoái hoá viêm nhiễm sau nhiễm trùng (viêm não tủy não rải rác cấp tính).

  • Viêm não gây ra sốt, đau đầu, và tình trạng tinh thần thay đổi, thường kèm theo cơn co giật và dấu hiệu thần kinh khu trú.

  • Chụp CHT có tiêm thuốc cản quang và xét nghiệm DNT.

  • Cho đến khi loại trừ được viêm não virus HSV và vi rút varicella-zoster, phải điều trị ngay với acyclovir và liên tục trong 14 ngày hoặc cho đến khi loại trừ tình trạng nhiễm các loại vi rút.

Các chuyên gia đọc thêm

Cũng quan tâm

TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI

TRÊN CÙNG