MSD Manual

Hãy xác nhận rằng quý vị là chuyên gia chăm sóc sức khỏe

Đang tải

Thoát vị nhân tủy

(thoát vị, rách, lồi đĩa đệm cột sống)

Theo

Michael Rubin

, MDCM, Weill Cornell Medical College

Xem lại/Duyệt lại toàn bộ lần cuối Thg9 2016| Sửa đổi nội dung lần cuối cùng Thg9 2016
Nguồn chủ đề

Thoát vị nhân đĩa đêm là sự lồi nhân đĩa đêm qua 1 chỗ rách trên mô xơ xung quanh đĩa đệm. Rách gây đau; khi nhân đĩa chạm đến các rễ thần kinh xung quanh sẽ gây các biểu hiện rễ thần kinh theo theo tiết đoạn tủy, với các biểu hiện liệt và yếu cơ trong vùng phân bố của rễ thần kinh bị ảnh hưởng. Chẩn đoán thường bằng MRI hoặc CT. Đối với các trường hợp nhẹ, điều trị thuốc giảm đau nếu cần. Ít khi chỉ định nghỉ ngơi tại giường. Phẫu thuật cấp cứu hoặc mổ phiên (ví dụ, phẫu thuật cắt bỏ đĩa đệm) đối với những bệnh nhân có khiếm khuyết thần kinh trầm trọng hoặc tiến triển, đau dai dẳng, hoặc rối loạn chức năng cơ tròn.

Các đốt sống được phân cách bằng đĩa sụn bao gồm vòng xơ ở vỏ ngoài bao quanh chất mềm được gọi là nhân đệm. Khi các thay đổi thoái hoá (có hoặc không có chấn thương) dẫn đến sự chồi hoặc thoát nhân qua bao xơ ở vùng thắt lưng cùng hoặc cổ hoặc cổ, hạt nhân được di chuyển về phía sau hoặc phía bên trong khoang ngoài màng cứng.

Bệnh rễ thần kinh xảy ra khi nhân đĩa đệm thoát vị chèn ép hoặc kích thích các rễ thần kinh. Thoát ra phía sau có thể chèn ép tủy hoặc đuôi ngựa, đặc biệt là ở hẹp ống sống bẩm sinh hẹp ống sống). Ở vùng thắt lưng, > 80% các rách đĩa đệm ảnh hưởng đến rễ L5 hoặc S1; ở vùng cổ C6 và C7 thường bị ảnh hưởng nhất.

Thường gặp thoát vị đĩa đệm.

Triệu chứng cơ năng và thực thể

Thoát vị đĩa đệm thường không gây triệu chứng, hoặc chúng có thể gây ra các triệu chứng cơ năng và thực tại vùng phân bố của rễ thần kinh bị ảnh hưởng. Đau thường tiến triển đột ngột, và đau lưng thường giảm khi nghỉ ngơi. Ngược lại, đau rễ thần kinh gây ra bởi khối u ngoài màng cứng hoặc áp xe khởi phát âm thầm hơn, và đau tăng khi nghỉ.

Ở những bệnh nhân thoát vị thắt lưng cùng, tư thế duỗi thẳng chân làm căng rễ thần kinh thắt lưng thấp hơn và làm đau thắt lưng hoặc chân ( hai bên nếu là thoát vị trung tâm); duỗi thẳng gối trong khi ngồi cũng gây ra đau.

Thoát vị đĩa đệm cột sống cổ gây đau khi gập hoặc nghiêng cổ. Chèn ép tủy cổ mạn tính có biểu hiện liệt cứng chi dưới và nếu cấp tính, gây liệt tứ chi.

Chèn ép vùng đuôi ngựa thường dẫn đến bí tiểu hoặc tiểu mất tự chủ do mất chức năng cơ tròn.

Chẩn đoán

  • MRI hoặc CT

MRI hoặc CT có thể xác định nguyên nhân và xác định chính xác vị trí tổn thương. Hiếm khi (khi có chống chỉ địnhvới MRI và CT không chẩn đoán được), cần phải chụp CT cản quang. Xét nghiệm điện học chẩn đoán có thể giúp xác định rễ có liên quan.

Do thoát vị đĩa đệm không có triệu chứng là phổ biến, bác sĩ lâm sàng phải xem xét cẩn thận tương quan giữa các triệu chứng với các bất thường trên MRI trước khi cân nhắc các thủ thuật xâm lấn.

Điều trị

  • Điều trị bảo tồn trước tiên

  • Làm các thủ thuật xâm lấn nếu khiếm khuyết thần kinh tiến triển hoặc nặng

  • Đánh giá phẫu thuật ngay nếu có chèn ép tủy

Do đĩa đệm thoát vị khô đi và co lại theo thời gian, các triệu chứng có xu hướng giảm bất kể có điều trị hay không. Có tới 85% bệnh nhân bị đau lưng - bất kể nguyên nhân gì - phục hồi mà không cần phẫu thuật trong vòng 6 tuần.

Điều trị bảo tồn

Điều trị thoát vị đĩa đệm nên bảo tồn, trừ khi khiếm khuyết thần kinh tiến triển hoặc nặng. Tránh hoạt động thể lực mạnh hoặc nặng, nhưng được phép vận động và hoạt động nhẹ (ví dụ, nâng vật < 2,5 đến 5 kg [ 5 đến 10 lb] đúng kỹ thuật); chống chỉ định kéo dài thời gian nghỉ ngơi trên giường (kể cả khi kéo giãn).

Sử dụng acetaminophen, NSAIDs, hoặc các thuốc giảm đau khác khi cần thiết. Nếu các triệu chứng không giảm với thuốc giảm đau không opioid, dùng corticosteroid đường toàn thân hoặc tiêm ngoài màng cứng; tuy nhiên, giảm đau có xu hướng khiêm tốn và tạm thời. Có thể dùng Methylprednisolone, giảm dần trong vòng 6 ngày, bắt đầu với uống 24 mg/ngày và giảm 4 mg mỗi ngày.

Vật lý trị liệu và tập luyện tại nhà có thể cải thiện tư thế và cơ lực lưng và do đó làm giảm các vận động cột sống gây kích thích hoặc ép rễ thần kinh.

Thủ thuật xâm lấn

Cân nhắc làm các thuật xâm lấn nếu

  • Bệnh lý rễ thắt lưng dẫn đến khiếm khuyết thần kinh dai dẳng hoặc xấu đi, đặc biệt là những triệu chứng khách quan (ví dụ, yếu, giảm phản xạ).

  • Bệnh nhân có đau rễ thần kinh nghiêm trọng kháng trị hoặc giảm cảm giác.

Thường chọn phẫu thuật loại bỏ nhân đĩa điệm thoát vị và loại bỏ cung sau cột sống. Các phương pháp tiếp cận qua da để loại bỏ đĩa đệm phồng vẫn đang được đánh giá.

Không khuyến cáo loại bỏ phần đĩa đệm thoát vị bằng tiêm tại chỗ enzym chymopapain.

Đánh giá phẫu thuật ngay lập tức các tổn thương chèn ép tủy sống cấp tính hoặc hội chứng đuôi ngựa (ví dụ, gây bí tiểu hoặc tiểu không tự chủ)xem Chèn ép tủy : Chẩn đoán).

Nếu bệnh lý rễ cột sống cổ dẫn đến dấu hiệu của chèn ép tủy sống, phẫu thuật giải ép ngay lập tức; nếu không, tiến hành mổ phiên khi các phương pháp điều trị khác không có hiệu quả.

Những điểm chính

  • Thoát vị đĩa đệm thường gặp và thường ảnh hưởng đến rễ thần kinh ở C6, C7, L5, hoặc S1.

  • Nghi ngờ thoát vị đĩa đệm hơn là u ngoài màng cứng hay áp xe nếu các triệu chứng xuất hiện đột ngột và đau lưng giảm khi nghỉ ngơi.

  • Khuyến cáo thuốc giảm đau, hoạt động nhẹ theo sức chịu đựng, và các bài tập để cải thiện tư thế và cơ lực; tuy nhiên, cân nhắc các biện pháp can thiệp xâm lấn nếu đau hoặc khiếm khuyết thần kinh nặng hoặc trầm trọng hơn

Các chuyên gia đọc thêm

Cũng quan tâm

TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI

TRÊN CÙNG